Kết quả điều trị các trường hợp ẩn tinh tại IVFAS, bệnh viện an sinh

mục đích: Tìm hiểu hiệu quả của phác

đồ điều trị các trường hợp ẩn tinh. Đối

tượng: 69 ca ẩn tinh điều trị TTTON tại

đơn vị Hỗ trợ sinh sản BV An Sinh. phương

pháp nghiên cứu: Hồi cứu, báo cáo loạt ca.

Kết quả: Tỷ lệ đủ tinh trùng để tiêm ICSI từ

mẫu tươi là 33,3%, tỷ lệ TESE không có tinh

trùng 10,5%. Trữ lạnh tinh trùng đảm bảo

đủ tinh trùng để thực hiện ICSI. Kết luận:

Nên trữ lạnh tinh trùng đối với tất cả các

trường hợp ẩn tinh

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị các trường hợp ẩn tinh tại IVFAS, bệnh viện an sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị các trường hợp ẩn tinh tại IVFAS, bệnh viện an sinh

Kết quả điều trị các trường hợp ẩn tinh tại IVFAS, bệnh viện an sinh
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
111
Vũ NhậT KhaNg, Lê VăN KháNh, VươNg ĐìNh hoàNg DũNg, hồ MạNh TườNg ; Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 111-116, 2013
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CÁC TRƯỜNG HợP ẨN TINH
TẠI IVFAS, BỆNH VIỆN AN SINH
Vũ Nhật Khang(1,2), Lê Văn Khánh(1), Vương Đình hoàng Dũng(1), hồ Mạnh Tường(1,3)
(1) IVFAS, Bệnh viện An Sinh
(2) IVF Mekong, Bệnh viện Phương Châu
(3) Trung tâm Nghiên cứu Di truyền & Sức khỏe Sinh sản-Khoa Y Đại học quốc gia Tp.HCM
tóm tắt
mục đích: Tìm hiểu hiệu quả của phác 
đồ điều trị các trường hợp ẩn tinh. Đối 
tượng: 69 ca ẩn tinh điều trị TTTON tại 
đơn vị Hỗ trợ sinh sản BV An Sinh. phương 
pháp nghiên cứu: Hồi cứu, báo cáo loạt ca. 
Kết quả: Tỷ lệ đủ tinh trùng để tiêm ICSI từ 
mẫu tươi là 33,3%, tỷ lệ TESE không có tinh 
trùng 10,5%. Trữ lạnh tinh trùng đảm bảo 
đủ tinh trùng để thực hiện ICSI. Kết luận: 
Nên trữ lạnh tinh trùng đối với tất cả các 
trường hợp ẩn tinh.
abStract
objective: To evaluate the efficacy of 
protocol for treatment for cryptozoospermia. 
Design: Retrospective study, Cae report. 
Settings: IVFAS. Patients: 69 caes 
cryptozoospermia undergoing ART in 
IVFAS. Results: The rate used freshly sperm 
33,3%, the procedure TESE rate not found 
sperm 10,5%. Frozen sperm is enough to 
ICSI. conclusion: Frozen spermatozoa 
should be done before ICSI attempts for 
cryptozoospermic patients
ĐẶt vấn Đề
Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn 
(ICSI) được báo cáo thành công lần đầu tiên 
vào năm 19921. Đây được xem là một cách 
mạng trong điều trị vô sinh nam. Với ICSI, 
người chồng có thể có con của chính mình 
dù bị bất thường tinh trùng nặng, kể cả ở 
một số trường hợp xuất tinh không có tinh 
trùng. Tinh trùng sử dụng trong ICSI có thể 
tinh trùng tươi từ tinh dịch, tinh trùng trữ 
lạnh hoặc tinh trùng từ tinh hoàn.
Cryptozoospermia là tình trạng không 
thấy tinh trùng trong mẫu tươi nhưng có 
