Kết quả của kỹ thuậtđặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Mục tiêu: Nhằm xác định kết quả của kỹ thuật đặt vòng nâng cổ tử

cung trong dự phòng đẻ non ở những thai phụ từ tuần 14 đến 27 có

nguy cơ đẻ non tại bệnh viện phụ sản Hải Phòng, trong thời gian từ

01/01/2017 đến 31/12/2017.

Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang.

Kết quả: trong 72 đối tượng được nhận vào nghiên cứu, tỷ lệ đẻ non

dưới 34 tuần là 8,33%, tỷ lệ sinh trên 37 tuần là 82%. Đa phần các bệnh

nhân đều chấp nhận và dễ chịu với vòng nâng cổ tử cung, các bất tiện

sau đặt vòng hay gặp nhất là tiết dịch âm đạo (14/72), táo bón và cơn

co tử cung (4/72). Tuổi thai khi tháo vòng trung bình là 36,08 ± 4,83

tuần, tuổi thai khi sinh trung bình là 37,15 ± 3,56 tuần, cân nặng thai

nhi trung bình là 2872 ± 49 gram. Tỷ lệ tử vong sơ sinh là 2,78%. 21/72

trường hợp có chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm,

chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm làm tăng tỷ lệ

đẻ non dưới 34 tuần (với p <>

Kết luận: đặt vòng nâng cổ tử cung là thủ thuật đơn giản, thuận tiện,

bước đầu cho kết quả tương đối khả quan. Cần có thêm những nghiên

cứu tiến cứu, ngẫu nhiên có đối chứng về đề tài này.

