Kết quả của kỹ thuậtđặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
Mục tiêu: Nhằm xác định kết quả của kỹ thuật đặt vòng nâng cổ tử
cung trong dự phòng đẻ non ở những thai phụ từ tuần 14 đến 27 có
nguy cơ đẻ non tại bệnh viện phụ sản Hải Phòng, trong thời gian từ
01/01/2017 đến 31/12/2017.
Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang.
Kết quả: trong 72 đối tượng được nhận vào nghiên cứu, tỷ lệ đẻ non
dưới 34 tuần là 8,33%, tỷ lệ sinh trên 37 tuần là 82%. Đa phần các bệnh
nhân đều chấp nhận và dễ chịu với vòng nâng cổ tử cung, các bất tiện
sau đặt vòng hay gặp nhất là tiết dịch âm đạo (14/72), táo bón và cơn
co tử cung (4/72). Tuổi thai khi tháo vòng trung bình là 36,08 ± 4,83
tuần, tuổi thai khi sinh trung bình là 37,15 ± 3,56 tuần, cân nặng thai
nhi trung bình là 2872 ± 49 gram. Tỷ lệ tử vong sơ sinh là 2,78%. 21/72
trường hợp có chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm,
chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm làm tăng tỷ lệ
đẻ non dưới 34 tuần (với p <>
Kết luận: đặt vòng nâng cổ tử cung là thủ thuật đơn giản, thuận tiện,
bước đầu cho kết quả tương đối khả quan. Cần có thêm những nghiên
cứu tiến cứu, ngẫu nhiên có đối chứng về đề tài này.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả của kỹ thuậtđặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
VŨ VĂN TÂM, VŨ THỊ MINH PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN LỢI 60 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Vũ Văn Tâm, Vũ Thị Minh Phương, Nguyễn Văn Lợi Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng KẾT QUẢ CỦA KỸ THUẬTĐẶT VÒNG NÂNG CỔ TỬ CUNG TRONG DỰ PHÒNG ĐẺ NON TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Vũ Thị Minh Phương, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Tóm tắt Mục tiêu: Nhằm xác định kết quả của kỹ thuật đặt vòng nâng cổ tử cung trong dự phòng đẻ non ở những thai phụ từ tuần 14 đến 27 có nguy cơ đẻ non tại bệnh viện phụ sản Hải Phòng, trong thời gian từ 01/01/2017 đến 31/12/2017. Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang. Kết quả: trong 72 đối tượng được nhận vào nghiên cứu, tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần là 8,33%, tỷ lệ sinh trên 37 tuần là 82%. Đa phần các bệnh nhân đều chấp nhận và dễ chịu với vòng nâng cổ tử cung, các bất tiện sau đặt vòng hay gặp nhất là tiết dịch âm đạo (14/72), táo bón và cơn co tử cung (4/72). Tuổi thai khi tháo vòng trung bình là 36,08 ± 4,83 tuần, tuổi thai khi sinh trung bình là 37,15 ± 3,56 tuần, cân nặng thai nhi trung bình là 2872 ± 49 gram. Tỷ lệ tử vong sơ sinh là 2,78%. 21/72 trường hợp có chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm, chiều dài cổ tử cung trên siêu âm đường âm đạo ≤ 25mm làm tăng tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần (với p < 0,05). Kết luận: đặt vòng nâng cổ tử cung là thủ thuật đơn giản, thuận tiện, bước đầu cho kết quả tương đối khả quan. Cần có thêm những nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên có đối chứng về đề tài này. Abstract RESULTS OF CERVICAL PESSARY ON PREVENT PRETERM BIRTH AT THE HAI PHONG OBSTETRICS HOSPITAL