vài tinh trùng trong cặn lắng ly tâm. Trong 
báo cáo này, chúng tôi dịch là “ẩn tinh”. Ở 
nam giới bị ẩn tinh, sự dao động của tinh 
trùng trong tinh dịch có thể dẫn đến khó 
khăn trong việc tìm kiếm đủ tinh trùng để 
thực hiện ICSI. Trong quá trình điều trị, các 
trường hợp ẩn tinh không tìm thấy tinh 
trùng trong tinh dịch vào ngày chọc hút 
trứng của người vợ thường phải thực hiện 
phẫu thuật lấy tinh trùng từ tinh hoàn (TESE) 
để lấy tinh trùng thực hiện ICSI. Tuy nhiên, 
thủ thuật TESE là một thủ thuật xâm lấn và 
có thể dẫn đến các biến chứng như chảy 
máu, viêm nhiễm, xơ hóa, teo tinh hoàn, 
tắc mạch, suy giảm androgen 2,3. Mặc dù các 
biến chứng trên thường được kiểm soát tốt 
4,5, nhưng nên hạn chế tối thiểu thực hiện 
TESE vì ngoài tai biến xảy ra sau thủ thuật 
còn có một số câu hỏi về hậu quả của trẻ 
sinh ra từ tinh trùng chưa trưởng thành từ 
TESE 6. Cho đến nay, những nghiên cứu về 
những đứa trẻ sinh ra từ tinh trùng TESE cho 
thấy trẻ phát triển bình thường 5,7,8. Ngoài 
ra, TESE cũng không đảm bảo chắc chắn là 
sẽ tìm được tinh trùng. Vì vậy, việc sử dụng 
tinh trùng từ tinh dịch là một chọn lựa khi 
có thể. Một biện pháp đơn giản để giảm 
việc phải thực hiện TESE là thực hiện trữ 
mẫu tinh trùng và trữ nhiều mẫu. 
Vũ NhậT KhaNg, Lê VăN KháNh, VươNg ĐìNh hoàNg DũNg, hồ MạNh TườNgnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
112
Hiện tại có rất ít số liệu về quản lý bệnh 
nhân ẩn tinh. Ở Việt Nam, chưa có nghiên 
cứu nào đánh giá kết quả điều trị cho các 
trường hợp này. Do đó, chúng tôi tiến hành 
hồi cứu này nhằm tìm hiểu hiệu quả của 
phác đồ điều trị các trường hợp ẩn tinh 
hiện nay. 
phƯơng phÁp nghiÊn cứu
tHiết kế ngHiên cứu: 
Hồi cứu, báo cáo loạt ca
Trong thời gian từ 6/2011 – 3/2012, có 69 
trường hợp ẩn tinh được điều trị tại IVFAS. Trong 
đó có 39 ca có thực hiện trữ lạnh tinh trùng, 30 
ca không thực hiện trữ lạnh tinh trùng.
pHương pHáp tiến HànH
Tất cả các hồ sơ bệnh nhân được xem xét 
và thu thập số liệu về quá trình chẩn đoán, 
điều trị và kết quả thụ tinh trong ống nghiệm 
(TTTON)
quy tRìnH Điều tRị ẩn tinH (iVFas)
Bệnh nhân nam đến khám hiếm muộn, làm 
tinh dịch đồ được chẩn đoán ẩn tinh.
Sau khi được chẩn đoán, bệnh nhân được 
thực hiện khám và đánh giá chi tiết về vô 
sinh: hỏi tiền sử, khám lâm sàng, đánh giá 
hormone sinh dục (FSH, Testosterone), ± 
nhiễm sắc thể đồ. Bệnh nhân được tư vấn và 
ký cam kết điều trị TTTON.
Trước khi bắt đầu làm TTTON, bệnh nhân 
được tư vấn trữ lạnh tinh trùng. Mẫu tinh 
dịch được trữ lạnh nếu tìm thấy tinh trùng 
di động trong cặn ly tâm. Số mẫu trữ đề 
nghị vào khoảng 2-3 mẫu. Mẫu tinh dịch 
sẽ được ly tâm nhằm loại bỏ bớt dịch, chỉ 
chừa lại khoảng 0,5-1ml tinh dịch. Sau đó 
trộn đều mẫu, nhỏ vào mẫu từng giọt môi 