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả của kỹ thuậtđặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả của kỹ thuậtđặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Kết quả của kỹ thuậtđặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
VŨ VĂN TÂM, VŨ THỊ MINH PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN LỢI
60
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Vũ Văn Tâm, Vũ Thị Minh Phương, Nguyễn Văn Lợi 
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng
KẾT QUẢ CỦA KỸ THUẬTĐẶT VÒNG
NÂNG CỔ TỬ CUNG TRONG DỰ PHÒNG ĐẺ NON
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Vũ Thị Minh Phương, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhằm xác định kết quả của kỹ thuật đặt vòng nâng cổ tử 
cung trong dự phòng đẻ non ở những thai phụ từ tuần 14 đến 27 có 
nguy cơ đẻ non tại bệnh viện phụ sản Hải Phòng, trong thời gian từ 
01/01/2017 đến 31/12/2017. 
Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang. 
Kết quả: trong 72 đối tượng được nhận vào nghiên cứu, tỷ lệ đẻ non 
dưới 34 tuần là 8,33%, tỷ lệ sinh trên 37 tuần là 82%. Đa phần các bệnh 
nhân đều chấp nhận và dễ chịu với vòng nâng cổ tử cung, các bất tiện 
sau đặt vòng hay gặp nhất là tiết dịch âm đạo (14/72), táo bón và cơn 
co tử cung (4/72). Tuổi thai khi tháo vòng trung bình là 36,08 ± 4,83 
tuần, tuổi thai khi sinh trung bình là 37,15 ± 3,56 tuần, cân nặng thai 
nhi trung bình là 2872 ± 49 gram. Tỷ lệ tử vong sơ sinh là 2,78%. 21/72 
trường hợp có chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm, 
chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm làm tăng tỷ lệ 
đẻ non dưới 34 tuần (với p < 0,05). 
Kết luận: đặt vòng nâng cổ tử cung là thủ thuật đơn giản, thuận tiện, 
bước đầu cho kết quả tương đối khả quan. Cần có thêm những nghiên 
cứu tiến cứu, ngẫu nhiên có đối chứng về đề tài này.
Abstract 
RESULTS OF CERVICAL PESSARY ON PREVENT 
PRETERM BIRTH AT THE HAI PHONG OBSTETRICS 
HOSPITAL
Objectives: To determine the results of the cervical pessary ring 
setting technique for preventing preterm delivery in women at risk of 
preterm birth from 14 to 27 weeks gestation at the Hai Phong Obstetrics 
Hospital, for a period of 01 / 01/2017 to 31/12/2017. 
Materials and Method: description, cross section. 
Results: the prevalence of preterm birth less than 34 weeks of 
gestation was 8.33%, and the birth at more than 37 weeks of gestation 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
61
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 60 - 64, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
was 82%. The majority of patients are well tolerated and comfortable with pessary ring. The most 
common adverse events are vaginal discharge (14/72), constipation and uterine contractions (4/72). 
Mean gestational age at remove pesary ring was 36.08 ± 4.83 weeks, mean gestational age at 
delivery was 37.15 ± 3.56 weeks, mean fetal weight was 2872 ± 49 grams. The mortality neonatal 
rate was 2.78%. 21/72 with length of cervical on vaginal ultrasound ≤ 25 mm, this cervical length on 
vaginal ultrasound less than 25 mm increased preterm birth rate under 34 weeks (p <0.05). 
Conclusion: cervical pessary ring technique is a simple, convenient procedure, the initial results 
are relatively satisfactory. More prospective, randomized controlled trials are needed.
1. Đại cương
Đẻ non là vấn đề hàng đầu gây nên hơn 50% tỷ lệ 
tử vong chu sinh. Đẻ non có nhiều yếu tố nguy cơ bao 
gồm hở eo tử cung và đa thai. Vì thế có nhiều chiến 
