Kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân nhịp nhanh xoang không thích hợp

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân mắc nhịp nhanh xoang

không thích hợp. Kết quả cho thấy có 24 bệnh nhân (19 nữ, 5 nam, tuổi trung bình 38,0 ± 14,7) được chẩn đoán

nhịp xoang nhanh không thích hợp. Sau 1 tháng điều trị bằng Ivabradine 5mg ngày 2 lần, 95,8% bệnh nhân đạt

tần số tim mục tiêu < 90ck/ph="" trên="" holter="" điện="" tâm="" đồ="" với="" sự="" giảm="" đáng="" kể="" tần="" số="" tim="" trung="" bình="" 24="" giờ="" (76,8="" ±="">

chu kỳ/ phút so với 94,8 ± 4,9 chu kỳ/ phút, p < 0,001);="" tần="" số="" tim="" khi="" nằm="" (79,1="" ±="" 1,1="" chu="" kỳ/="" phút="" so="" với="" 106,1="" ±="">

chu kỳ/ phút, p < 0,001);="" khi="" đứng="" (87,3="" ±="" 14,3="" chu="" kỳ/="" phút="" so="" với="" 12,3="" ±="" 9,8="" chu="" kỳ/="" phút,="" p="">< 0,001).="" hầu="" hết="">

triệu chứng cũng giảm có ý nghĩa thống kê, trong đó 1,5% bệnh nhân hết triệu chứng. Như vậy, Ivabradine liều 5mg

ngày 2 lần giúp giảm tần số tim hiệu quả cũng như cải thiện triệu chứng ở hầu hết bệnh nhân sau 1 tháng điều trị

pdf 7 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân nhịp nhanh xoang không thích hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân nhịp nhanh xoang không thích hợp

Kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân nhịp nhanh xoang không thích hợp
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
152 TCNCYH 134 (10) - 2020
Tác giả liên hệ: Nguyễn Duy Thắng, 
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 10/10/2020
Ngày được chấp nhận: 25/11/2020
Nhịp nhanh xoang không thích hợp là hội 
chứng lâm sàng đặc trưng bởi tình trạng nhịp 
nhanh xoang không giải thích được bởi nhu cầu 
sinh lý, xuất hiện khi nghỉ, khi gắng sức nhẹ 
hoặc trong giai đoạn hồi phục sau gắng sức.1 
Bệnh gặp chủ yếu ở nữ giới, có thể từ 15 đến 
71 tuổi, ở khoảng 1,16% người trung niên.,3 
Cùng với những cải tiến trong kỹ thuật chẩn 
đoán, nhất là việc sử dụng thường quy hơn 
Holter điện tâm đồ 24 giờ, tần suất phát hiện 
bệnh đã tăng lên. Triệu chứng bệnh đa dạng, 
từ chỗ có thể không có triệu chứng gì cho tới 
hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, vã mồ hôi, 
mệt lả, thậm chí ngất. Bệnh tuy thường được 
coi là lành tính nhưng gần đây cũng đã có một 
số nghiên cứu cho thấy bệnh nhân mắc nhịp 
nhanh xoang không thích hợp có thể dẫn tới 
bệnh cơ tim, suy tim, xuất hiện ngay cả ở trẻ em 
cũng như người cao tuổi.4,5 Các thuốc chẹn thụ 
thể beta giao cảm, thuốc chẹn kênh calci nhóm 
nondihydropyridine trước kia thường được sử 
dụng nhưng hay gặp tác dụng phụ tụt huyết áp, 
do đó không còn được khuyến cáo sử dụng rộng 
rãi như trước.1,6 Gần đây, Ivabradine, là thuốc 
đầu tiên ức chế kênh “I-funny” hay kênh“If”, 
chịu trách nhiệm chính cho hoạt động tự động 
bình thường của nút xoang, đã được đưa vào 
sử dụng trong điều trị nhịp nhanh xoang không 
thích hợp và cho thấy hiệu quả đáng kể. Tại 
Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về nhịp 
nhanh xoang không thích hợp này cũng như 
tính an toàn và hiệu quả của việc điều trị bệnh 
lý này bằng ivabradine. Vì vậy chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều 
trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân nhịp nhanh 
xoang không thích hợp.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Bệnh nhân được chẩn đoán nhịp nhanh 
