Kết quả của chuyển phôi ngày 2 ở các trường hợp tiên lượng tốt trong thụ tinh trong ống nghiệm

Mục tiêu: Đánh giá kết quả có thai của chuyển phôi tươi ngày 2 cho những trường hợp tiên lượng khá trở lên.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, đánh giá kết quả có thai của những trường hợp chuyển phôi ngày 2 có tiên lượng khá trở lên tại IVFAS, Bệnh viện An Sinh, trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2012.

Kết quả: Từ tháng 1/2012 đến tháng 9/2012, tại IVFAS, có tổng cộng 371 trường hợp thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu. Tỷ lệ β-HCG dương tính và tỷ lệ thai lâm sàng của nhóm này lần lượt là 51,9% và 42,0%. Tỷ lệ làm tổ của phôi là 21,6% và tỷ lệ có 1 hoặc 2 thai ở nhóm bệnh này là 82,17%. 100% bệnh nhân chuyển phôi giai đoạn phân chia trên đều có phôi trữ lạnh sau khi đã chuyển phôi tươi.

Kết luận: Kết quả có thai là khá cao khi chuyển phôi ngày 2 ở nhóm bệnh nhân tiên lượng khá trở lên. Kết quả này có thể tương đương với các kết quả nuôi cấy phôi nang đã Báo cáo ở Việt nam. Nếu tính tỉ lệ có thai dồn, kết quả có thai khi chuyển phôi ngày 2 có thể cao hơn

pdf 5 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả của chuyển phôi ngày 2 ở các trường hợp tiên lượng tốt trong thụ tinh trong ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả của chuyển phôi ngày 2 ở các trường hợp tiên lượng tốt trong thụ tinh trong ống nghiệm