lược quản lý thai kỳ đã được đề xuất để dự phòng 
đẻ non. Nếu khâu vòng cổ tử cung (CTC) là một kỹ 
thuật xâm lấn yêu cầu có gây tê và có thể liên quan 
tới nhiều biến chứng, liên quan tới tuổi thai khi tiến 
hành kỹ thuật và còn nhiều ý kiến trái chiều về hiệu 
quả cũng như nhóm bệnh nhân được hưởng lợi từ kỹ 
thuật này. Đặt vòng nâng CTC lại là một kỹ thuật đơn 
giản, không xâm lấn có thể thay thế kỹ thuật khâu 
vòng CTC trong dự phòng nguy cơ đẻ non.
Mặc dù đặt vòng nâng CTC đã được đề xuất 
như một giải pháp hỗ trợ CTC từ rất sớm từ 1959, 
cho đến nay vẫn còn rất ít số liệu về hiệu quả của 
nó trong việc giảm thiểu tỷ lệ đẻ non và nhóm bệnh 
nhân nào có thể được lợi ích từ việc sử dụng vòng 
nâng. Phần lớn các nghiên cứu này thường sử dụng 
vòng Arabin, một loại vòng mềm dẻo, bằng chất 
liệu silicone và có hình tròn, có nhiều kích cỡ khác 
nhau để phù hợp nhất với từng kích cỡ CTC. 
Về cơ chế làm việc của vòng nâng CTC có 2 giả 
thiết hàng đầu: thứ nhất do vòng làm CTC được khép 
kín, thứ hai vòng nâng CTC được cho là làm thay đổi 
độ nghiêng của kênh CTC, từ đó có hiệu quả trong 
dự phòng đẻ non và có thể là một thay thế an toàn, 
không xâm lấn hơn so với khâu vòng CTC [1].
Một nghiên cứu tổng quan hệ thống năm 2013 
cho thấy trong 385 thai phụ có tuổi thai từ 18 đến 
22 tuần có chiều dài CTC dưới 25mm, nhóm được 
đặt vòng nâng CTC (192 người) có tỷ lệ đẻ non 
tự nhiên dưới 37 tuần giảm có ý nghĩa thống kê 
so với nhóm không đặt vòng nâng CTC (22% so 
với 59% RR 0,36, 95% CI 0,27 – 0,49). Tỷ lệ đẻ 
non tự nhiên dưới 34 tuần giảm có ý nghĩa thống 
kê ở nhóm đặt vòng nâng CTC (lần lượt là 6 so 
với 27% RR 0,24 95% CI 0,13 – 0,43). Tuổi thai 
khi sinh trung bình là 37,7 ± 2 tuần ở nhóm đặt 
vòng và 34,9 ± 4 tuần ở nhóm không đặt vòng 
CTC, trong khi triệu chứng khó chịu ở âm đạo gặp 
nhiều ở nhóm đặt vòng nâng CTC hơn [2]. Công 
bố năm 2017, một phân tích gộp từ 3 nghiên cứu 
thử nghiệm (gồm 1412 phụ nữ) đã chỉ ra rằng đặt 
vòng nâng CTC không làm giảm nguy cơ đẻ non 
tự nhiên dưới 34 tuần ở những phụ nữ này (RR 
0,71 95% CI 0,21-2,43. p = 0,59 ; I2 = 90%) và 
đòi hỏi có thêm những nghiên cứu tiến cứu, ngẫu 
nhiên có đối chứng khác [3].
Nói chung, không có báo cáo nào về mối liên 
hệ giữa việc đặt vòng nâng CTC và tăng tỷ lệ mắc 
các bệnh nhiễm trùng âm đạo. Trong trường hợp 
rất hiếm, huyết khối tĩnh mạch CTC, rách, co bóp 
CTC, chảy máu, bí tiểu, và các biến chứng khác đã 
được báo cáo [1].
Vì còn nhiều ý kiến trái ngược nhau về hiệu 
quả của việc đặt vòng nâng CTC, chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu này nhằm góp phần tìm hiểu 
hiệu quả của kỹ thuật đặt vòng nâng CTC đối 
với việc dự phòng đẻ non ở những thai phụ có 
nguy cơ cao.
VŨ VĂN TÂM, VŨ THỊ MINH PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN LỢI
62
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân mang thai 14 tuần khám thai 
định kỳ; các bệnh nhân điều trị nội trú dọa sẩy thai 
và dọa đẻ non, được thăm khám và đo độ dài CTC 
qua siêu âm đường âm đạo. Chúng tôi nhận vào 
nghiên cứu những trường hợp sau: 
- Tiền sử đẻ non.
- Chiều dài CTC ngắn (< 30mm) hoặc lỗ trong 
CTC mở trên siêu âm ngả âm đạo (dạng U/V).
- Đa thai.
- Thai kỳ từ 14 đến 27 tuần thai.
- Có đầy đủ dữ liệu nghiên cứu, theo dõi đến 
khi sinh.
Tiêu chuẩn loại trừ 
- Không có đầy đủ dữ liệu nghiên cứu
- Mất dấu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, ngẫu nhiên. Thời 
gian nghiên cứu từ 01/01/2017 đến 31/12/2017 
tại đơn nguyên điều trị nội khoa và hậu sản, bệnh 