xoang không thích hợp tại Viện Tim mạch quốc 
gia Việt Nam – Bệnh viện Bạch Mai và Trung 
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG IVABRADINE 
Ở BỆNH NHÂN NHỊP NHANH XOANG KHÔNG THÍCH HỢP
Nguyễn Duy Thắng1, , Phan Đình Phong, Nguyễn Lân Hiếu1,2
1Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2Trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân mắc nhịp nhanh xoang 
không thích hợp. Kết quả cho thấy có 24 bệnh nhân (19 nữ, 5 nam, tuổi trung bình 38,0 ± 14,7) được chẩn đoán 
nhịp xoang nhanh không thích hợp. Sau 1 tháng điều trị bằng Ivabradine 5mg ngày 2 lần, 95,8% bệnh nhân đạt 
tần số tim mục tiêu < 90ck/ph trên Holter điện tâm đồ với sự giảm đáng kể tần số tim trung bình 24 giờ (76,8 ± 7,9 
chu kỳ/ phút so với 94,8 ± 4,9 chu kỳ/ phút, p < 0,001); tần số tim khi nằm (79,1 ± 1,1 chu kỳ/ phút so với 106,1 ± 7,5 
chu kỳ/ phút, p < 0,001); khi đứng (87,3 ± 14,3 chu kỳ/ phút so với 12,3 ± 9,8 chu kỳ/ phút, p < 0,001). Hầu hết các 
triệu chứng cũng giảm có ý nghĩa thống kê, trong đó 1,5% bệnh nhân hết triệu chứng. Như vậy, Ivabradine liều 5mg 
ngày 2 lần giúp giảm tần số tim hiệu quả cũng như cải thiện triệu chứng ở hầu hết bệnh nhân sau 1 tháng điều trị. 
Từ khóa: nhịp nhanh xoang không tích hợp, ivabradine
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
153TCNCYH 134 (10) - 2020
tâm Tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội 
trong thời gian từ 7/2017 đến 6/2018. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: những bệnh 
nhân được chẩn đoán Nhịp nhanh xoang không 
thích hợp (theo khuyến cáo của ACC/AHA/HRS 
2015 1): nhịp xoang với
Tần số tim lúc nghỉ > 100 ck/ph
Tần số tim trung bình/24 giờ > 90 ck/ph
Tiêu chuẩn loại trừ: 
Các trường hợp nhịp nhanh không phải là 
nhịp nhanh xoang.
Các bệnh lý gây nhịp xoang nhanh (thiếu 
máu, sốt, đau, suy tim, cường giáp, bệnh 
Cushing, u tuỷ thượng thận) hoặc bệnh nhân 
đang sử các thuốc làm tăng nhịp tim.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp 
không đối nhóm chứng, đánh giá kết quả trước 
và sau điều trị.
Cỡ mẫu nghiên cứu: 24 trường hợp nhịp 
nhanh xoang không thích hợp được đưa vào 
nghiên cứu. Chọn mẫu toàn bộ có chủ đích tại 
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong thời gian từ 
7/2017 đến 6/2018.
Các biến số nghiên cứu chính:
Tần số tim khi nằm, tần số tim khi đứng: đo 
bằng oximeter
Tần số tim trung bình, tần số tim cao nhất, 
tần số tim thất nhất: ghi được trên Holter điện 
tâm đồ 24h
Các triệu chứng như mệt mỏi, đau ngực, 
đánh trống ngực khi gắng sức, đánh trống ngực 
khi nghỉ ngơi, khó thở khi gắng sức, khó thở khi 
nghỉ ngơi, đánh trống ngực khi đứng lên, ngất 
hoặc tiền ngất: ghi nhận qua phỏng vấn theo bộ 
câu hỏi dựa vào Bộ câu hỏi ASTA (Arrhythmia-
Specific questionnaire in Tachycardia and 
Arrhythmia).7
Quy trình thu thập số liệu 
Các bệnh nhân sau khi được lựa chọn vào 
nghiên cứu sẽ được khám lâm sàng và đeo 
Holter điện tâm đồ 24h, phỏng vấn theo bộ 
câu hỏi, hoàn thành bệnh án nghiên cứu. Máy 
Holter điện tâm đồ sử dụng trong nghiên cứu 
là máy Philips DigiTrak XT. Tất cả bệnh nhân 
được chỉ định Ivabradine (Procoralan) liều khởi 
đầu 5mg hai lần một ngày. Sau 1 tháng (30 ± 
7 ngày), tất cả bệnh nhân được khám, phỏng 
vấn lại các triệu chứng theo bộ câu hỏi, làm 
điện tâm đồ khi nghỉ và đeo lại Holter điện tâm 
đồ 24h. 