trường trữ tinh trùng Sperm Freeze, lắc kỹ 
nhằm trộn đều môi trường trữ và tinh dịch. 
Tỷ lệ giữa môi trường trữ tinh trùng và tinh 
dịch là 1:1. Để ổn định môi trường trữ và 
tinh dịch trong 10 phút sau đó tiến hành trữ 
tinh trùng.
Sau đó, người vợ được kích thích buồng 
trứng bằng phác đồ dài hoặc GnRH đối vận. 
Theo dõi sự phát triển nang noãn được thực 
hiện bằng kết hợp siêu âm đầu dò âm đạo, xét 
nghiệm nội tiết LH, estradiol và progesterone. 
hCG được tiêm khi ít nhất có 3 nang đạt kích 
thước 17mm.
Chọc hút noãn được tiến hành vào 36 giờ 
sau khi tiêm hCG. 
Tinh trùng của người chồng lấy vào ngày 
chọc hút, quay ly tâm nếu thấy có tinh trùng 
trong cặn lắng, thì lọc cặn lắng tinh trùng qua 
lớp lọc Supra sperm 45% nhằm thu nhận tinh 
trùng. Sau đó rửa lại cặn tinh trùng bằng môi 
trường Sperm Preparation. Kiểm tra lại mẫu 
tinh trùng thu nhận được xem có đủ số lượng 
để sử dụng hay không. 
Nếu mẫu tinh trùng của người chồng 
vào ngày chọc hút không đủ số lượng hoặc 
không có tinh trùng để sử dụng thì tiến 
hành rã đông mẫu trữ tinh trùng đông lạnh 
trước đó. Quy trình lọc rửa mẫu rã tinh trùng 
như quy trình lọc rửa ẩn tinh bình thường.
Nếu sử dụng mẫu rã mà vẫn không đủ 
số lượng tinh trùng cần thiết, người chồng 
sẽ được thực hiện TESE. TESE được thực 
hiện dưới gây mê tĩnh mạch. Rạch da theo 
đường giữa bìu. Bộc lộ bao trắng và rạch 
bao trắng lấy mô tinh hoàn gởi phòng lab 
tìm tinh trùng. Qui trình lọc rửa mẫu tinh 
trùng như quy trình lọc rửa tinh trùng TESE 
bình thường.
Đối với các trường hợp không có tinh 
trùng trong mẫu tinh dịch ngày chọc hút, rã 
mẫu tinh trùng không đủ điều kiện để ICSI, 
TESE cũng không có tinh trùng thì xin tinh 
trùng từ ngân hàng tinh trùng là phương án 
cuối cùng đề nghị cho cặp vợ chồng. Nếu 
cặp vợ chồng đã xin được mẫu sẵn từ ngân 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
113
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 111-116, 2013
hàng tinh trùng, chúng tôi sử dụng tinh 
trùng từ ngân hàng với noãn tươi của người 
vợ. Trong trường hợp, cặp vợ chồng chưa xin 
được tinh trùng, noãn sẽ được đông lạnh. 
Việc điều trị tiếp theo được thực hiện khi 
xin được tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng, 
noãn sẽ được rã đông và thực hiện ICSI với 
tinh trùng xin được.
Phương pháp thụ tinh là tiêm tinh trùng 
vào bào tương noãn. Tất cả các trường hợp 
này đều được hỗ trợ hoạt hóa noãn sau khi 
ICSI. Chuyển phôi thực hiện 2 ngày sau chọc 
hút noãn, đánh giá phôi tốt khi phôi có 4-6 tế 
bào, các phôi bào không khác biệt nhiều, và 
tỷ lệ mảnh vỡ ≤ 10%. Hỗ trợ giai đoạn hoàng 
thể bằng cách phối hợp progesterone đường 
âm đạo với estradiol hay hCG 1000IU. Thử 
thai thực hiện vào 14 ngày sau khi chuyển 
phôi. Nếu bệnh nhân có thai, siêu âm xác 