Objectives: To determine the results of the cervical pessary ring setting technique for preventing preterm delivery in women at risk of preterm birth from 14 to 27 weeks gestation at the Hai Phong Obstetrics Hospital, for a period of 01 / 01/2017 to 31/12/2017. Materials and Method: description, cross section. Results: the prevalence of preterm birth less than 34 weeks of gestation was 8.33%, and the birth at more than 37 weeks of gestation TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 61 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 60 - 64, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 was 82%. The majority of patients are well tolerated and comfortable with pessary ring. The most common adverse events are vaginal discharge (14/72), constipation and uterine contractions (4/72). Mean gestational age at remove pesary ring was 36.08 ± 4.83 weeks, mean gestational age at delivery was 37.15 ± 3.56 weeks, mean fetal weight was 2872 ± 49 grams. The mortality neonatal rate was 2.78%. 21/72 with length of cervical on vaginal ultrasound ≤ 25 mm, this cervical length on vaginal ultrasound less than 25 mm increased preterm birth rate under 34 weeks (p <0.05). Conclusion: cervical pessary ring technique is a simple, convenient procedure, the initial results are relatively satisfactory. More prospective, randomized controlled trials are needed. 1. Đại cương Đẻ non là vấn đề hàng đầu gây nên hơn 50% tỷ lệ tử vong chu sinh. Đẻ non có nhiều yếu tố nguy cơ bao gồm hở eo tử cung và đa thai. Vì thế có nhiều chiến lược quản lý thai kỳ đã được đề xuất để dự phòng đẻ non. Nếu khâu vòng cổ tử cung (CTC) là một kỹ thuật xâm lấn yêu cầu có gây tê và có thể liên quan tới nhiều biến chứng, liên quan tới tuổi thai khi tiến hành kỹ thuật và còn nhiều ý kiến trái chiều về hiệu quả cũng như nhóm bệnh nhân được hưởng lợi từ kỹ thuật này. Đặt vòng nâng CTC lại là một kỹ thuật đơn giản, không xâm lấn có thể thay thế kỹ thuật khâu vòng CTC trong dự phòng nguy cơ đẻ non. Mặc dù đặt vòng nâng CTC đã được đề xuất như một giải pháp hỗ trợ CTC từ rất sớm từ 1959, cho đến nay vẫn còn rất ít số liệu về hiệu quả của nó trong việc giảm thiểu tỷ lệ đẻ non và nhóm bệnh nhân nào có thể được lợi ích từ việc sử dụng vòng nâng. Phần lớn các nghiên cứu này thường sử dụng vòng Arabin, một loại vòng mềm dẻo, bằng chất liệu silicone và có hình tròn, có nhiều kích cỡ khác nhau để phù hợp nhất với từng kích cỡ CTC. Về cơ chế làm việc của vòng nâng CTC có 2 giả thiết hàng đầu: thứ nhất do vòng làm CTC được khép kín, thứ hai vòng nâng CTC được cho là làm thay đổi độ nghiêng của kênh CTC, từ đó có hiệu quả trong dự phòng đẻ non và có thể là một thay thế an toàn, không xâm lấn hơn so với khâu vòng CTC [1]. Một nghiên cứu tổng quan hệ thống năm 2013 cho thấy trong 385 thai phụ có tuổi thai từ 18 đến 22 tuần có chiều dài CTC dưới 25mm, nhóm được đặt vòng nâng CTC (192 người) có tỷ lệ đẻ non tự nhiên dưới 37 tuần giảm có ý nghĩa thống kê so với nhóm không đặt vòng nâng CTC (22% so với 59% RR 0,36, 95% CI 0,27 – 0,49). Tỷ lệ đẻ non tự nhiên dưới 34 tuần giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm đặt vòng nâng CTC (lần lượt là 6 so với 27% RR 0,24 95% CI 0,13 – 0,43). Tuổi thai khi sinh trung bình là 37,7 ± 2 tuần ở nhóm đặt vòng và 34,9 ± 4 tuần ở nhóm không đặt vòng CTC, trong khi triệu chứng khó chịu ở âm đạo gặp nhiều ở nhóm đặt vòng nâng CTC hơn [2]. Công bố năm 2017, một phân tích gộp từ 3 nghiên cứu thử nghiệm (gồm 1412 phụ nữ) đã chỉ ra rằng đặt vòng nâng CTC không làm giảm nguy cơ đẻ non tự nhiên dưới 34 tuần ở những phụ nữ này (RR 0,71 95% CI 0,21-2,43. p = 0,59 ; I2 = 90%) và đòi hỏi có thêm những nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên có đối chứng khác [3]. Nói chung, không có báo cáo nào về mối liên hệ giữa việc đặt vòng nâng CTC và tăng tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng âm đạo. Trong trường hợp rất hiếm, huyết khối tĩnh mạch CTC, rách, co bóp CTC, chảy máu, bí tiểu, và các biến chứng khác đã được báo cáo [1]. Vì còn nhiều ý kiến trái ngược nhau về hiệu quả của việc đặt vòng nâng CTC, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm góp phần tìm hiểu hiệu quả của kỹ thuật đặt vòng nâng CTC đối với việc dự phòng đẻ non ở những thai phụ có nguy cơ cao. VŨ VĂN TÂM, VŨ THỊ MINH PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN LỢI 62 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Các bệnh nhân mang thai 14 tuần khám thai định kỳ; các bệnh nhân điều trị nội trú dọa sẩy thai và dọa đẻ non, được thăm khám và đo độ dài CTC qua siêu âm đường âm đạo. Chúng tôi nhận vào nghiên cứu những trường hợp sau: - Tiền sử đẻ non. - Chiều dài CTC ngắn (< 30mm) hoặc lỗ trong CTC mở trên siêu âm ngả âm đạo (dạng U/V). - Đa thai. - Thai kỳ từ 14 đến 27 tuần thai. - Có đầy đủ dữ liệu nghiên cứu, theo dõi đến khi sinh. Tiêu chuẩn loại trừ - Không có đầy đủ dữ liệu nghiên cứu - Mất dấu. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang, ngẫu nhiên. Thời gian nghiên cứu từ 01/01/2017 đến 31/12/2017 tại đơn nguyên điều trị nội khoa và hậu sản, bệnh viện phụ sản Hải Phòng. Các bệnh nhân được theo dõi đến khi sinh. Cỡ mẫu nghiên cứu thuận tiện, không xác suất. Thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0. 3. Kết quả và bàn luận 3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu Tuổi bệnh nhân 28,38 ± 4,77 19 – 40 Tuổi thai 17,69 ± 2,88 14 – 27 Số lần mang thai 1 lần 22/72 30% ≥ 2 lần 50/72 70% Tính chất thai kỳ Thai tự nhiên 58/72 81% Thai IUI/IVF 14/72 19% Số thai Đơn thai 66/72 91,7% Song thai 5/72 6,9% Tam thai 1/72 1,4% Tiền sử sản khoa Sẩy thai > 12 tuần 4/72 5,55% Đẻ non 18/72 25% Khâu vòng CTC 1/72 1,4% Bảng 1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Trong 1 năm thu thập số liệu chúng tôi nhận 72 trường hợp vào nghiên cứu. Các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có độ tuổi trung bình là 28,38 ± 4,77, thấp nhất là 19 tuổi, lớn tuổi nhất là 40 tuổi, đây cũng là độ tuổi sinh đẻ thông thường. Các thai phụ có tuổi thai trung bình là 17,69 ± 2,88 tuần, đa phần đều ở quý 2 của thai kỳ, là giai đoạn tử cung đã phát triển to hơn, gây áp lực lên CTC và gia tăng nguy cơ sẩy thai hoặc đẻ non. Các đối tượng đa phần mang