Kết quả điều trị gãy kín xương gót bằng kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Quân Y 103

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa điều trị gãy kín

xương gót.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu

34 BN với 40 ổ gãy kín xương gót theo phân loại của Essex - Lopresti, được điều trị kết

hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Quân y 103 từ 03/2017 đến 09/2019.

Kết quả: 90% liền vết mổ kỳ đầu; 5,0% nhiễm khuẩn nông và 5,0 % hoại tử bờ

mép vết mổ: liền vết mổ kỳ hai. Kết quả nắn chỉnh sau mổ: 55% nắn chỉnh tốt, 27,5%

chấp nhận được, 17,5% nắn chỉnh chưa đạt yêu cầu. Đánh giá kết quả xa sau mổ ở 28

trường hợp, thấy: 100% liền xương ổ gãy. 26/28 trường hợp không có di lệch thứ phát,

hai ổ gãy góc Bohler giảm > 100 . Kết quả theo điểm AOFAS Ankle - hindfoot score:

37,5% kết quả tốt, 28,6% đạt khá, 25 % đạt trung bình, 10,7% đạt kết quả kém. Trung

bình điểm AOFAS Ankle – hindfoot là 82,96 ( từ 55 - 97). Các biến chứng muộn sau

phẫu thuật: 03 trường hợp nhiễm khuẩn sâu, 06 trường hợp tê bì bờ ngoài bàn chân.

pdf 8 trang phuongnguyen 640
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị gãy kín xương gót bằng kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Quân Y 103", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị gãy kín xương gót bằng kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Quân Y 103