Kết quả của chuyển phôi ngày 2 ở các trường hợp tiên lượng tốt trong thụ tinh trong ống nghiệm
Lê hoàNg aNh, LâM aNh TuấN, hồ MạNh TườNgnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
106
KẾT QUẢ CỦA CHUyỂN PHÔI NGÀy 2 
Ở CÁC TRƯỜNG HợP TIÊN LƯợNG TỐT 
TRONG THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
Lê hoàng anh(1,2), Lâm anh Tuấn (1,2), hồ Mạnh Tường (1,2)
(1) IVFAS, Bệnh viện An Sinh
(2) Trung tâm Nghiên cứu Di truyền & Sức khỏe Sinh sản (CGRH)– Khoa Y ĐHQG- TP.HCM
tóm tắt
mục tiêu: Đánh giá kết quả có thai của 
chuyển phôi tươi ngày 2 cho những trường 
hợp tiên lượng khá trở lên.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 
Nghiên cứu hồi cứu, đánh giá kết quả có thai 
của những trường hợp chuyển phôi ngày 2 có 
tiên lượng khá trở lên tại IVFAS, Bệnh viện An 
Sinh, trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 9 
năm 2012.
Kết quả: Từ tháng 1/2012 đến tháng 9/2012, 
tại IVFAS, có tổng cộng 371 trường hợp thỏa 
tiêu chuẩn nghiên cứu. Tỷ lệ β-hCG dương tính 
và tỷ lệ thai lâm sàng của nhóm này lần lượt là 
51,9% và 42,0%. Tỷ lệ làm tổ của phôi là 21,6% 
và tỷ lệ có 1 hoặc 2 thai ở nhóm bệnh này là 
82,17%. 100% bệnh nhân chuyển phôi giai 
đoạn phân chia trên đều có phôi trữ lạnh sau 
khi đã chuyển phôi tươi. 
Kết luận: Kết quả có thai là khá cao khi 
chuyển phôi ngày 2 ở nhóm bệnh nhân tiên 
lượng khá trở lên. Kết quả này có thể tương 
đương với các kết quả nuôi cấy phôi nang đã 
báo cáo ở Việt nam. Nếu tính tỉ lệ có thai dồn, 
kết quả có thai khi chuyển phôi ngày 2 có thể 
cao hơn. 
từ khóa: pregnancy outcomes, good 
prognosis, day-2 embryo transfer
abStract
objective: To evaluate pregnancy 
outcomes in good prognosis patients after 
day-2 embryo transfer
method: Restrospective study in IVFAS – An 
Sinh hospital from January to September 2012
result: From Jan 2012 to Sep 2012, in IVFAS, 
371 cases were included in our study. Positive 
β-hCG rate and clinical pregnancy rate were 
51,9% and 42% respectively. The implantation 
rate was 21,6% while the rate of singleton and 
twins was 82,17%. All patients in this group had 
frozen embryos.
conclusion: High clinical pregnancy 
outcomes in good prognosis group after 
day-2 embryo transfer. This result is similar to 
blastocyst transfer in Vietnam. Moreover, higher 
cumulative pregnancy rate was observed in 
this group 
ĐẶt vấn Đề
Hiện nay, ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản 
trên toàn thế giới, chuyển phôi cho bệnh 
nhân có thể được thực hiện vào ngày 2/
ngày 3 (phôi giai đoạn phân chia) hoặc phôi 
ngày 5/ngày 6 (phôi nang). Những cải thiện 
của hệ thống nuôi cấy phôi hiện nay đã dần 
dần hình thành xu hướng mới trong chuyển 
phôi là chuyển phôi giai đoại phôi nang thay 
cho chuyển phôi giai đoạn phân chia trong 
những trường hợp nhóm bệnh nhân có tiên 
lượng tốt [1]
Cơ sở lý luận của xu hướng này là môi 
trường tử cung thích hợp cho sự phát triển 
của phôi nang, trong khi phôi giai đoạn 
phân chia phù hợp với môi trường sinh lý tự 
nhiên ở vòi trứng hơn. Việc nuôi cấy phôi kéo 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
107
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 106-110, 2013
dài cũng được cho là giúp các chuyên viên 
phôi học có điều kiện lựa chọn phôi có sức 
sống tốt nhất để chuyển cho bệnh nhân. Tuy 
nhiên, các số liệu gần đây trên y văn cho thấy 
không giúp chứng minh ưu điểm của nuôi cấy 
phôi nang trong thụ tinh trong ống nghiệm 
(TTTON), ngay cả ở những trường hợp tiên 
lượng tốt [2]
Gần đây, một số trung tâm ở Việt nam đã 
báo cáo kết quả bước đầu của nuôi cấy phôi 
nang ở những trường hợp tiên lượng tốt. 
Tuy nhiên, chưa có báo cáo nào về kết quả 
có thai của chuyển phôi giai đoạn phân chia 
cho những trường hợp tiên lượng tốt. Việc 
so sánh các kết quả này sẽ góp phần định 
hướng cho việc phát triển kỹ thuật nuôi cấy 
phôi nang ở Việt nam. 
ĐỐi tƯỢng và phƯơng phÁp 
nghiÊn cứu
Nghiên cứu hồi cứu, đánh giá kết quả có 
thai của những trường hợp chuyển phôi ngày 
2 có tiên lượng khá trở lên tại IVFAS, Bệnh viện 
An Sinh.
Đối tượng nghiên cứu là các trường hợp 
chuyển phôi tươi ngày 2 có tiên lượng khá tốt 
tại IVFAS trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 
9 năm 2012.
tiêu chuẩn nhận
- Bệnh nhân có tối đa 2 chu kỳ thất bại 
trước đó
- Bệnh nhân < 38 tuổi