3. Phân tích số liệu
Số liệu được nhập liệu bằng phần mềm 
Epidata 3.1 và xử lý bằng phần mềm thống kê 
SPSS 20.0.
4. Đạo đức nghiên cứu 
Đối tượng nghiên cứu được thông báo đầy 
đủ thông tin về nghiên cứu và tự nguyện tham 
gia nghiên cứu.
Bệnh nhân, gia đình bệnh nhân được giải 
thích rõ ràng về tình trạng bệnh cũng như 
phương pháp điều trị bao gồm cả những lợi ích 
và nguy cơ có thể xảy ra. 
Thực hiện phác đồ khi có chỉ định và được 
sự đồng ý của bệnh nhân, gia đình bệnh nhân. 
Bệnh nhân được theo dõi, tư vấn và điều trị 
chuyên khoa sau khi kết thúc nghiên cứu.
Các thông tin về bệnh nhân và tình trạng 
bệnh được thu thập chỉ nhằm mục đích nghiên 
cứu. Những thông tin này được giữ bí mật tuyệt 
đối và được sử dụng để theo dõi và điều trị lâu 
dài cho bản thân bệnh nhân.
Các xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu 
đồng thời là các xét nghiệm để chẩn đoán 
và theo dõi điều trị bệnh nhân, nhằm bảo vệ 
và nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân, không 
nhằm mục đích nào khác
Đối tượng nghiên cứu được quyền rút ra 
khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào mà không cần 
nêu lý do và không bị phân biệt đối xử.
III. KẾT QUẢ
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
154 TCNCYH 134 (10) - 2020
1. Đặc điểm ban đầu của bệnh nhân
Có 24 bệnh nhân (nữ / nam = 19/5), tuổi trung bình 38,0 ± 14,7, đáp ứng đủ tiêu chuẩn được đưa 
vào nghiên cứu. Có 5 bệnh nhân rối loạn lipid máu, 4 bệnh nhân tăng huyết áp và 1 trường hợp có 
đái tháo đường kèm theo. 
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu đều có triệu chứng, hay gặp nhất là đánh trống ngực khi gắng 
sức (100%), đánh trống ngực khi nghỉ (91,7%), khó thở (83,3%), mệt mỏi (75%) chóng mặt (66,7%), 
mệt lả (45,8%), đáng chú ý là có bệnh nhân có triệu chứng ngất hoặc tiền ngất (1,5%) (Bảng 1).
Bảng 1. Đặc điểm triệu chứng liên quan tới loạn nhịp tim
Các triệu chứng
Tỉ lệ (%) p
(Fisher’s 
Exact test)
Trước điều trị
(n = 24)
Sau 1 tháng
(n = 24)
n % n %
Hồi hộp đánh trống ngực
Khi nghỉ 22 91,7 3 1,5 < 0,001
Khi gắng sức 24 100 14 58,3 -
Cả khi nghỉ và khi gắng sức 22 91,7 3 1,5 < 0,001
Đánh trống ngực khi đứng lên 3 1,5 1 4,2 0,039
Khó thở
Khi nghỉ 13 54,2 4 16,7 0,021
Khi gắng sức 19 79,2 18 75,0 1,0
Cả khi nghỉ và khi gắng sức 13 54,2 4 16,7 0,021
Choáng váng- chóng mặt 15 6,5 7 29,2 0,039
Vã mồ hôi 10 41,7 3 1,5 0,039
Mệt mỏi 17 70,8 13 54,2 0,125
Chán nản 16 66,7 9 37,5 0,065
Đau ngực 8 33,3 1 4,2 0,016
Nặng ngực 18 75,0 7 29,2 0,001
Mệt lả 11 45,8 3 1,5 0,021
Ngất hoặc tiền ngất 3 1,5 0 0 -
Lo lắng 19 79,2 17 70,8 0,625
Các kết quả trên điện tâm đồ khi thay đổi tư thế và trên Holter điện tâm đồ 24h (Bảng 3-4) cho 
thấy tần số tim trung bình 24h là 94,8 ± 4,9chu kỳ/phút và tần số tim cao nhất trong ngày lên tới 149,2 
± 15,6 chu kỳ / phút. Nhịp tim nhanh cả khi nằm (trung bình 106,1 ± 7,5 chu kỳ/phút) và tăng lên khi 
đứng (trung bình 12,3 ± 9,8 chu kỳ/phút) (p < 0,001).