thai từ lần 2 trở lên (70%), trong đó có 19% là thai kỳ từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản IUI/IVF. Trong 72 trường hợp nhận vào nghiên cứu có đa số là đơn thai (chiếm 91,7%), song thai chiếm 6,9%, duy nhất có 1 trường hợp tam thai 16 tuần. Đây là một thai kỳ tự nhiên phát hiện muộn nên không tiến hành giảm thai như thường quy, bệnh nhân có nguy cơ sẩy thai và đẻ non cao. Về tiền sử sản khoa có 25% đối tượng có tiền sử ít nhất một lần đẻ non, 5,55% trường hợp từng sẩy thai > 12 tuần, đều là nguyên nhân làm CTC trở nên yếu hơn, nằm trong nhóm có nguy cơ đẻ non cao. Trong 72 trường hợp nghiên cứu có 23 ca có tình trạng dọa sẩy thai, 2 trường hợp có triệu chứng dọa đẻ non, chúng tôi đã điều trị nội khoa đến hết các triệu chứng trên mới tiến hành đặt vòng nâng CTC. Có 15 trường hợp viêm âm đạo – cổ tử cung đã được đặt thuốc và kiểm tra lại trước khi đặt vòng nâng. Bệnh lý n % Dọa sẩy thai 23/72 31,94 Dọa đẻ non 2/72 2,78 Viêm âm đạo – CTC 15/72 20,83 Polyp CTC 3/72 4,17 Bảng 2. Bệnh lý kèm theo Dị dạng đường sinh dục Tử cung đôi 2/72 2,78% Tử cung 2 sừng 1/72 1,39% Vách ngăn âm đạo 1/72 1,39% Khám CTC trên lâm sàng CTC ngắn 57/72 79,17% CTC không ngắn 15/72 20,83% Độ mở lỗ ngoài CTC Đóng kín 34/72 47,22% Hé lỗ ngoài 35/72 48,61% Loe lỗ ngoài 3/72 4,17% Chiều dài CTC trên siêu âm đường âm đạo (mm) 27,50 20 - 45 Bảng 3. Đặc điểm về sản khoa TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 63 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 Trong 72 trường hợp đặt vòng nâng CTC, có 12 trường hợp phải dùng thêm thuốc nội tiết hoặc giảm co, trong đó có 9 trường hợp phải nằm viện. Đặc biệt có 6 trường hợp nguy cơ cao do đó được kết hợp khâu vòng CTC. Theo dõi dọc đến khi sinh thì 6 trường hợp điều trị phối hợp này đều có kết cục thai kỳ kéo dài > 37 tuần. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 6 trường hợp đẻ non trước 34 tuần chiếm tỷ lệ 8,33%; tỷ lệ sinh > 37 tuần chiếm tỷ lệ rất cao 82% cho thấy hiệu quả khả quan của kỹ thuật. Chúng tôi khuyến cáo bệnh nhân tháo vòng sau 37 tuần hoặc khi có dấu hiệu chuyển dạ, tuy nhiên tuổi thai khi tháo vòng (hoặc vòng bị rơi, bị tuột) trung bình là 36,08 tuần, thấp nhất là 17 tuần, dài nhất là 40 tuần. Cá biệt có trường hợp sẩy thai lúc 17 tuần, sau đặt vòng nâng 1 tuần, trong tình trạng có biểu hiện dọa sẩy thai do gắng sức trước đó mà không điều trị. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 60 - 64, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Trong 72 trường hợp chúng tôi ghi nhận có 4 ca dị dạng đường sinh dục: 3 ca dị dạng tử cung đều kèm theo CTC ngắn, 1 trường hợp có vách ngăn lửng âm đạo. Có 79,17% khám bằng tay thấy CTC ngắn, trong đó phần lớn (48,61%) có CTC hé mở và chỉ có 3 trường hợp CTC loe lỗ ngoài. Chiều dài CTC trên siêu âm ngả âm đạo thường được coi là tiêu chuẩn đáng tin cậy trong chuẩn đoán CTC ngắn cần can thiệp. Nghiên cứu của chúng tôi có độ dài CTC trung bình là 27,50 mm, trường hợp ngắn nhất là 20mm, dài nhất là 45mm. Việc đặt vòng nâng CTC là thủ thuật đơn giản, đa phần đều dễ thực hiện tuy nhiên có 2 trường hợp âm đạo quá