Kết quả điều trị lõm ngực bẩm sinh bằng phương pháp nuss cải tiến tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

197 bệnh nhân được phẫu thuật bằng phương

pháp Nuss cải tiến sử dụng đường vào nội soi và

luồn thanh dẫn từ bên trái có: Tuổi trung bình

15,51±2,99. Nam chiếm 85,3%, nữ chiếm14,7%.

Chỉ số Haller trung bình 3,697±0,792, Đặt 1

thanh chiếm 98,5%, 2 thanh chiếm 1,5%. Thời

gian mổ trung bình 45,48±13,2 phút. Thời gian

nằm viện sau mổ trung bình 5,32±2,38 ngày. Còn

tồn dư khí sau mổ: 02 trường hợp. Biến chứng

sau mổ: 01 trường hợp. Không có trường hợp nào

chảy máu trong và sau mổ, không có tử vong.

Phẫu thuật Nuss cải tiến có nội soi hỗ trợ với

đường tiếp cận vào lồng ngực từ bên trái điều trị

bệnh lõm ngực bẩm sinh là phương pháp hiệu

quả, an toàn và ít biến chứng

pdf 5 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị lõm ngực bẩm sinh bằng phương pháp nuss cải tiến tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị lõm ngực bẩm sinh bằng phương pháp nuss cải tiến tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức

Kết quả điều trị lõm ngực bẩm sinh bằng phương pháp nuss cải tiến tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC BẨM SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUSS CẢI TIẾN TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 5 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC BẨM SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUSS 
CẢI TIẾN TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Vũ Văn Bộ*, Phạm Hữu Lư** 
TÓM TẮT 
197 bệnh nhân được phẫu thuật bằng phương 
pháp Nuss cải tiến sử dụng đường vào nội soi và 
luồn thanh dẫn từ bên trái có: Tuổi trung bình 
15,51±2,99. Nam chiếm 85,3%, nữ chiếm14,7%. 
Chỉ số Haller trung bình 3,697±0,792, Đặt 1 
thanh chiếm 98,5%, 2 thanh chiếm 1,5%. Thời 
gian mổ trung bình 45,48±13,2 phút. Thời gian 
nằm viện sau mổ trung bình 5,32±2,38 ngày. Còn 
tồn dư khí sau mổ: 02 trường hợp. Biến chứng 
sau mổ: 01 trường hợp. Không có trường hợp nào 
chảy máu trong và sau mổ, không có tử vong. 
Phẫu thuật Nuss cải tiến có nội soi hỗ trợ với 
đường tiếp cận vào lồng ngực từ bên trái điều trị 
bệnh lõm ngực bẩm sinh là phương pháp hiệu 
quả, an toàn và ít biến chứng. 
Từ khóa: Lõm ngực bẩm sinh, phương 
pháp Nuss trái qua phải, Việt Đức. 
RESULTS OF TREATING PECTUS 
EXCAVATUM BY THE MODIFY 
NUSS PROCEDURE AT VIET DUC 
UNIVERSITY HOSPITAL 
SUMMARY 
197 patients underwent the modify Nuss 
procedure using endoscopic access and a left-
hand guide to the left: Average age 15.51 ± 2.99. 
Male accounted for 85.3%, female accounted for 
14.7%. Average Haller index 3,697 ± 0,792, 
placing 1 bar accounting for 98.5%, 2 bars 
accounting for 1.5%. The average surgery time is 
45.48 ± 13.2 minutes. The average length of 
hospital stay after surgery is 5.32 ± 2.38 days. 
Residual air remains after surgery: 02 cases. 
Postoperative complications: 01 case. There were 
no cases of bleeding during and after surgery, no 
deaths. Modify Nuss procedure with 
approarching port from the left side of the chest 
cavity for treating pectus excavatum is an 
effective, safe and less complicated method. 
Keywords: Pectus Excavatum, left-right 
Nuss method, Viet Duc.* 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phẫu thuật điều trị lõm ngực bẩm sinh (LNBS) 
được Donal Nuss đề xuất năm 1998 sau 10 năm 
kinh nghiệm[1], đã được ứng dụng rộng rãi trên thế 
giới kết hợp với nội soi lồng ngực hộ trợ chủ yếu từ 
phải qua trái[2]. Tuy nhiên các nghiên cứu cũng 
đưa ra các biến chứng có thể sảy ra liên quan tới 
phẫu thuật như: Tràn khí màng phổi, tổn thương 
phổi, tổn thương tim, cơ hoành, trocar chọc vào 
gan phải, nhiễm trùng, dị ứng thanh đỡ, di lệch 
thanh...[3-4]. Ở Việt Nam phẫu thuật Nuss bắt đầu 
được thực hiện năm 2007 tại bệnh viện Chợ Rẫy 
dưới sự hỗ trợ từ phẫu thuật viên Hàn Quốc [5]. 
Tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức, phẫu thuật Nuss 
có nội soi hỗ trợ bắt đầu được triển khai từ năm 
2010[6] với đường tiếp cận khoang lồng ngực từ 
phải qua trái hoặc từ trái qua phải. Đến nay phẫu 
thuật theo phương Nuss cải tiến (sử dụng nội soi hỗ 
trợ và đườn tiếp cận khoang lồng ngực từ trái qua 
* BV Đa khoa Vĩnh Phúc 
** BV HN Việt Đức, Trường ĐH Y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Phạm Hữu Lư 
Ngày nhận bài: 01/07/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/07/2019 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 6 
phải) đã đi vào thường quy. Mục tiêu của nghiên 
cứu là nhận xét kết quả của phẫu thuật Nuss cải 
tiến điều trị bệnh lõm ngực bẩm sinh tại bệnh viện 
hữu nghị Việt Đức. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Bao gồm những bệnh nhân lõm ngực 
bẩm sinh được phẫu thuật bằng phương pháp 
Nuss cải tiến trong thời gian từ 2016 đến 2018 
(03 năm). Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt 
ngang hồi cứu. Các biến số nghiên cứu bao 
gồm các thông số trước, trong và sau mổ. Xử 
lý số liệu bằng phần mềm thống kê y học 
SPSS 20.0 
III. KẾT QUẢ 
Bảng 1: Phân bố về giới 
Giới n % 
Nam 168 85,3 
Nữ 29 14,7 
Tổng 197 100 
Nhận xét: Tỷ lệ nam chiếm nhiều hơn nữ giới. So với tác giả Ba Lan nam 79,1%, nữ 29,1%[7]. 
Với Lâm Văn Nút nam 80%, nữ 20%[5]. 