2. Kết quả thay đổi đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước và sau điều trị
 Sau 1 tháng điều trị bằng Ivabradine 5mg ngày 2 lần, có 23 trong tổng số 24 bệnh nhân (chiếm 
95,8%) có nhịp tim trung bình trên Holter điện tâm đồ < 90 chu kỳ/phút và được coi là đáp ứng hoàn 
toàn. Có 1 trường hợp, mặc dù tần số tim sau điều trị có giảm nhưng vẫn còn > 90 chu kỳ/phút nên được 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
155TCNCYH 134 (10) - 2020
coi là đáp ứng một phần. 
So với trước khi điều trị, các bệnh nhân đều 
cải thiện triệu chứng cơ năng, trong đó giảm 
đáng kể là các triệu chứng như đánh trống ngực 
khi nghỉ hoặc cả khi nghỉ và khi gắng sức (1,5% 
so với 91,7%, p < 0,001), nặng ngực (29,2% 
so với 75%;p = 0,001), đau ngực (4,2% so với 
33,3%; p = 0,016), khó thở khi nghỉ (16,7% so 
với 54,2%; p = 0,021), mệt lả (gặp ở 1,5% so 
với 45,8%, p = 0,021), choáng váng – chóng 
mặt (29,2% so với 6,5%, p = 0,039), vã mồ hôi 
lạnh (1,5% so với 41,5%; p = 0,039). Đáng chú 
ý là các triệu chứng ngất hoặc tiền ngất, nếu 
ban đầu gặp ở 1,5% bệnh nhân thì sau điều 
trị điều trị, tất cả bệnh nhân đều không ai mắc 
triệu chứng nói trên (Bảng 1).
Các bệnh nhân đều cho thấy giảm rõ rệt tần 
số tim cả khi nằm (79,1 ± 1,1 chu kỳ/phút so với 
106,1 ± 7,5 chu kỳ/phút; p < 0,001) và khi đứng 
(87,3 ± 14,3 so với 12,3 ± 9,8 chu kỳ/ phút; p 
< 0,001). Ngay cả sự chênh lệch nhịp tim khi 
thay đổi tư thế cũng giảm đáng kể (từ 16,3 ± 
6,7 xuống còn 8,2 ± 4,7 chu kỳ/phút; p < 0,001).
Trên Holter điện tâm đồ 24h cũng ghi nhận 
sự cải thiện đáng kể cả tần số tim trung bình (từ 
94,8 ± 4,9 xuống còn 76,8 ± 7,9 chu kỳ/phút; p 
< 0,001), tần số tim cao nhất trong 24 giờ (từ 
149,2 ± 15,6 xuống còn 50,4 ± 5,9 chu kỳ/ phút; 
p < 0,001) và tần số tim thấp nhất (từ 61,7 ± 6,5 
xuống còn 50,4 ± 5,9 chu kỳ/phút; p < 0,001). 
(Bảng 2)
Bảng 2. Các kết quả trên điện tâm đồ khi 
thay đổi tư thế và trên Holter điện tâm đồ 24 h trước và sau điều trị
Các thông số
x̅ ± sd (chu kỳ / phút) p
(Wilcoxon test)Trước điều trị Sau 1 tháng
Tần số tim khi nằm 106,1 ± 7,5 79,1 ± 1,1 < 0,001
Tần số tim khi đứng 12,3 ± 9,8 87,3 ± 14,3 < 0,001
Thay đổi tần số tim 
khi đứng so với khi nằm
16,3 ± 6,7 8,2 ± 4,7 < 0,001
Tần số tim trung bình 94,8 ± 4,9 76,8 ± 7,9 < 0,001
Tần số tim cao nhất
trong ngày
149,2 ± 15,6 127,7 ± 17,6 < 0,001
Tần số tim thấp nhất
trong ngày
61,7 ± 6,5 50,4 ± 5,9 < 0,001
IV. BÀN LUẬN
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá kết quả điều trị bằng Ivabradine ở bệnh nhân 
nhịp nhanh xoang không thích hợp. Sau 1 
tháng điều trị, có 23 trong tổng số 24 bệnh 
nhân (chiếm 95,8%) có nhịp tim trung bình trên 
Holter điện tâm đồ < 90chu kỳ/phút và được coi 
là đáp ứng hoàn toàn. Tỉ lệ này là 56% (13/24) 
trong nghiên cứu của Benezet-Mazuecos và 
cộng sự, sau 3 tháng điều trị Ivabradine với 
liều tương tự.8 Như vậy, các bệnh nhân trong 
nghiên cứu này có đáp ứng tốt hơn (p < 0,001 
– Fisher’s exact test)
Sau điều trị, các bệnh nhân đều cải thiện 
triệu chứng cơ năng, trong đó giảm đáng kể là 
tỉ lệ bệnh nhân gặp các triệu chứng đánh trống 
ngực khi nghỉ hoặc cả khi nghỉ và khi gắng sức, 
nặng ngực, đau ngực, khó thở khi nghỉ, mệt lả, 
choáng váng – chóng mặt, vã mồ hôi lạnh. Các 
triệu chứng nặng như ngất hoặc tiền ngất, nếu 
ban đầu gặp ở 1,5% bệnh nhân thì sau điều 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
156 TCNCYH 134 (10) - 2020
trị 1 tháng, tất cả bệnh nhân đều không còn ai 
mắc các triệu chứng nói trên. Có 1,5% bệnh 
nhân hết hoàn toàn các triệu chứng.