viện phụ sản Hải Phòng. Các bệnh nhân được theo 
dõi đến khi sinh. Cỡ mẫu nghiên cứu thuận tiện, 
không xác suất. 
Thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm 
SPSS 16.0.
3. Kết quả và bàn luận
3.1. Đặc điểm chung của các đối 
tượng nghiên cứu
Tuổi bệnh nhân 28,38 ± 4,77 19 – 40
Tuổi thai 17,69 ± 2,88 14 – 27
Số lần mang thai
 1 lần 22/72 30%
 ≥ 2 lần 50/72 70%
Tính chất thai kỳ
 Thai tự nhiên 58/72 81%
 Thai IUI/IVF 14/72 19%
Số thai
 Đơn thai 66/72 91,7%
 Song thai 5/72 6,9%
 Tam thai 1/72 1,4%
Tiền sử sản khoa
 Sẩy thai > 12 tuần 4/72 5,55%
 Đẻ non 18/72 25%
 Khâu vòng CTC 1/72 1,4%
Bảng 1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Trong 1 năm thu thập số liệu chúng tôi nhận 72 
trường hợp vào nghiên cứu. Các bệnh nhân trong 
nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình là 
28,38 ± 4,77, thấp nhất là 19 tuổi, lớn tuổi nhất là 
40 tuổi, đây cũng là độ tuổi sinh đẻ thông thường. 
Các thai phụ có tuổi thai trung bình là 17,69 ± 
2,88 tuần, đa phần đều ở quý 2 của thai kỳ, là 
giai đoạn tử cung đã phát triển to hơn, gây áp lực 
lên CTC và gia tăng nguy cơ sẩy thai hoặc đẻ non. 
Các đối tượng đa phần mang thai từ lần 2 trở lên 
(70%), trong đó có 19% là thai kỳ từ các kỹ thuật 
hỗ trợ sinh sản IUI/IVF.
Trong 72 trường hợp nhận vào nghiên cứu có 
đa số là đơn thai (chiếm 91,7%), song thai chiếm 
6,9%, duy nhất có 1 trường hợp tam thai 16 tuần. 
Đây là một thai kỳ tự nhiên phát hiện muộn nên 
không tiến hành giảm thai như thường quy, bệnh 
nhân có nguy cơ sẩy thai và đẻ non cao.
Về tiền sử sản khoa có 25% đối tượng có tiền sử ít 
nhất một lần đẻ non, 5,55% trường hợp từng sẩy thai 
> 12 tuần, đều là nguyên nhân làm CTC trở nên yếu 
hơn, nằm trong nhóm có nguy cơ đẻ non cao.
Trong 72 trường hợp nghiên cứu có 23 ca 
có tình trạng dọa sẩy thai, 2 trường hợp có triệu 
chứng dọa đẻ non, chúng tôi đã điều trị nội khoa 
đến hết các triệu chứng trên mới tiến hành đặt vòng 
nâng CTC.
Có 15 trường hợp viêm âm đạo – cổ tử cung 
đã được đặt thuốc và kiểm tra lại trước khi đặt 
vòng nâng.
Bệnh lý n %
Dọa sẩy thai 23/72 31,94
Dọa đẻ non 2/72 2,78
Viêm âm đạo – CTC 15/72 20,83
Polyp CTC 3/72 4,17
Bảng 2. Bệnh lý kèm theo
Dị dạng đường sinh dục
 Tử cung đôi 2/72 2,78%
 Tử cung 2 sừng 1/72 1,39%
 Vách ngăn âm đạo 1/72 1,39%
Khám CTC trên lâm sàng
 CTC ngắn 57/72 79,17%
 CTC không ngắn 15/72 20,83%
Độ mở lỗ ngoài CTC
 Đóng kín 34/72 47,22%
 Hé lỗ ngoài 35/72 48,61%
 Loe lỗ ngoài 3/72 4,17%
Chiều dài CTC trên siêu âm đường âm đạo (mm) 27,50 20 - 45
Bảng 3. Đặc điểm về sản khoa
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
63
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trong 72 trường hợp đặt vòng nâng CTC, có 
12 trường hợp phải dùng thêm thuốc nội tiết hoặc 
giảm co, trong đó có 9 trường hợp phải nằm viện. 
Đặc biệt có 6 trường hợp nguy cơ cao do đó được 
kết hợp khâu vòng CTC. 
Theo dõi dọc đến khi sinh thì 6 trường hợp điều 
trị phối hợp này đều có kết cục thai kỳ kéo dài > 
37 tuần.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 6 trường hợp 
đẻ non trước 34 tuần chiếm tỷ lệ 8,33%; tỷ lệ sinh > 
37 tuần chiếm tỷ lệ rất cao 82% cho thấy hiệu quả 
khả quan của kỹ thuật. Chúng tôi khuyến cáo bệnh 
nhân tháo vòng sau 37 tuần hoặc khi có dấu hiệu 
chuyển dạ, tuy nhiên tuổi thai khi tháo vòng (hoặc 
vòng bị rơi, bị tuột) trung bình là 36,08 tuần, thấp 
nhất là 17 tuần, dài nhất là 40 tuần. Cá biệt có 
trường hợp sẩy thai lúc 17 tuần, sau đặt vòng nâng 
1 tuần, trong tình trạng có biểu hiện dọa sẩy thai 