chật hẹp, bệnh nhân không hợp tác nên thủ thuật khó đặt (chiếm tỷ lệ 2,78%). Đa phần các bệnh nhân đều chấp nhận và dễ chịu với vòng nâng CTC. Sự bất tiện sau thủ thuật đặt vòng nâng thường gặp nhất là phản ứng tiết dịch âm đaọ quá mức (14/72 trường hợp), bệnh nhân có thể tiết nhiều dịch âm đạo màu nâu, màu hồng nhạt, màu vàng hoặc màu trắng; thời gian tiết dịch quá mức đa phần là 1 – 2 tuần đầu. Đặc biệt có 3 trường hợp phải tháo vòng vì tiết dịch quá mức, trong đó 1 bệnh nhân tháo vòng nâng để khâu vòng CTC, 2 bệnh nhân còn lại nằm viện và dùng thuốc để kéo dài thai kỳ đến ngày sinh. Có 3 trường hợp tháo vòng để đặt lại vòng năng CTC, 1 trong số đó vì nguyên nhân táo bón, 2 trường hợp vì vệ sinh vòng. Bất tiện hay gặp tiếp theo là táo bón và cơn co tử cung. Có 3 bệnh nhân bị bí tiểu, 1 trường hợp phải thông tiểu, 1 trường hợp đái máu phải điều trị. Kết quả này của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của Sophie Liem 2013 có tỷ lệ tiết dịch âm đạo 26%, đau 4%. Sự khác biệt này do chúng tôi đã chuẩn bị bệnh nhân và điều trị hết viêm âm đạo trước khi tiến hành thủ thuật [4]. Chúng tôi ghi nhận 1 ca sốt do nhiễm trùng đường tiết niệu, ngoài ra không gặp trường hợp nào có huyết khối tĩnh mạch CTC. n % Dễ 70 97,22 Khó 2 2,78 Bảng 4. Kỹ thuật đặt vòng nâng Hình 1. Các bất tiện sau khi đặt vòng nâng CTC. n % Thuốc nội tiết, giảm co 12 16,67 Nằm viện 9 12,50 Khâu vòng phối hợp 6 8,33 Bảng 5. Điều trị phối hợp sau đặt vòng nâng CTC n % Đẻ non < 28 tuần 2/72 2,78 Đẻ non < 34 tuần 6/72 8,33 Đẻ non 34 - < 37 tuần 7/72 9,72 Sinh ≥ 37 tuần 59/72 82 Tuổi thai khi tháo vòng ( hoặc rơi vòng) 36,08 ± 4,83 17 – 40 Tuổi thai khi sinh 37,15 ± 3,56 17 - 42 Bảng 6. Kết cục thai kỳ Tỷ lệ đẻ non < 34 tuần Shuk Yi Annie Hui, 2012 9,4% [5] Goya M 2012 11,23% [6] Nicolaides 2016 12% [7] Vũ Văn Tâm, 2018 8,33% Bảng 7. Tỷ lệ sinh non < 34 tuần qua các nghiên cứu VŨ VĂN TÂM, VŨ THỊ MINH PHƯƠNG, NGUYỄN VĂN LỢI 64 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Tuổi thai khi sinh trung bình là 37,15 ± 3,56 tuần. Tỷ lệ này của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của tác giả trên thế giới. Nghiên cứu có đa số nhi sống sót sau sinh 70/72 tức 97,22%. Tỷ lệ tử vong sơ sinh chiếm tỷ lệ 2,78%. Cân nặng lúc sinh trung bình là 2872 ± 49, thấp nhất là 3 trẻ sinh ba: 2 bé 1100gram, 1 bé nặng 1000gram. So với tỷ lệ tử vong sơ sinh trung bình ở nước ta theo MICS 2014 là 8,99% đến 14,69% [8] thì nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả sơ sinh rất tích cực. Kết quả này của chúng tôi cũng tương tự các nghiên cứu khác trên thế giới. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần ở nhóm bệnh nhân có tiền sử đẻ non và không có tiền sử đẻ non là như nhau. n % Sống 70 97,22 Tử vong 2 2,78 Cân nặng trung bình (gram) 2872 ± 49 1000 - 3800 Bảng 8. Kết cục thai nhi Đẻ non 34 tuần Tổng p Có TS đẻ non 3 16 19 p > 0,05Không có TS đẻ non 3 50 53 Tổng 6 66 72 OR = 3,12 CI 95%: 0,57 – 17,04 Bảng 9. Mối liên quan giữa tiền sử đẻ non và tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần Đẻ non 34 tuần Tổng p CTC ngắn 6 53 59 p > 0,05CTC không