Kết quả điều trị gãy kín xương gót bằng kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Quân Y 103
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
85
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN XƯƠNG GÓT 
BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG NẸP KHÓA 
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
 Đặng Hoàng Anh1, Lê Quang Đạo1, Nguyễn Đăng Long1,
 Phạm Đăng Ninh1, Nguyễn Đình Thành1, Bùi Tuấn Anh1 
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa điều trị gãy kín 
xương gót.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu 
34 BN với 40 ổ gãy kín xương gót theo phân loại của Essex - Lopresti, được điều trị kết 
hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Quân y 103 từ 03/2017 đến 09/2019.
Kết quả: 90% liền vết mổ kỳ đầu; 5,0% nhiễm khuẩn nông và 5,0 % hoại tử bờ 
mép vết mổ: liền vết mổ kỳ hai. Kết quả nắn chỉnh sau mổ: 55% nắn chỉnh tốt, 27,5% 
chấp nhận được, 17,5% nắn chỉnh chưa đạt yêu cầu. Đánh giá kết quả xa sau mổ ở 28 
trường hợp, thấy: 100% liền xương ổ gãy. 26/28 trường hợp không có di lệch thứ phát, 
hai ổ gãy góc Bohler giảm > 100 . Kết quả theo điểm AOFAS Ankle - hindfoot score: 
37,5% kết quả tốt, 28,6% đạt khá, 25 % đạt trung bình, 10,7% đạt kết quả kém. Trung 
bình điểm AOFAS Ankle – hindfoot là 82,96 ( từ 55 - 97). Các biến chứng muộn sau 
phẫu thuật: 03 trường hợp nhiễm khuẩn sâu, 06 trường hợp tê bì bờ ngoài bàn chân.
Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương gót bằng nẹp khoá là một lựa chọn điều trị 
phù hợp, với kết quả phục hồi chức năng khớp cổ chân sau mổ tốt cho các gãy xương 
gót phạm khớp.
Từ khóa: gãy xương gót, nẹp khóa xương gót.
RESULT OF TREATEMENT OF CLOSED CALCANEAL FRACTURE 
BY OSTEOSYNTHESIS WITH LOCKING PLATE
ABSTRACT
Objective: To evaluate result of osteosynthesis by locking calcaneal plate for 
closed calcaneus fracture.
Subjects & Methods: A prospective study of 34 patients with 40 closed 
1 Bệnh viện Quân y 103
Người phản hồi (Corresponding): Đặng Hoàng Anh ([email protected])
Ngày nhận bài: 29/4/2020, ngày phản biện: 8/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
86
calcanealfractures (follow by Essex - Lopresti’classification), were treated by locking 
calcaneal plate fixation at 103 Military Hospital from March 2017 to September 2019.
Results: 90% healing incision of the first period; 5% having superficial infection 
and 5% having necrosis at incision site healed of second period. Results of operative 
reduction: excellent in 55%, fair in 27,5%, and poor in 17,5% of the fractures. Evaluating 
for long – term resuls in 28 cases, we found that: Union was seen in 100% of cases, no 
secondary displacement; there were two cases of which Bohler’s angle decreased > 100 . 
According to the AOFAS Ankle–Hind foot score, results were excellent in 35.7 % of the 
patients, good in 28,6%, fair in 25.0%, and poor in 10.7% of patients. The mean AOFAS 
Ankle - hindfoot score was 82,96 (Range 55 - 97). Late postoperative complications: 03 
cases had deep infection, 06 cases had numbness on the lateral side of foot.