do gắng sức trước đó mà không điều trị.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 60 - 64, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Trong 72 trường hợp chúng tôi ghi nhận có 4 ca 
dị dạng đường sinh dục: 3 ca dị dạng tử cung đều 
kèm theo CTC ngắn, 1 trường hợp có vách ngăn 
lửng âm đạo. 
Có 79,17% khám bằng tay thấy CTC ngắn, 
trong đó phần lớn (48,61%) có CTC hé mở và chỉ 
có 3 trường hợp CTC loe lỗ ngoài. 
Chiều dài CTC trên siêu âm ngả âm đạo thường 
được coi là tiêu chuẩn đáng tin cậy trong chuẩn 
đoán CTC ngắn cần can thiệp. Nghiên cứu của 
chúng tôi có độ dài CTC trung bình là 27,50 mm, 
trường hợp ngắn nhất là 20mm, dài nhất là 45mm.
Việc đặt vòng nâng CTC là thủ thuật đơn giản, 
đa phần đều dễ thực hiện tuy nhiên có 2 trường 
hợp âm đạo quá chật hẹp, bệnh nhân không hợp 
tác nên thủ thuật khó đặt (chiếm tỷ lệ 2,78%).
Đa phần các bệnh nhân đều chấp nhận và 
dễ chịu với vòng nâng CTC. Sự bất tiện sau thủ 
thuật đặt vòng nâng thường gặp nhất là phản 
ứng tiết dịch âm đaọ quá mức (14/72 trường 
hợp), bệnh nhân có thể tiết nhiều dịch âm đạo 
màu nâu, màu hồng nhạt, màu vàng hoặc màu 
trắng; thời gian tiết dịch quá mức đa phần là 
1 – 2 tuần đầu. 
Đặc biệt có 3 trường hợp phải tháo vòng vì tiết 
dịch quá mức, trong đó 1 bệnh nhân tháo vòng 
nâng để khâu vòng CTC, 2 bệnh nhân còn lại nằm 
viện và dùng thuốc để kéo dài thai kỳ đến ngày 
sinh. Có 3 trường hợp tháo vòng để đặt lại vòng 
năng CTC, 1 trong số đó vì nguyên nhân táo bón, 
2 trường hợp vì vệ sinh vòng. Bất tiện hay gặp tiếp 
theo là táo bón và cơn co tử cung. Có 3 bệnh nhân 
bị bí tiểu, 1 trường hợp phải thông tiểu, 1 trường 
hợp đái máu phải điều trị. 
Kết quả này của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu 
của Sophie Liem 2013 có tỷ lệ tiết dịch âm đạo 
26%, đau 4%. Sự khác biệt này do chúng tôi đã 
chuẩn bị bệnh nhân và điều trị hết viêm âm đạo 
trước khi tiến hành thủ thuật [4].
Chúng tôi ghi nhận 1 ca sốt do nhiễm trùng 
đường tiết niệu, ngoài ra không gặp trường hợp 
nào có huyết khối tĩnh mạch CTC.
n %
Dễ 70 97,22
Khó 2 2,78
Bảng 4. Kỹ thuật đặt vòng nâng
Hình 1. Các bất tiện sau khi đặt vòng nâng CTC.
n %
Thuốc nội tiết, giảm co 12 16,67
Nằm viện 9 12,50
Khâu vòng phối hợp 6 8,33
Bảng 5. Điều trị phối hợp sau đặt vòng nâng CTC
n %
Đẻ non < 28 tuần 2/72 2,78
Đẻ non < 34 tuần 6/72 8,33
Đẻ non 34 - < 37 tuần 7/72 9,72
Sinh ≥ 37 tuần 59/72 82
Tuổi thai khi tháo vòng ( hoặc rơi vòng) 36,08 ± 4,83 17 – 40
Tuổi thai khi sinh 37,15 ± 3,56 17 - 42
Bảng 6. Kết cục thai kỳ
Tỷ lệ đẻ non < 34 tuần
Shuk Yi Annie Hui, 2012 9,4% [5]
Goya M 2012 11,23% [6]
Nicolaides 2016 12% [7]
Vũ Văn Tâm, 2018 8,33%
Bảng 7. Tỷ lệ sinh non < 34 tuần qua các nghiên cứu
VŨ VĂN TÂM, VŨ THỊ MINH PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN LỢI
64
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tuổi thai khi sinh trung bình là 37,15 ± 3,56 
tuần. Tỷ lệ này của chúng tôi cũng tương tự như 
nghiên cứu của tác giả trên thế giới.
Nghiên cứu có đa số nhi sống sót sau sinh 
70/72 tức 97,22%. Tỷ lệ tử vong sơ sinh chiếm tỷ 
lệ 2,78%. Cân nặng lúc sinh trung bình là 2872 
± 49, thấp nhất là 3 trẻ sinh ba: 2 bé 1100gram, 
1 bé nặng 1000gram. So với tỷ lệ tử vong sơ sinh 
trung bình ở nước ta theo MICS 2014 là 8,99% 
đến 14,69% [8] thì nghiên cứu của chúng tôi cho 
kết quả sơ sinh rất tích cực. Kết quả này của chúng 
tôi cũng tương tự các nghiên cứu khác trên thế giới.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần 
ở nhóm bệnh nhân có tiền sử đẻ non và không có 
tiền sử đẻ non là như nhau.
n %
Sống 70 97,22