-Tuổi trung bình: 15,51±2,99(Từ 7 tới 24 tuổi ), Lâm văn Nút là 16,2±4(6 tới 28 tuổi)[5], các tác 
giả Ba Lan là 18,6±5,7( từ 7 tới 62 tuổi)[7]. 
- Chỉ Haller trung bình: 3,69±0,792 (2,19 tới 8,37), Lâm Văn Nút là 4,57±1,94(3,05 đến 19,3)[5]. 
Của tác giả Ba Lan là 3,7±1,4(2,6 đến 17,3)[7]. 
Bảng 2: Phân loại lõm ngực theo Park 
Thể lõm n % 
1A 131 66,5 
1B 36 18,3 
2A 20 10,2 
2B 10 5,1 
2C 0 0 
3 0 0 
Tổng 197 100 
Nhận xét: Bệnh nhân lõm ngực đồng tâm khu trú chiếm tỷ lệ cao. 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC BẨM SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUSS CẢI TIẾN TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 7 
Bảng 3: Hình thái của lõm trên lâm sàng 
Tính chất đối xứng của hố lõm N= 197 % 
Đối xứng 166 84,3 
Không đối xứng 31 15,7 
Tổng 197 100 
Nhận xét: Chủ yếu là lõm ngực đối xứng , so với các tác giả Ba Lan đối xứng là 66,1%, không đối 
xứng là 33,9% [7]. 
Bảng 4: Hình thái trên phim chụp cắt lớp điện toán 
Hình thái n % 
Xương ức cân đối 113 57,4 
Xương ức ghiêng phải 67 34 
Xương ức nghiêng trái 17 8,6 
Tổng 197 100 
Nhận xét: Xương ức cân đối chiếm tỷ lệ cao 57,4%. Xương ức xoắn vặn nghiêng phải là chủ yếu. 
Thời gian phẫu thuật trung bình: 45,48±13,2 phút( từ 20 tới 105 phút), Lâm Văn Nút là 91±31(40 
tới 320 phút), có nội soi là 122,1±78,7 phút [5]. Với tác giả Ba Lan là 51,5±18,6( 15 tới 200 phút) [7]. 
Bảng 5: Phân bố số thanh đỡ được đặt cho bệnh nhân 
Số thanh đỡ n % 
1 thanh 194 98,5 
2 thanh 3 1,5 
Tổng 197 100 
Nhận xét: Bệnh nhân chỉ cần đặt 01 thanh chiếm tỷ lệ cao 
- 100% bệnh nhân không có biến chứng trong mổ như: chảy máu trong và sau mổ, tổn thương 
phổi, cơ hoành, tổn thương gan. 
- 02 bệnh nhân tồn dư khí chiếm 1%. 
- 01 bệnh nhân có biến chứng tràn khí khoang màng phổi, phải đặt dẫn lưu khoang màng phổi 2 
bên chiếm 0,5%. 
- Số ngày nằm viện sau mổ trung bình: 5.32±2,38 ngày. Của Lâm Văn Nút là 8,4±2,1(4 tới 20 
ngày) [5]. Tác giả Ba Lan là 6,3±2(3 tới 20 ngày) [7] 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 8 
 III. BÀN LUẬN 
Theo phương pháp phẫu thuật Nuss kinh điển 
được Donal Nuss công bố 1998 là phẫu thuật ít 
xâm lấn luồn thanh dẫn từ phải qua trái không có 
nội soi hỗ trợ. Phương pháp này sau đó đã được 
phát triển ra nhiều nơi trên thế giới. Theo tiến 
trình phát triển của phương pháp này đã có một 
và thay đổi như thêm nội soi hỗ trợ, cách cố định 
thanh đỡ... nhưng bên dùng nội soi tiếp cận vào 
lồng ngực vẫn chủ yếu là từ phải qua trái. Mặc dù 
tỷ lệ thành công là rất cao (>90%)[8] nhưng các 
nghiên cứu cũng chỉ ra vẫn còn những biến chứng 
nghiêm trọng liên quan tới phẫu thuật cần phải 
có biện pháp giải quyết như: Tổn thương tim, 
phổi, cơ hoành, chọc trocar vào gan phải...[3]. 
Xuất phát từ lập luận trên chúng tôi tiến hành 
phẫu thuật Nuss có nội soi hỗ trợ vào lồng ngực 
từ bên trái bằng một đường rạch da nhỏ phía dưới 
khoang liên sườn đặt thanh dẫn khoảng 02 
khoang liên sườn (Phẫu thuật Nuss cải tiến: Sử 
dụng nội soi hỗ trợ và tiếp cận vào khoang lồng 
ngực từ bên trái). Chúng tôi chọn tiếp cận vào 
khoang lồng ngực do: Thứ nhất là giải phẫu của 
tim có đáy nằm chếch lên trên (diện tiếp xúc của 
tim chủ yếu nằm ở bên trái lồng ngực nên khi tiếp 
cận từ bên trái sẽ kiểm soát tốt hơn) và bên phải 
chủ yếu tạo nên bởi nhĩ phải thành mỏng; Thứ hai 
là đỉnh tim nằm chếch xuống dưới sang trái, mặt 
trước là thất trái cơ dày tạo với thành ngực trước 
một góc nhọn sẽ dễ dàng tạo đường hầm dưới 
xương ức và trước màng ngoài tim mà không có 
biến chứng. Hơn nữa, chúng tôi sử dụng banh 
hình tim tạo đường hầm trước khi dùng thanh 
hướng dẫn luồn qua đường hầm này nên rất an 
toàn và rõ ràng trong phẫu thuật. Thứ ba là khi 
bơm khí CO2 (áp lực 5mmHg) vào khoang màng 
phổi thì nhu mô phổi xẹp tốt hơn tạo dễ dàng cho 
việc luồn chỉ thép cố định thanh đỡ vào xương 
sườn. Do vậy khi vào lồng ngực từ bên trái có nội 
soi hỗ trợ sẽ giúp kiểm soát tim tốt hơn và không 
liên quan tới gan trong quá trình phẫu thuật [9]. 
Sử dụng hệ thống nội soi giúp quan sát tốt điểm 
vào và ra của thanh dẫn nên kiểm soát tốt vẫn đề 
chảy máu, kẹp vào phổi và đặc biệt là vấn đề tạo 
đường hầm qua mặt sau xương ức. Mặt khác, qua 
camera nội soi giúp cho vấn đề “đuổi khí” trong 