ngắn 0 13 13 Tổng 6 66 72 OR = 0,89 CI 95%: 0,82 – 0,98 Bảng 10. Mối liên quan giữa chiều dài CTC khi thăm khám với tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần Đẻ non 34 tuần Tổng p CTC ≤ 25 mm 5 16 21 p 25 mm 1 50 51 Tổng 6 66 72 Bảng 11. Mối liên quan giữa chiều dài CTC trên siêu âm đầu dò âm đạo với tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần Nghiên cứu cho thấy không có trường hợp nào CTC dài mà đẻ non dưới 34 tuần, ngược lại có 6/59 trường hợp CTC ngắn đẻ non < 34 tuần, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Trong nghiên cứu của chúng tôi chiều dài CTC dưới 25mm gặp 21 trường hợp tương ứng với 29,16%, khi chiều dài CTC trên siêu âm đường âm đạo ngắn hơn 25mm thì tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần tăng lên đáng kể, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Như vậy chiều dài CTC trên siêu âm đường âm đạo là biến số có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ sinh dưới 34 tuần. Kết luận này của chúng tôi cũng giống các nghiên cứu của các tác giả khác. 4. Kết luận - Kỹ thuật đặt vòng nâng CTC là một kỹ thuật dễ thực hiện, giúp các bệnh nhân nhóm nguy cơ cao có thể kéo dài thai kỳ > 37 tuần với tỷ lệ cao (82%). - Tỷ lệ đẻ non dưới 34 tuần ở những bệnh nhân áp dụng kỹ thuật này thấp 8,33%. - Tỷ lệ tử vong sơ sinh thấp 2,78% - Gia tăng nguy cơ đẻ non dưới 34 tuần một cách có ý nghĩa thống kê với những trường hợp chiều dài CTC qua đường âm đạo dưới 25mm. Tài liệu tham khảo 1. Cerclage Pessary for Preventing Preterm Birth in Women with a Singleton Pregnancy and a Short Cervix at 20 to 24 Weeks: A Randomized Controlled Trial. Shuk Yi Annie Hui et al. American Journal of Perinatology. 2. Using a cervical pessary to prevent preterm birth. Cochrane Pregnancy and childbirth Group. May 2013. 3. Cervical Pessary for Prevention of Preterm Birth: A Meta-Analysis. Xin- Hang Jin, Dan Li,2 and Li-Li Huanga. Sci Rep. 2017; 7: 42560. Published online 2017 Feb 17. doi: 10.1038/srep42560. [PubMed] 4. Cervical pessaries for prevention of preterm birth in women with a multiple pregnancy (ProTWIN): a multicentre, open-label randomised controlled trial Sophie Liem, Ewoud Schuit. www.thelancet.com Vol 382 October 19, 2013 5. Cerclage Pessary for Preventing Preterm Birth in Women with a Singleton Pregnancy and a Short Cervix at 20 to 24 Weeks: A Randomized Controlled Trial Shuk Yi Annie Hui, Chung Ming Chor. American Journal of Perinatology. July 5, 2012. 6. Cervical pessary in pregnant women with a short cervix (PECEP): an open-label randomised controlled trial. Goya M, Pratcorona L, Merced C. Cervical para Evitar Prematuridad (PECEP) Trial Group. Lancet. 2012 May 12; 379(9828):1800-6A 7. Randomized Trial of a Cervical Pessary to Prevent Preterm Singleton Birth. Kypros H. Nicolaides, Argyro Syngelaki. March 17, 2016. N Engl J Med 2016; 374:1044-1052. DOI: 10.1056/NEJMoa151101. 8. Giám sát thực trạng trẻ em và phụ nữ: điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014. Tổng cục thống kê và UNICEF 2015.
File đính kèm:
ket_qua_cua_ky_thuatdat_vong_nang_co_tu_cung_trong_du_phong.pdf