Sự cải thiện triệu chứng sau điều trị như trên 
cũng được ghi nhận ở một số nghiên cứu có 
thời gian điều trị từ 4 tuần trở lên. Như trong 
nghiên cứu của Ptaszynski và cộng sự, sau 4 
tuần điều trị, khi đánh giá các triệu chứng bao 
gồm hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, đau 
ngực, mệt, chóng mặt, lo âu, có tới 70% bệnh 
nhân không còn triệu chứng.9 Cappato và cộng 
sự, khi đánh giá thêm triệu chứng ngất hoặc 
gần ngất, khó chịu khi đứng lên thì nhận thấy 
sau 6 tuần điều trị, có 9 trường hợp (4,9%) 
không còn triệu chứng.10 Mặt khác, các tác giả 
cũng nhận thấy, chỉ với liều Ivabradine 10mg 
mỗi ngày cũng đã giảm đáng kể triệu chứng, 
ngay cả khi mục tiêu tần số tim ở một số bệnh 
nhân chỉ đạt được khi tăng liều lên 15mg.4 Còn 
trong nghiên cứu này, nhiều triệu chứng hơn, 
chi tiết hơn đã được khai thác, không chỉ có các 
triệu chứng mà các tác giả trên đã đề cập mà 
cả các triệu chứng kín đáo hơn như cảm giác 
tức nặng ngực, mệt lả, mệt mỏi, chán nản, vã 
mồ hôi. Có lẽ chính bởi vậy mà triệu chứng của 
bệnh nhân trong nghiên cứu này đa dạng hơn, 
và tỉ lệ bệnh nhân hết hoàn toàn triệu chứng 
cũng thấp hơn (1,5%). Mặt khác, do mới chỉ 
đánh giá trong thời gian 1 tháng nên nếu các 
bệnh nhân được theo dõi trong thời gian dài 
hơn, có thể sự cải thiện triệu chứng nói trên sẽ 
rõ ràng hơn nữa.
Sau điều trị, có sự giảm rõ rệt tần số tim của 
các bệnh nhân cả khi nằm (79,1 ± 1,1 chu kỳ/
phút so với 106,1 ± 7,5 chu kỳ/phút, p < 0,001) 
và khi đứng (87,3 ± 14,3 so với 12,3 ± 9,8 chu 
kỳ/ phút, p < 0,001). Ngay cả sự chênh lệch 
nhịp tim khi thay đổi tư thế cũng giảm đáng 
kể (từ 16,3 ± 6,7 xuống còn 8,2 ± 4,7 chu kỳ/
phút, p < 0,001). Điều này phù hợp với sự cải 
thiện đáng kể triệu chứng hồi hộp của các bệnh 
nhân cả khi nghỉ cũng như khi thay đổi tư thế. 