Conclusion: Osteosynthesis by locking calcaneal plate to treat intraarticular 
calcaneal fracture were accordant choice provided good results with good results of 
rehabilitation of ankle post-operation.
Key words: calcaneal fracture, locking calcaneal plate.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy xương gót là gãy xương hay 
gặp trong các xương tụ cốt cổ chân. Có 
khoảng 70% các trường hợp gãy xương 
gót là gãy phạm khớp [1-3]. Cơ chế chấn 
thương chủ yếu là do ngã cao theo chiều 
đứng dọc, thường có kèm theo lún xẹp 
thân đốt sống và gãy khung chậu [1,2,4].
Xương sên bị đẩy xuống xương 
gót bởi lực tải dọc trục tạo ra đường gãy 
chính chạy qua mặt khớp sau, chia xương 
gót thành mảnh gãy trước trong và mảnh 
gãy sau ngoài. Mảnh gãy mỏm chân đế 
sên vẫn được giữ tại chỗ do nó có các dây 
chằng rất mạnh chằng giữ. Mảnh gãy sau 
rất quan trọng vì nó chứa diện khớp sau. 
Essex – Lopresti đã mô tả các đường gãy 
phụ tạo ra kiểu gãy mỏ chim và kiểu gãy 
lún khớp. Đường gãy phụ nếu mở rộng ra 
lồi củ gót thì tạo ra kiểu gãy mỏ chim, nếu 
nó kết thúc ở sau diện khớp sau thì tạo ra 
kiểu gãy lún khớp [3,5].
Các phương pháp điều trị gãy 
xương gót gồm điều trị bảo tồn như: bó 
bột, nắn chỉnh và bó bột theo phương pháp 
Westhus, phương pháp của Bohler; phẫu 
thuật kết hợp xương (bằng nẹp vít thường, 
nẹp khóa) và phẫu thuật đóng cứng khớp 
sên gót. Mỗi phương pháp đều có những 
ưu nhược điểm khác nhau.
Điều trị không phẫu thuật các 
trường hợp gãy xương gót phạm khớp sẽ 
khó phục hồi hình thể giải phẫu của xương 
gót, thường dẫn đến biến dạng do sự mất 
tương quan bề mặt khớp [1-4], làm tăng bề 
rộng của gót, có thể làm ảnh hưởng đến độ 
trượt của gân mác bên [6-10]. Phẫu thuật 
đóng cứng khớp sên gót chủ yếu được sử 
dụng trong trường hợp kết xương thất bại. 
BN đau nhiều, hồi phục chức năng khớp 
cổ chân kém.
Phẫu thuật nắn chỉnh mở và cố 
định bên trong bằng nẹp khóa điều trị gãy 
xương gót được áp dụng từ 2002 ở các 
nước Âu, Mỹ và đã mang lại những kết 
quả rất đáng khích lệ.
Ở VN, đã có một số cơ sở CTCH 
tiến hành kết xương gót bằng nẹp vít nói 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
87
chung và nẹp khoá nói riêng và cũng đã 
thu được những kết quả khả quan. Chúng 
tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục 
tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu phẫu 
thuật kết hợp xương nẹp khóa điều trị gãy 
xương gót.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng lựa chọn trong nghiên 
cứu theo cách lấy mẫu thuận tiện, bao gồm 
18 BN gãy kín xương gót, được điều trị 
băng phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa 
trong thời gian từ 03/2017 đến 06/2018, 
tại Bệnh viện Quân y 103.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
BN từ 18 tuổi trở lên.
Chẩn đoán gãy kín xương gót 
phạm khớp sên gót sau theo phân loại gãy 
xương gót theo Essex -Lopresti.
BN và gia đình đồng ý phẫu thuật.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Gãy xương bệnh lý.
Gãy xương ở chi có các di chứng 
ảnh hưởng đến đánh giá kết quả.
BN không hợp tác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo 
dõi dọc, không nhóm chứng
2.2.1. Quy trình nghiên cứu