nhận thai lâm sàng khi có phôi và hoạt động 
tim thai trong buồng tử cung vào 3 tuần sau 
ngày thử thai.
Kết QuẢ
Trong thời gian từ 6/2011 – 3/2012, có 69 
trường hợp ẩn tinh thực hiện ICSI tại An Sinh.
Tuổi chồng 35,25 ± 3,35
Fsh 18,50 ± 5,67
Testosterone 22,68 ± 5,45
Kích thước tinh hoàn 10 ± 2
Nguồn tinh trùng sử dụng Có trữ tinh trùng(41 ca)
Không trữ tinh trùng
(28 ca) Tổng
Mẫu tươi 14 9 23
Mẫu trữ 27 0 27
TEsE 0 19 19
Ngân hàng tinh trùng 0 2 2
Bảng 2. Nguồn tinh trùng sử dụng để ICSI ngày chọc hút
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
114
Tinh trùng tươi Tinh trùng tươi và trữ lạnh TESE NHTT
số chu kỳ 23 27 17 2
Tuổi vợ 33,60 ± 3,45 34,54 ± 2,54 37,54 ± 2,67 29,0
số trứng chọc hút được 10,22 ± 3,51 12,07 ± 3,52 11,12 ± 3,40 16,5
số trứng Mii 7,26 ± 3,01 8,74 ± 2,86 8,12 ± 2,78 12,0
Tinh trùng tươi Tinh trùng tươi và trữ lạnh TESE NHTT
số chu kỳ 23 27 17 2
số phôi tốt 2,7 ± 1,25 4,15 ± 1,87 3,59 ± 1,97 6,5
số phôi chuyển 3,96 ± 0,82 4,37 ± 0,629 4,00 ± 0,79 3,5
Thai lâm sàng 30,43% 33,33% 29,4% 50% (1/2)
Bảng 3. Đặc điểm chu kỳ điều trị
Bảng 4. Sự phát triển của phôi và tỷ lệ có thai
bàn luận
Ẩn tinh là những trường hợp xuất tinh có ít 
tinh trùng và sự hiện diện của tinh trùng trong 
tinh dịch đôi lúc không có hoặc có rất ít. Với đặc 
điểm này những cặp vợ chồng điều trị TTTON 
với phương pháp ICSI với tinh trùng lấy vào ngày 
chọc hút có thể có nguy cơ không đủ tinh trùng 
hoặc không có tinh trùng thực hiện ICSI. Khi đó 
phẫu thuật TESE sẽ được thực hiện nhằm tìm 
kiếm tinh trùng để thực hiện ICSI, tuy nhiên, một 
số trường hợp ẩn tinh thực hiện TESE vẫn không 
có tinh trùng và phải xin ngân hàng tinh trùng. Vì 
vậy, một biện pháp chủ động trong điều trị đối 
với các trường hợp này là trữ tinh trùng trước khi 
chọc hút trứng. Số lượng mẫu trữ tùy thuộc vào 
chất lượng tinh trùng của mỗi lần xuất tinh cũng 
như khả năng sống của tinh trùng trữ ở trung 
tâm của mình. Bên cạnh đó, việc lấy tinh trùng ở 
các lần trữ cũng giúp bác sĩ lâm sàng tiên lượng 
để giải thích các khả năng cho bệnh nhân và có 
các tình huống dự phòng trước khi điều trị.
Qua bảng 2, tỷ lệ sử dụng tinh trùng từ mẫu 
tươi là 33,3% (23/69), 39,1% (27/69) số bệnh nhân 
sử dụng mẫu tinh trùng tươi và tinh trùng trữ lạnh, 
số còn lại sử dụng TESE. Trong nhóm TESE có 2 
trường hợp sử dụng tinh trùng từ ngân hàng tinh 
trùng, vì TESE không có tinh trùng. Với kết quả trên, 
cho thấy đa số trường hợp ẩn tinh (66,7%) không 
đủ hoặc không có tinh trùng ở mẫu tươi để sử 
dụng vào ngày chọc hút trứng. Ở nhóm không có 
mẫu trữ tinh trùng, tỷ lệ thực hiện TESE là 67,8%, 
và nguy cơ phải xin trinh trùng từ ngân hàng 
tinh trùng là 7,1% (2/28). Như vậy, nếu không dự 
phòng bằng cách trữ tinh trùng thì nguy cơ không 