Tử vong 2 2,78
Cân nặng trung bình (gram) 2872 ± 49 1000 - 3800
Bảng 8. Kết cục thai nhi
Đẻ non 34 tuần Tổng p
 Có TS đẻ non 3 16 19
p > 0,05Không có TS đẻ non 3 50 53
Tổng 6 66 72
OR = 3,12 CI 95%: 0,57 – 17,04
Bảng 9. Mối liên quan giữa tiền sử đẻ non và tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần
Đẻ non 34 tuần Tổng p
CTC ngắn 6 53 59
p > 0,05CTC không ngắn 0 13 13
Tổng 6 66 72
OR = 0,89 CI 95%: 0,82 – 0,98
Bảng 10. Mối liên quan giữa chiều dài CTC khi thăm khám với tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần
Đẻ non 34 tuần Tổng p
CTC ≤ 25 mm 5 16 21
p 25 mm 1 50 51
Tổng 6 66 72
Bảng 11. Mối liên quan giữa chiều dài CTC trên siêu âm đầu dò âm đạo với tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần
Nghiên cứu cho thấy không có trường hợp nào 
CTC dài mà đẻ non dưới 34 tuần, ngược lại có 
6/59 trường hợp CTC ngắn đẻ non < 34 tuần, tuy 
nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Trong nghiên cứu của chúng tôi chiều dài CTC 
dưới 25mm gặp 21 trường hợp tương ứng với 
29,16%, khi chiều dài CTC trên siêu âm đường 
âm đạo ngắn hơn 25mm thì tỷ lệ đẻ non dưới 
34 tuần tăng lên đáng kể, sự khác biệt này có ý 
nghĩa thống kê với p < 0,05. Như vậy chiều dài 
CTC trên siêu âm đường âm đạo là biến số có liên 
quan chặt chẽ với tỷ lệ sinh dưới 34 tuần. Kết luận 
này của chúng tôi cũng giống các nghiên cứu của 
các tác giả khác.
4. Kết luận
- Kỹ thuật đặt vòng nâng CTC là một kỹ thuật 
dễ thực hiện, giúp các bệnh nhân nhóm nguy 
cơ cao có thể kéo dài thai kỳ > 37 tuần với tỷ lệ 
cao (82%).
- Tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần ở những bệnh nhân 
áp dụng kỹ thuật này thấp 8,33%.
- Tỷ lệ tử vong sơ sinh thấp 2,78%
- Gia tăng nguy cơ đẻ non dưới 34 tuần một 
cách có ý nghĩa thống kê với những trường hợp 
chiều dài CTC qua đường âm đạo dưới 25mm.
Tài liệu tham khảo
1. Cerclage Pessary for Preventing Preterm Birth in Women with a 
Singleton Pregnancy and a Short Cervix at 20 to 24 Weeks: A Randomized 
Controlled Trial. Shuk Yi Annie Hui et al. American Journal of Perinatology. 
2. Using a cervical pessary to prevent preterm birth. Cochrane Pregnancy 
and childbirth Group. May 2013.
3. Cervical Pessary for Prevention of Preterm Birth: A Meta-Analysis. Xin-
Hang Jin, Dan Li,2 and Li-Li Huanga. Sci Rep. 2017; 7: 42560. Published 
online 2017 Feb 17. doi: 10.1038/srep42560. [PubMed]
4. Cervical pessaries for prevention of preterm birth in women with a 
multiple pregnancy (ProTWIN): a multicentre, open-label randomised 
controlled trial Sophie Liem, Ewoud Schuit. www.thelancet.com Vol 382 
October 19, 2013
5. Cerclage Pessary for Preventing Preterm Birth in Women with a 
Singleton Pregnancy and a Short Cervix at 20 to 24 Weeks: A Randomized 
Controlled Trial Shuk Yi Annie Hui, Chung Ming Chor. American Journal of 
Perinatology. July 5, 2012.
6. Cervical pessary in pregnant women with a short cervix (PECEP): an 
open-label randomised controlled trial. Goya M, Pratcorona L, Merced C. 
Cervical para Evitar Prematuridad (PECEP) Trial Group. Lancet. 2012 
May 12; 379(9828):1800-6A 
7. Randomized Trial of a Cervical Pessary to Prevent Preterm Singleton 
Birth. Kypros H. Nicolaides, Argyro Syngelaki. March 17, 2016. N Engl J 
Med 2016; 374:1044-1052. DOI: 10.1056/NEJMoa151101.
8. Giám sát thực trạng trẻ em và phụ nữ: điều tra đánh giá các mục 
tiêu trẻ em và phụ nữ 2014. Tổng cục thống kê và UNICEF 2015.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_cua_ky_thuatdat_vong_nang_co_tu_cung_trong_du_phong.pdf