2.2.1.1.Quy trình hồi cứu
Lập danh sách BN.
Mượn Bệnh án, phim X-quang 
xương gót
Truy cứu bệnh án, thu thậpgiá trị 
các biến số nghiên cứu.
Khám kiểm tra, thu thập các dữ 
liệu đánh giá kết quả điều trị, kết quả 
phục hồi chức năng, các biến chứng và di 
chứng...
Phân tích, nhận xét.
2.2.1.2. Quy trình tiến cứu
Thăm khám đánh giá gãy xương 
gót và tình trạng phần mềm tại chỗ, các tổn 
thương liên quan, tình trạng toàn thân, các 
bệnh lý mạn tính.
Đánh giá, phân loại tổn thương 
gãy xương trên X-quang quy ước.
Chỉ định mổ kết xương nẹp khóa.
Tư vấn, giải thích về điều trị phẫu 
thuật để BN và thân nhân yên tâm.
Tiến hành phẫu thuật
Theo dõi, chăm sóc sau mổ.
Đánh giá kết quả nắn chỉnh, cố 
định ổ gãy trên X-quang sau mổ.
Đánh giá kết quả phục hồi chức 
năng, các biến chứng sau phẫu thuật
Phân tích, nhận xét.
2.2.2. Kỹ thuật kết hợp xương nẹp khóa
* Phương pháp vô cảm: Tất cả BN 
được vô cảm bằng tê tủy sống.
* Tiến hành phẫu thuật
BN nằm nghiêng trên bàn mổ, 
chân lành ở dưới, chân gãy ở trên. Ga rô 
1/3 giữa đùi.
Rạch da theo đường mổ mặt ngoài 
mở rộng tại mặt ngoài bàn chân. Đoạn 
ngang song song trên viền da gan chân.
Bộc lộ ổ gãy 
Nắn chỉnh ổ gãy: Kiểm tra trên 
C-Arm.
Cố định ổ gãy: Đặt nẹp, bắt các vít 
qua nẹp cố định ổ gãy xương gót.
Rửa sạch vết mổ, mở garo cầm 
máu bổ sung, đặt dẫn lưu. Khâu đóng vết 
mổ 3 lớp.
Sau mổ BN được cố định bột cẳng 
bàn chân, kê cao chân trên giá Braun.Thời 
gian cố định 4 - 8 tuần. Dùng kháng sinh 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
88
5 -7 ngày.
Tập vận động sớm các khớp tự do
2.2.3. Đánh giá nắn chỉnh, cố định ổ gãy
Đánh giá kết quả nắn chỉnh dựa 
vào các tham số X-quang sau mổ:
- Nắn chỉnh tốt (loại 1): Góc 
Böhler ≥ 250, góc Gissane có độ lớn 1200 - 
1450, mảnh lồi củ gót không di lệch hoặc di 
lệch không đáng kể, trục xương gót thẳng, 
mặt khớp sên gót sau không di lệch.
- Nắn chỉnh đạt yêu cầu (loại 2): 
Các trường hợp không đạt nắn chỉnh tốt, 
góc Böhler >100, trục xương gót thẳng, 
mặt khớp sên gót sau không di lệch.
- Nắn chỉnh chưa đạt yêu cầu (loại 
3) khi có một trong các yếu tố sau:
+ Góc Böhler <100.
+ Trục xương gót cong vẹo (vẹo 
trong >100; vẹo ngoài >200).
+ Có sự di lệch ở mặt khớp sên gót sau.
2.2.4. Đánh giá kết quả chức 
năng: Theo hệ thống AOFAS Ankle – 
Hindfoot score.
2.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm 
thống kê y học SPSS (version 20.0).
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Tuổi, giới
Tuổi trung bình của 34 BN là: 40,6 
tuổi (18 - 65 tuổi).
3.1.2. Nguyên nhân gãy xương 
(n = 34)
◦ Ngã cao: 30BN (88,2%).
◦ TNGT: 2 BN (5,9%). 
◦ Nguyên nhân khác: 2 BN (5,9%).
3.1.3. Đặc điểm gãy xương gót
3.1.3.1. Có 24 bệnh nhân gãy 
xương gót một bên, 10 bệnh nhân gãy 
xương gót hai bên, trong số này 6 bệnh 
nhân được mổ kết xương nẹp khóa cả hai 
bên, 04 BN kết xương một bên, bên còn lại 
được cố định bột cẳng bàn chân.
Tỉ lệ Ổ gãy chân P và ổ gãy chân 
trái là 22/18.
3.1.3.2. Độ lớn góc Böhler (n = 40)
Trung bình độ lớn góc Böhler 
trước mổ: - 0,180 (-80 ÷ -10 0).
3.1.3.3. Phân loại gãy xương gót phạm khớp theo Essex -Lopresti