đủ tinh trùng để thực hiện vào ngày chọc hút rất 
cao, đôi khi phải đông lạnh noãn vì không có tinh 
trùng. Đối với nhóm có sẵn tinh trùng trữ lạnh thì 
không cần phải TESE hoặc sử dụng tinh trùng từ 
Vũ NhậT KhaNg, Lê VăN KháNh, VươNg ĐìNh hoàNg DũNg, hồ MạNh TườNg
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
115
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 111-116, 2013
NHTT. Các mẫu tinh trùng rã đông đều có đủ tinh 
trùng sống để thực hiện ICSI. Tỷ lệ TESE không có 
tinh trùng 10,5% (2/19 ca).
Đối với các trường hợp ẩn tinh phải thực hiện 
TESE, ngoài những biến chứng có thể gặp phải 
trong và sau phẫu thuật, việc tiên lượng TESE 
có đủ số lượng tinh trùng để ICSI cũng rất khó 
khăn. Việc theo dõi những trẻ sinh ra từ tinh 
trùng lấy từ tinh hoàn là bình thường nhưng 
thời gian theo dõi của nghiên cứu này quá ngắn 
để kết luận 7,8. Những nghiên cứu về trẻ sinh 
ra từ tinh trùng TESE vẫn còn tiếp tục và cần có 
những nghiên cứu bổ sung để đánh giá việc sử 
dụng tinh trùng chưa trưởng thành trong ICSI. 
Kết quả điều trị hiếm muộn khi sử dụng tinh 
trùng OAT nặng ở nam giới vẫn còn nhiều tranh 
cãi. 9 nhận thấy tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ có thai cao 
ở những trường hợp OAT nặng và ẩn tinh, kể cả 
ở những trường hợp không tinh trùng. Ngược 
lại, Strassburger và cộng sự (2000)10 cho rằng 
các trường hợp tinh trùng rất ít sẽ có tiên lượng 
rất xấu trong kết quả ICSI.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thụ tinh thấp 
ở các bệnh nhân ẩn tinh. Điều này có thể là do 
hình thái tinh trùng bất thường khi thực hiện 
ICSI, vì với số lượng rất ít việc tìm kiếm tinh trùng 
bình thường về mặt hình thái là một khó khăn. 
Để tăng tỷ lệ thụ tinh, tất cả các trường hợp ẩn 
tinh noãn đều được hỗ trợ hoạt hóa sau ICSI 
(AOA). Theo nghiên cứu của chúng tôi công bố 
gần đây, việc hỗ trợ hoạt hóa noãn được chứng 
minh là có hiệu quả cải thiện tỉ lệ thụ tinh và chất 
lượng phôi trong các trường hợp này 11. 
Trong nghiên cứu của hourvitz và cộng sự 
(1998)12 so sánh kết quả ICSI của hai nhóm tinh 
trùng từ tinh hoàn và tinh trùng tươi từ xuất tinh 
nhận thấy tỷ lệ trứng thụ tinh thấp hơn có ý nghĩa 
thống kê ở nhóm tinh trùng từ tinh hoàn (42% 
so với 55%), nhưng không có sự khác biệt mang 
ý nghĩa thống kê về số lượng phôi chuyển và số 
phôi giai đoạn phân chia, chất lượng phôi và tỷ lệ 
thai lâm sàng (22,5% ở nhóm TESE và 20% ở nhóm 
tinh trùng tươi). Kết quả này khác với chúng tôi, 
có thể do trong nghiên cứu này, nguồn tinh trùng 
sử dụng chỉ có thể là từ tinh hoàn hoặc từ xuất 
tinh, không có sự phối hợp tinh trùng trữ lạnh, 
tinh trùng phẫu thuật, tinh trùng xuất tinh như 
trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoài ra chúng 
tôi còn sử dụng AOA cho các trường hợp này.