lồng ngực trước khi kết thúc phẫu thuật bằng cách 
quan sát trực tiếp sự giãn nở của nhu mô phổi và 
hỗ trợ luồn chỉ thép cố định thanh đỡ vào xương 
sườn. Cố định thanh đỡ bằng chỉ thép với xương 
sườn giúp tiết kiệm chi phí và vững chắc. 
Với phương pháp như trên kết quả đạt được 
của chúng tôi là như sau: Độ tuổi trung bình 
15,51±2,99 tuổi. 
Chỉ số Haller trung bình là 3,697±0,972. Thời 
gian phẫu thuật trung bình của chúng tôi 
45,48±13,2 phút. Có 02 bệnh nhân được ghi nhân 
có tồn dư khí CO2 sau mổ liên quan tới “đuổi 
khí” khoang màng phổi sau mổ, chỉ cần chọc hút 
bằng kim lấy thuốc chiếm 01%. Có 01 bệnh nhân 
gặp biến chứng tràn khí sau mổ cần đặt dẫn lưu 
khoang màng phổi hai bên nhưng không có kết 
quả do vỡ kén khí thùy trên phổi phải được chỉ 
định mổ nội soi cắt kén khí, bệnh nhân ổn định ra 
viện sau 35 ngày điều trị. Không có bệnh nhân 
nào bị chảy máu trong và sau mổ, không có bệnh 
nhân nào bị tổn thương phổi, cơ hoành hay gan. 
So sánh với nghiên cứu khác như Lâm văn Nút 
2014 trên 229 bệnh nhân ,thời gian phẫu thuật 
trung bình 91(phút), phẫu thuật có nội soi hỗ trợ 
là 08 ca thời gian trung bình là 122,1±78,7 phút, 
lượng máu mất trong mổ có 1 trường hợp 
1000ml, số ngày nằm viện trung bình 8,4(ngày), 
dẫn lưu khoang màng phổi trong lúc phẫu thuật là 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ LÕM NGỰC BẨM SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUSS CẢI TIẾN TẠI BV HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 9 
6,6%[5]. Với một nghiên cứu của nhóm tác giả 
tại Ba Lan công bố trên 1006 bệnh nhân năm 
2018 kéo dài từ 2002-2016 phẫu thuật theo 
phương pháp Nuss có nội soi hỗ trợ vào lồng 
ngực từ trái qua phải như sau: Độ tuổi trung bình 
18,6 tuổi (07 đến 62 tuổi). Thời gian phẫu thuật 
trung bình 51,5±18,6 phút (từ 18 tới 200 phút), 
biến chứng sau phẫu thuật phần lớn là không 
nghiêm trọng, thường gặp nhất là tràn khí màng 
phổi có 244 bệnh nhân được chẩn đoán, chỉ có 74 
bệnh nhân trong số đó phải can thiệp đặt 1 dẫn 
lưu là ổn định, số bệnh nhân còn lại không cần 
can thiệp gì, có 13 bệnh nhân chảy máu sau mổ 
07 bệnh nhân trong số đó cần dẫn lưu, 1 bệnh 
nhân phải truyền 01 dơn vị máu. Không có bệnh 
nhân nào chảy máu trong mổ phải đặt dẫn lưu[7]. 
IV. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật Nuss cải tiến có nội soi hỗ trợ với 
đường tiếp cận vào lồng ngực từ bên trái điều trị 
bệnh lõm ngực bẩm sinh là phương pháp hiệu 
quả, an toàn và ít biến chứng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. D. Nuss, R. E. Kelly, Jr., D. P. Croitoru và 
cộng sự (1998). A 10-year review of a minimally 
invasive technique for the correction of pectus 
excavatum. J Pediatr Surg, 33 (4), 545-552. 
2. Anthony J. Bufo và M. M. Stone (2001). 
Add chest thoracoscopy to Nuss Pectus 
Repairatum Repair. Pediatric Endoscopic & 
Creative Technology, 5 (2), 
3. C. Castellani, J. Schalamon, A. K. Saxena 
và cộng sự (2008). Early complications of the Nuss 
procedure for pectus excavatum: a prospective 
study. Pediatr Surg Int, 24 (6), 659-666. 
4. S. Choi và H. J. Park (2017). 
Complications after pectus excavatum repair 
using pectus bars in adolescents and adults: 
risk comparisons between age and technique 
groups. Interact Cardiovasc Thorac Surg, 25 
(4), 606-612. 
5. L. V. Nút (2008). Kỹ thuật can thiệp tối 
thiểu trong phẫu thuật bệnh lõm ngực. Tạp chí 
y học Việt Nam, Tổng hội y học Việt Nam, 
(352), 522-528. 
6. Nguyễn Hữu Ước, Ngô Gia Khánh và N. 
V. Trường (2012). So sánh điều trị lõm ngực bẩm 
sinh giữa mổ mở kinh điển và phẫu thuật Nuss tại 
bệnh việnViệt Đức. Phẫu thuật tim mạnh và lồng 
ngực Việt Nam, (2), 25-28. 
7. K. Pawlak, L. Gasiorowski, P. Gabryel và 
cộng sự (2018). Video-assisted-thoracoscopic 
surgery in left-to-right Nuss procedure for pectus 
excavatum for prevention of serious 
complications - technical aspects based on 1006 
patients. Wideochir Inne Tech Maloinwazyjne, 13 
(1), 95-101. 
8. D. Nuss, R. J. Obermeyer và R. E. Kelly 
(2016). Nuss bar procedure: past, present and 
future. Ann Cardiothorac Surg, 5 (5), 422-433. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_lom_nguc_bam_sinh_bang_phuong_phap_nuss_cai.pdf