Bảng 3.1: Phân loại theo Essex - Lopresti (n = 22)
Kiểu gãy Số trường hợp Tỷ lệ %
Hình lưỡi 12 30
Lún khớp 28 70
3.1.6. Các tổn thương kết hợp (n=40)
Loại tổn thương Số lượng Tỷ lệ %
Chấn thương cột sống 5 14,7
Gãy xương gót hai bên 10 29,4
Gãy xương bánh chè bên đối diện 1 2,9
Sai khớp hở khớp liên đốt 1 -2 ngón I 1 2,9
Gãy xương quay cùng bên 1 2,9
Không có tổn thương kết hợp 16 47,1
Tổng 34 100
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
89
3.2. Thời điểm phẫu thuật
3.3.1. Thời điểm mổ:
Thời điểm phẫu thuật sau chấn 
thương trung bình: 5,75 ngày (1 - 23).
3.3.2. Tình trạng phần mềm vùng gót
34/40 trường hợp (85%) tại thời 
điểm mổ, vùng gót đã giảm nề, mặt ngoài 
gót có các nếp nhăn da.
Các tổn thương khác đều đã được 
điều trị ổn định.
3.4. Đường mổ
100% BN nghiên cứu đều được 
phẫu thuật kết xương qua đường mổ mặt 
ngoài mở rộng.
Không BN nào được mổ bằng 
đường mổ mặt ngoài mở rộng kết hợp với 
một đường mổ khác.
Phương tiện kết hợp xương:
Loại nẹp khóa sử dụng: ◦ 36 nẹp 
khóa xương gót đa trục Interkus (IEC)
◦ 3 nẹp khóa Mikromed (Thành An).
3.5. Tập vận động sau mổ
100% BN tập vận động sớm sau mổ.
100% BN được hướng dẫn tập 
phục hồi biên độ vận động cổ - bàn chân 
sau khi bỏ nẹp cố định.
100% BN được dặn dò chỉ tập tỳ 
nén khi X - quang có can xương nối hai 
đầu gãy.
3.6. Kết quả điều trị
3.6.1. Kết quả gần
3.6.1.1. Liền vết mổ (n = 40)
† Liền kỳ đầu: 36 TH (90%).
† Liền kỳ hai: 4 TH (10%).
3.6.1.2. Biến chứng sớm (n = 22)
† Hoại tử bờ mép vết mổ: 2 TH 
(5%).
† Nhiễm khuẩn nông: 2 TH (5%).
3.6.1.3. Kết quả nắn chỉnh trên 
X-quang sau mổ
† Góc Böhler sau mổ: (n = 40)
◦ Góc Böhler có độ lớn trung bình: 
21,60 (1 ÷ 350).
† Phân loại gãy xương và kết quả nắn chỉnh:
Bảng 3.2: Phân loại gãy xương và kết quả nắn chỉnh (n = 22)
Kết quả nắn chỉnh
(+)
Phân loại theo
Essex -Lopresti
Kiểu gãy Loại 1 Loại 2 Loại 3
Hình lưỡi 8 2 2 12
Lún khớp 14 9 5 28
(+)
22 11
7 40
 33
(%)
55 27,5
17,5 100%
 72,5
3.6.2. Kết quả xa sau mổ
Chúng tôi đã khám kiểm tra được 
31/40 ổ gãy (77,5%). Chúng tôi đánh giá 
kết quả xa cho các trường hợp được theo 
dõi từ 9 tháng trở lên, gồm 28/31 trường 
hợp (90,3%).
3.6.2.1. Kết quả liền xương (n = 28)
† Kết quả liền xương: 
◦ Liền xương: 28TH (100%).
◦ Khớp giả: 0.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
90
3.6.2.2. Sự duy trì kết quả nắn 
chỉnh
† Độ lớn của góc Böhler: (n = 28).
◦ Độ lớn trung bình của góc 
Böhler: 19,80 (00 ÷ 320).
† Đánh giá kết quả nắn chỉnh tại 
thời điểm kiểm tra so với sau mổ
Bảng 3.3: Kết quả nắn chỉnh tại thời điểm kiểm tra so với sau mổ (n = 28)
Sau mổ
TĐ kiểm tra
Loại 1
Kết quả nắn chỉnh
(+) (%)
Loại 2 Loại 3
Kết quả 
nắn chỉnh
Loại 1 15 0 0 15 53,6
Loại 2 1 7 0 8 57,7
Loại 3 0 1 4 5 11,5
(+) 16 8 4 28 100
(%) 34,6 57,7 7,7 100
3.6.2.3. Di lệch thứ phát
Có 02 ổ gãy là giảm độ lớn góc Böhler trên 100 trên X-quang chụp xương gót 
nghiêng tại thời điểm kiểm tra so với X-quang chụp sau mổ.
3.6.2.4. Kết quả theo hệ thống điểm AOFAS Ankle – Hindfoot score:
Điểm AOFAS trung bình là 82,96 ( từ 55- 97)
Bảng 3.4 Kết quả AOFAS của nghiên cứu và các tác giả khác
Nghiên cứu hiện tại Jain S et al.,
Weber M
et al.,
Shanto-
sha et al.