Ở bảng 4, cả 3 nhóm tinh trùng có nguồn 
gốc khác nhau để thực hiện ICSI nhưng tỷ lệ 
thai lâm sàng là không khác biệt (lần lượt là 
30,43%; 33,33% và 29,4%). Trong 2 trường 
hợp sử dụng tinh trùng từ ngân hàng, có một 
trường hợp phải đông lạnh noãn do không có 
sẵn tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng. Trường 
hợp có thai từ xin tinh trùng từ ngân hàng là 
trường hợp sử dụng noãn đông lạnh.
Trữ tinh trùng trong các trường hợp ẩn tinh 
còn được lợi về mặt kinh phí, tâm lý của cả hai vợ 
chồng. Vì hiệu quả của trữ tinh trùng cũng như 
những lợi ích có được, cách xử trí này nên được 
xây dựng thành quy trình trong điều trị TTTON 
đối với các trường hợp ẩn tinh. Trong một số 
ít trường hợp hoàn toàn không tìm được tinh 
trùng, việc trữ lạnh noãn và điều trị tiếp tục khi 
xin được tinh trùng là một biện pháp khả thi. 
Hạn chế của đề tài là số lượng bệnh nhân 
còn ít do số đối tượng bị ẩn tinh cũng khá hiếm 
gặp trong dân số bình thường. Tuy nhiên, kết 
quả của nghiên cứu này có thể cung cấp cho 
bác sĩ lâm sàng hướng chọn lựa phù hợp nhất 
cho những trường hợp này. 
Một hạn chế khác của đề tài là không đánh giá 
được sợi thoi vô sắc của tinh trùng các trường hợp 
ẩn tinh. muratori và cộng sự (2005)13 nhận thấy 
sự phát triển ở từng giai đoạn khác nhau của tinh 
trùng sẽ sản xuất ra các chất oxi hóa (ROS) và ảnh 
hưởng đến sự phân mảnh DNA của tinh trùng, 
đặc biệt với những tinh trùng chưa trưởng thành 
cũng như các trường hợp ẩn tinh. Do đó, ở các 
trường hợp bất thường quá trình sinh tinh nặng, 
sẽ có một phần tinh trùng sử dụng cho ICSI chứa 
DNA bị tổn thương, và có khả năng thụ tinh thất 
bại, điều này có thể giải thích ở một số trường hợp 
thụ tinh kém của ẩn tinh. Cho tới thời điểm hiện 
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
116
tại, khó để kết luận rằng sử dụng tinh trùng tươi từ 
xuất tinh, tinh trùng từ tinh hoàn hay tinh trùng từ 
trữ lạnh, tinh trùng nào sẽ cho kết quả điều trị hỗ 
trợ sinh sản tốt hơn, cần nhiều số liệu và nghiên 
cứu lớn hơn để khẳng định vấn đề này.
Kết luận
Phác đồ điều trị hiện tại của chúng tôi cho 
các trường hợp ẩn tinh là khả thi và cho hiệu 
quả tốt. Việc trữ lạnh tinh trùng dự phòng nên 
được thực hiện cho các trường hợp ẩn tinh 
trước khi thực hiện IVF-ICSI để hạn chế việc 
thực hiện TESE hay xin tinh trùng.
Tài liệu Tham khảo
1. Palermo G, Joris H, Devroey P and 
Van Steirteghem AC (1992). Pregnancies 
after intracytoplasmic injection of single 
spermatozoon into an oocyte. Lancet 
340,17–18.
2. Schlegel PN, Su LM (1997). Physiological 
consequences of testicular sperm extraction. 
Hum Reprod; 12: 1688 – 1692.
3. Schill T, Bals-Pratsch M, Kupker W, 
Sandmann J, Johannisson R, Diedrich K 
(2003). Clinical and endocrine follow-up of 