Cappato và cộng sự, sau 6 tuần điều trị, cũng 
nhận thấy sự thay đổi nói trên.10 Mặt khác, so 
với nghiên cứu nói trên, trong nghiên cứu này, 
các bệnh nhân ban đầu có tần số tim cao hơn 
cả khi nằm (106,1 ± 7,5 so với 88,5 ± 11,2; p 
< 0,001) và khi đứng (12,3 ± 9,8 so với 107,7 
± 11,5; p < 0,001). Và sau khi điều trị, trong 
khoảng thời gian ngắn hơn (4,9 ± 0,8 so với 6 
tuần; p < 0,001), nhưng mức giảm tần số tim cả 
khi nằm (27,0 ± 10,0 so với 1,4; p < 0,001), khi 
đứng (35,0 ± 1,8 so với 16,1; p < 0,001) và cả 
mức chênh lệch tần số tim khi thay đổi tư thế 
(8,0 ± 6,3 so với 3,8; p = 0,003) cũng giảm nhiều 
hơn đáng kể. Điều đó cho thấy mức đáp ứng 
giảm nhịp tim của các bệnh nhân trong nghiên 
cứu này mạnh hơn so với các bệnh nhân trong 
nghiên cứu của Cappato.
Trên Holter điện tâm đồ 24h cũng ghi nhận 
sự cải thiện đáng kể cả tần số tim trung bình (từ 
94,8 ± 4,9 xuống còn 76,8 ± 7,9 chu kỳ/phút, p 
< 0,001), tần số tim cao nhất trong 24 giờ (từ 
149,2 ± 15,6 xuống còn 50,4 ± 5,9 chu kỳ/ phút, 
p < 0,001) và tần số tim thấp nhất (từ 61,7 ± 6,5 
xuống còn 50,4 ± 5,9 chu kỳ/phút; p < 0,001). 
Mức giảm tần số tim trung bình trên Holter điện 
tâm đồ 24 giờ là 18,1 ± 8,3 chu kỳ/ phút. Đáp ứng 
này cũng đã được thể hiện trong một số nghiên 
cứu của khác, trong đó, mức giảm tần số tim 
trung bình 24h dao động trong khoảng 11,8 đến 
21,9 chu kỳ/phút.3,4,8–11 Điều này cho thấy hiệu 
quả giảm nhịp tim đáng kể của Ivabradine trên 
bệnh nhân nhịp nhanh xoang không thích hợp 
và mức đáp ứng này cũng đa dạng tuỳ từng 
trường hợp cụ thể. Đáp ứng giảm nhịp tim 
được ghi nhận sớm, từ sau điều trị 2 tuần và 
dường như tiếp tục cải thiện hơn nữa sau thời 
gian điều trị dài hơn.10 Chúng tôi không tìm thấy 
yếu tố nào ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến 
mức giảm nhịp tim trên Holter điện tâm đồ của 
bệnh nhân sau điều trị, bao gồm cả tuổi, giới, 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
157TCNCYH 134 (10) - 2020
BMI, mức nhịp tim ban đầu. Ptaszynski và cộng 
sự cũng nhận thấy không có mối tương quan 
giữa mức giảm nhịp tim với tần số tim trước 
điều trị.9 Tuy vậy, trong một nghiên cứu của tác 
giả Rakovec và cộng sự, dường như phần trăm 
mức giảm nhịp tim sau điều trị tỉ lệ thuận với 
mức nhịp tim ban đầu của bệnh nhân, nghĩa 
là bệnh nhân có nhịp tim ban đầu càng cao thì 
mức giảm nhịp tim khi điều trị càng lớn.3
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu này cho thấy nhịp nhanh xoang 
không thích hợp gặp phần lớn ở nữ giới, ở 
nhiều độ tuổi khác nhau, với triệu chứng đa 
dạng và việc sử dụng Ivabradine liều 5mg ngày 
2 lần giúp giảm tần số tim hiệu quả cũng như 
cải thiện triệu chứng ở hầu hết bệnh nhân sau 
1 tháng điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Page RL, Joglar JA, Caldwell MA, et al. 2015 
ACC/AHA/HRS Guideline for the Management 
of Adult Patients With Supraventricular 
Tachycardia: A Report of the American College 
of Cardiology/American Heart Association Task 
Force on Clinical Practice Guidelines and the 
Heart Rhythm Society. Journal of the American 
College of Cardiology. 2016;67(13):e27-e115. 
doi:10.1016/j.jacc.2015.08.856
2. Lopera G, Castellanos A, Moleiro F, 
Huikuri HV, Myerburg RJ. Chronic inappropriate 
sinus tachycardia in elderly females. Annals 
of noninvasive electrocardiology : the official 
journal of the International Society for Holter 
and Noninvasive Electrocardiology, Inc. 