Tốt 10 35,7% 38% 43,3%
Khá 8 28,6% 86% 46% 33,3%
Trung bình 7 25 7,7% 12% 10%
Kém 3 10,7 3,7% 4% 13,3%
4. BÀN LUẬN
Nắn chỉnh mở và kết hợp xương 
bên trong bên trong bằng nẹp khóa cho các 
trương hợp gãy xương gót phạm khớp di 
lệch giúp duy trì sự tương quan diện khớp 
và làm giảm tỷ lệ đau và thoái hoá khớp 
sên gót. Đường mổ mặt ngoài mở rộng 
hình chữ “L” bộc lộ rõ ràng các mảnh gãy 
và diện gãy, tạo thuận lợi cho nắn chỉnh 
xương gãy và đặt nẹp. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, tuổi trung bình là 40,6 tuổi 
(18 - 65 tuổi). Jain S. và cộng sự nghiên cứu 
ở 30 BN với tuổi trung bình là 31,6 (24-49) 
[12]. Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ ổ 
gãy chân phải và số lượng ổ gãy chân trái 
là 22/18. Nguyên nhân chấn thương phổ 
biến là ngã cao với 30 BN (88,2%), 02 BN 
là do TNGT, 02 BN do nguyên nhân khác. 
Zeman P. và cộng sự gặp nguyên nhân do 
ngã cao ở 27 BN (93,1%) [13], Jain S. và 
cộng sự là 21/30 BN [12], Pendse A. và 
cộng sự là 26/29 [3].
Phân loại gãy xương, chúng tôi 
gặp 28 (70%) BN gãy lún khớp, 04 (30%) 
BN gãy kiểu lưỡi. Pendse A. và cộng sự 
gặp 21/29 (70%) trường hợp gãy lún khớp 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
91
[3], Mostafa M.F. và cộng sự 12/18 ổ gãy 
lún khớp [5].
Thời điểm mổ trung bình 5,75 
ngày (1-23). Jain S. và cộng sự là 9,2 ngày 
[12], Zeman P. và cộng sự là 11,7 ngày 
[13].
Kết quả chức năng theo thang 
điểm AOFAS Ankle – Hindfoot score 
là: điểm trung bình là 82,96 (từ 48- 97) 
Trong dó 10/28 TH (35,7%) đạt kết quả 
tốt, 8/28 TH (28,6%) đạt kết quả khá, 2/18 
(11,1%) BN đạt kết quả trung bình , 2/18 
BN (11,1%) BN đạt kết quả kém. Kết quả 
AOFAS Ankle - Hindfoot score so sánh 
với các giả khác: trung bình 86,3 của Jain 
S et al, 70 của Ibrahim T et al. 
 Góc Bohler là góc quan trọng dự 
đoán kết quả gãy xương. Mất góc Bohler 
(bình thường có độ lớn 250 – 400) liên 
quan với kết quả kém và sự nắn chỉnh tốt 
sẽ mang lại kết quả phục hồi chức năng 
tốt. Trong nghiên cứu của chúng tôi, góc 
Bohler trước phẫu thuật giảm xuống với 
độ lớn trung bình là -0.180 (-80 ÷ - 100), 
sau phẫu thuật đã tăng lên đạt trung bình 
21,80 (3 ÷ 350). Sau 03 tháng thấy góc 
Bohler được phục hồi ở 22 bàn chân tương 
đương với các tác giả Haddad M. và cộng 
sự đã ghi nhận phục hồi góc Bohler ở 74% 
các trường hợp [14], Jain S. và cộng sự là 
86,6% [12].
Các biến chứng có thể gặp là: có 
03 trường hợp bị nhiễm khuẩn sâu, 06 TH 
tê bì bờ ngoài bàn chân. Jain S. và cộng 
sự gặp 3 trường hợp bị hoại tử vạt [12]. 
Weber và cộng sự cũng gặp 1 trường hợp 
bị toác vết mổ [11].
Hạn chế của nghiên cứu
Số lượng BN chưa nhiều và thời 
gian theo dõi ngắn. Cần có các nghiên 
cứu ngẫu nhiên đối chứng đa trung tâm 
với thời gian theo dõi dài hơn để thấy sự 
ưu việt của phẫu thuật kết hợp xương gót 
bằng nẹp khoá so với các nẹp xương gót 
thông thường. Nghiên cứu chỉ sử dụng X 
quang xương gót thường quy, không sử 
dụng hình ảnh CT scan nên còn hạn chế 
trong đánh giá toàn bộ tổn thương xương 
gót và khớp gót hộp.
5. KẾT LUẬN
Dựa trên kết quả thu được, phẫu 
thuật kết hợp xương gót bằng nẹp khoá là 
một lựa chọn điều trị phù hợp, với kết quả 