patients after testicular sperm extraction. 
Fertil Steril; 79: 281 – 286.
4. Friedler S, Raziel A, Schachter M, 
Strassburger D, Bern O, Ron-El R (2002). 
Outcome of first and repeated testicular 
sperm extraction and ICSI in patients with 
non-obstructive azoospermia. Hum Reprod; 
17: 2356 – 2361.
5. Vernaeve V, Verheyen G, Goossens 
A, Van Steirteghem A, Devroey P, 
Tournaye H (2006). How successful is repeat 
testicular sperm extraction in patients with 
azoospermia? Hum Reprod; 21: 1551 – 1554
6. Golan, R., Copper, T.G., Oschry, Y. et al. 
(1996) Changes in chromatin condensation 
of human spermatozoa during epididymal 
transit as determined by flow cytometry. 
Hum. Reprod., 11: 1457 - 1462
7. Bonduelle M, Liebaers I, Deketelaere 
V, Derde MP, Camus M, Devroey P, Van 
Steirteghem A (2002). Neonatal data on a 
cohort of 2889 infants born after ICSI (1991 – 
1999) and of 2995 infants born after IVF (1983 
– 1999). Hum Reprod; 17: 671 – 694.
8. Bonduelle M, Wennerholm UB, Loft A, 
Tarlatzis BC, Peters C, Henriet S, Mau C, 
Victorin-Cederquist A, Van Steirteghem 
A, Balaska A, Emberson JR, Sutcliffle 
AG (2005). A multi-centre cohort study of 
the physical health of 5-year-old children 
conceived after intracytoplasmic sperm 
injection, in vitro fertilization and natural 
conception. Hum Reprod; 20: 413 – 419.
9. Nagy ZP, Liu J, Joris H, Verheyen G, 
Tournaye H, Camus M, Derde MC, Devroey 
P, Van Steirteghem AC. The results of 
intracytoplasmic sperm injection is not 
related to any of the three basic sperm 
parameters. Hum Reprod. 1995;10:1123-112
10. Strassburger D, Friedler S, Raziel 
A, Schachter M, Kasterstein E, Ron-el R. 
Very low sperm count affects the result of 
intracytoplasmic sperm injection. J Assist 
Reprod Genet. 2000;17:431- 436.
11. Nguyễn Thị Thu Lan, Mai Công Minh 
Tâm, Trương Thị Thanh Bình, Huỳnh Gia 
Bảo, Hà Thanh Quế, Phạm Thanh Xuân, Hồ 
Mạnh Tường. Hoạt hoá noãn bằng Calcium 
ionophore sau tiêm tinh trùng vào bào tương 
noãn. Thời sự y học 11/2011, số 66: 3-6.
12. Hourvitz A, Shulman A, Madjar 
I, Levron J, Levran D, Mashiach S, Dor J. 
In vitro fertilization treatment for severe 
male factor: a comparative study of 
intracytoplasmic sperm injection with 
testicular sperm extraction and with 
spermatozoa from ejaculate. J Assist 
Reprod Genet. 1998;15:386-389.
13. Muratori M, Maggi M, Spinelli S, 
Filimberti E, Forti G, Baldi E. Spontaneous 
DNA fragmentation in swim-up selected 
human spermatozoa during long term 
incubation. J Androl. 2003; 24:253–262.
Vũ NhậT KhaNg, Lê VăN KháNh, VươNg ĐìNh hoàNg DũNg, hồ MạNh TườNg; Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 111-116, 2013

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_cac_truong_hop_an_tinh_tai_ivfas_benh_vien.pdf