2003;8(2):139-143.
3. Rakovec P. Treatment of inappropriate 
sinus tachycardia with ivabradine. Wiener 
klinische Wochenschrift. 2009;121(21):715-
718.
4. Calò L, Rebecchi M, Sette A, et al. 
Efficacy of ivabradine administration in patients 
affected by inappropriate sinus tachycardia. 
Heart Rhythm. 2010;7(9):1318-1323.
5. Sheldon RS, Grubb BP 2nd, Olshansky 
B, et al. 2015 heart rhythm society expert 
consensus statement on the diagnosis and 
treatment of postural tachycardia syndrome, 
inappropriate sinus tachycardia, and vasovagal 
syncope. Heart rhythm. 2015;12(6):e41-63. 
doi:10.1016/j.hrthm.2015.03.029
6. Shen WK, Low PA, Jahangir A, et al. 
Is sinus node modification appropriate for 
inappropriate sinus tachycardia with features 
of postural orthostatic tachycardia syndrome? 
Pacing and clinical electrophysiology : PACE. 
2001;24(2):217-230.
7. Walfridsson U, Arestedt K, Stromberg 
A. Development and validation of a new 
Arrhythmia-Specific questionnaire in 
Tachycardia and Arrhythmia (ASTA) with focus 
on symptom burden. Health and quality of life 
outcomes. 2012;10(1):44.
8. BENEZET-MAZUECOS J, Rubio JM, 
Farré J, Quiñones MÁ, SANCHEZ-BORQUE 
P, Macía E. Long-term outcomes of ivabradine 
in inappropriate sinus tachycardia patients: 
appropriate efficacy or inappropriate patients. 
Pacing and Clinical Electrophysiology. 
2013;36(7):830-836.
9. Ptaszynski P, Kaczmarek K, Ruta J, 
Klingenheben T, Wranicz JK. Metoprolol 
succinate vs. ivabradine in the treatment of 
inappropriate sinus tachycardia in patients 
unresponsive to previous pharmacological 
therapy. Europace : European pacing, 
arrhythmias, and cardiac electrophysiology : 
journal of the working groups on cardiac 
pacing, arrhythmias, and cardiac cellular 
electrophysiology of the European Society of 
Cardiology. 2013;15(1):116-121. doi:10.1093/
europace/eus204
10. Cappato R, Castelvecchio S, Ricci C, et 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
158 TCNCYH 134 (10) - 2020
al. Clinical efficacy of ivabradine in patients with 
inappropriate sinus tachycardia: a prospective, 
randomized, placebo-controlled, double-blind, 
crossover evaluation. Journal of the American 
College of Cardiology. 2012;60(15):1323-1329. 
doi:10.1016/j.jacc.2012.06.031
11. Kaplinsky E, Comes FP, Urondo LS, Ayma 
FP. Efficacy of ivabradine in four patients with 
inappropriate sinus tachycardia: a three month-
long experience based on electrocardiographic, 
Holter monitoring, exercise tolerance and 
quality of life assessments. Cardiology journal. 
2010;17(2):166-171.
Summary
TREATMENT RESULTS OF IVABRADINE IN PATIENTS WITH 
INAPPROPRIATE SINUS TACHYCARDIA
This study was to evaluate clinical characteristics and quality of life in patients with inappropriate 
sinus tachycardia. 24 adult patients (19 women and 5 men; mean age 38.0 ± 14.7 years) fulfilled the 
diagnostic criteria of IST were included. After taking Ivabradine 5mg twice daily, at 1 month follow-up, 
23/24 of patients (95.8%) reached target heart rate of under 90 bpm with significant reduction of HR 
during 24h (76.8 ± 7.9 bpm vs 94.8 ± 4.9 bpm, p < 0.001); at rest (79.1 ± 12.1 bpm vs 106.1 ± 7.5 bpm, p 
< 0.001); on standing (87.3 ± 14.3 bpm vs 122.3 ± 9.8 bpm, p < 0.001). Most of symptom were relieved 
significantly, with 1,5% of patient experiencing complete elimination. In conclusion, Ivabradine at 5mg 
twice daily not only significantly reduced heart rate but also improved symptoms after 1 month of treatment.
Keywords: inappropriate sinus tachycardia (IST), ivabradine

File đính kèm:

  • pdfket_qua_dieu_tri_bang_ivabradine_o_benh_nhan_nhip_nhanh_xoan.pdf