phục hồi chức năng khớp cổ chân sau mổ 
tốt cho các gãy xương gót phạm khớp di 
lệch. Nẹp khóa xương gót nên được coi 
là sự lựa chọn hàng đầu trong các phương 
tiện kết xương đối với gãy xương gót 
phạm khớp có di lệch.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Fitzgibbons TC, McMullen ST, 
Mormino MA. Fractures and dislocations 
of the calcaneus. In: Bucholz RW 
and Heckman JD Eds. Rockwoodand 
Green’s Factures in adults, Vol.3, 5th 
ed. Philadelphia: Lippincott Williams & 
Wilkins, 2001: 2133-79. 
2. Murphy GA. Fractures and 
dislocations of foot. In: Canale ST Ed. 
Campbell’s operative Orthopaedics, Vol.4, 
10th ed. Philadelphia: Mosby Inc., 2003: 
4231-83. 
3. Pendse A, Daveshwar RN, 
Bhatt J, Shivkumar. Outcome after 
open reduction and internal fixation of 
intraarticular fractures of the calcaneum 
without the useof bone grafts. Indian J 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
92
orthop. 2006;40:111-14. 
4. Ray makers JTFJ, Dekkers 
GHG, Brink PRG. Results after operative 
treatment of intra-articular calcaneal 
fractures with a minimum follow-up of 2 
years.Injury;1998:29(8):593-99. 
5. Mostafa MF, El-Adl G, 
Hassanin EY, Abdellatif MS. Surgical 
treatment of displaced intra-articular 
calcaneal fracture using a single small 
lateral approach. Strategies Trauma Limb 
Reconstr. 2010;5(2):87–95. 
6. Leung KS, Yuen KM, Chan 
WS. Operative treatment of displaced 
intra-articular fracture of the calcaneum. 
J Bone Joint Surg (Br). 1993;75:196-201. 
7. Sanders R, Fortin P, Diapasquale 
T, Walling A. Operative treatment in 120 
displaced calcaneal fractures: results using 
a prognostic computed tomography scan 
classification. Clin Orthop. 1993;290-5. 
8. Sanders R. Intra-articular 
fractures of the calcaneus: present state of 
the art.J Orthop Trauma. 1996;6:252-65. 
9. Crosby LA, Fitzgibbons TC. 
Open reduction and internal fixation of 
type II intra-articular calcaneus fractures. 
Foot Ankle Int. 1996;17:253-58. 
10. Laughlin RT, Carson 
JG, Calhoun JH. Displaced intra-
articular calcaneus fractures treated 
with the Galveston plate. Foot Ankle 
Int.1996;17:71-78. 
11. Weber M, Lehmann O, Sägesser 
D, Kraus F. Limited open reduction and 
internal [12]fixation of displaced intra-
articular fractures of the calcaneum. J 
Bone Joint Surg [Br]. 2008;90-B:1608-16.
12. Jain S, Jain AK, Kumar I. 
Outcome of open reduction and internal 
fixation of [13]intraarticular calcaneal 
fracture fixed with locking calcaneal 
plate. Chinese J of Traumatology. 
2013;16(6):355-60. 
 13. Zeman P, Zeman J, Matejka J, 
Koudela K. Long-term results of calcaneal 
fracture treatment by open reduction and 
internal fixation using a calcaneal locking 
compression plate from an extended lateral 
approach. Acta Chir Orthop Traumatol 
Cech. 2008;75(6):457-64. 
 14. Haddad, M, Horesh 
Z, Soudry M, Rosenberg N. Surgical 
Treatment of Calcaneal Comminuted 
Intrarticular Fractures: Long-Term Follow-
Up. Open Journal of Clinical Diagnostics. 
2014;4:117-22. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_gay_kin_xuong_got_bang_ket_hop_xuong_nep_kh.pdf