- Bệnh nhân có tối thiểu 4 phôi loại I vào 
ngày 2.
tiêu chuẩn loại
- Các chu kỳ xin-cho trứng
- Các chu kỳ nuôi trưởng thành trứng non 
trong ống nghiệm (IVM: In vitro maturation) 
các yếu tố đánh giá kết quả bao gồm:
- Tỷ lệ βhCG dương tính
- Tỷ lệ thai lâm sàng 
- Tỷ lệ làm tổ của phôi 
- Tỷ lệ đơn thai và song thai 
Các số liệu được theo dõi và xử lý bằng phần 
mềm Excel.
Kết QuẢ
1. Đặc Điểm bệnH nHân
Từ tháng 1/2012 đến tháng 9/2012, tại 
IVFAS, có tổng cộng 371 trường hợp thỏa tiêu 
chuẩn nghiên cứu. 
2.kết quả cHuyển pHôi ngày 2
Tỷ lệ β-hCG dương tính và tỷ lệ thai lâm sàng 
của nhóm này lần lượt là 51,9% và 42,0%. 
Tỷ lệ làm tổ của phôi là 21,6% và tỷ lệ có 1 
hoặc 2 thai ở nhóm bệnh này là 92,2%. 
100% bệnh nhân chuyển phôi giai đoạn 
phân chia trên đều có phôi trữ lạnh sau khi đã 
chuyển phôi tươi. 
bàn luận
Kết quả có thai của các trường hợp trong 
nghiên cứu là khá cao. Ngoài ra, tất cả các 
trường hợp trên đều có phôi dư đủ điều kiện 
đông lạnh. Tỷ lệ thai lâm sàng của chuyển phôi 
rã đông hiện nay của chúng tôi hiện nay dao 
Đặc điểm bệnh nhân (n=371) Kết quả
Tuổi trung bình 30,9 ± 3,5
NMTC trung bình (mm) 11,8 ± 2,1
số phôi chuyển trung bình 3,6 ± 0,5
số phôi tốt chuyển trung bình 3,0 ± 0,5
Lê hoàNg aNh, LâM aNh TuấN, hồ MạNh TườNgnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
108
động từ 25-30% (Tỉ lệ β-hCG dương tính từ 35-
40%). Do đó, tỉ lệ có có thai tích lũy ở nhóm 
bệnh nhân này còn cao hơn, có thể lên đến 60-
70% cho một chu kỳ điều trị. 
Quan điểm hiện nay cho rằng việc chuyển 
phôi giai đoạn phôi nang chỉ có tác dụng hỗ 
trợ các nhà phôi học và bác sĩ lâm sàng chọn 
được phôi có sức sống tốt nhất để chuyển phôi, 
việc nuôi cấy kéo dài không giúp bản thân phôi 
phát triển tốt hơn. Thực tế, việc nuôi cấy phôi 
kéo dài trong môi trường nhân tạo có thể gây 
stress lên phôi và làm giảm khả năng sống và 
làm tổ của phôi [3]
Những cặp vợ chồng điều trị hiếm muộn 
được chỉ định chuyển phôi nang có nguy cơ 
hủy chu kỳ điều trị do không có phôi phát triển 
đến giai đoạn phôi nang hoặc sẽ có số phôi trữ 
ít hơn rất nhiều so với chuyển phôi giai đoạn 
phân chia. 
So với chuyển phôi nang, chuyển phôi giai 
đoạn phân chia đơn giản và thuận tiện hơn. 
Việc nuôi cấy phôi đơn giản, không đòi hỏi 
nhiều tủ cấy riêng biệt, công việc của lab ít hơn, 
qui trình đối với bệnh nhân đơn giản hơn, tác 
động của sự không ổn định của hệ thống nuôi 
cấy lên kết quả ít hơn. 
Trong nuôi cấy phôi nang, để kết quả nuôi 
cấy ổn định, tỉ lệ phát triển phôi nang cao, duy 
trì khả năng sống của phôi và giảm các tác 
động bất lợi lên quá trình phát triển của phôi 
in-vitro, đòi hỏi phải có một hệ thống nuôi cấy 
phôi hoàn chỉnh với các qui trình kiểm soát 
chất lượng tốt. Chi phí đầu tư cho hệ thống này 
là rất tốn kém.
Chuyển phôi nang Chuyển phôi giai đoạn phân chia
Thời gian nuôi cấy 5-6 ngày 2-3 ngày
Chi phí Cao hơn CpN2 -
hệ thống nuôi cấy phôi phức tạp Đơn giản hơn
Quy trình quản lý chất lượng phức tạp Đơn giản hơn
số phôi chuyển 1-2 2-4
Tỷ lệ làm tổ Cao Thấp
Đa thai Thấp Cao
hủy chu kỳ Cao hầu như không có
số phôi trữ lạnh ít Nhiều
Bảng 1. Ưu và khuyết điểm của chuyển phôi ngày 5 so với chuyển phôi ngày 2
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
109
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 106-110, 2013
Chuyển phôi ngày 5 Chuyển phôi ngày 2 tại IVFAS
Minh và cs. (2012) [4] Tuyền và cs. (2012) [5] hiền và cs. (2012) [6] anh và cs. (2012)
số trường hợp N=175 N=24 N=99 N=371
số phôi chuyển trung bình 3,5±1 - 1,4±0,9 3,6±0,5
Tỷ lệ βhCg 46,24% - 49,5% 51,9%
Tỷ lệ thai lâm sàng 42,85% 38,9% 43,9% 42,0%
Tỷ lệ làm tổ 14,05% 34,5% 26,1% 21,6%
Tỷ lệ bệnh nhân có phôi trữ lạnh - - - 100%
Bảng 2. Kết quả chuyển phôi ngày 5 đã báo cáo ở Việt nam 
Đối với chuyển phôi giai đoạn phân chia, 
tỷ lệ làm tổ của phôi thường thấp khoảng 10-
20%. Nghĩa là khoảng 80% số phôi chuyển 
vào không thể tiếp tục phát triển. Nhằm giải 
quyết vấn đề này, chúng ta có khuynh hướng 
gia tăng số phôi chuyển để tăng tỷ lệ thành 
công. Số lượng phôi chuyển ở chuyển phôi 
giai đoạn phân chia cao hơn so với chuyển 
phôi nang, số phôi chuyển trung bình từ 2-4 
phôi tùy thuộc vào độ tuổi của bệnh nhân, 
nguyên nhân vô sinh và tổng số chu kỳ điều 
trị trước đó. Do đó, đa thai có thể là một 
vấn đề đối với chuyển phôi giai đoạn phân 
chia. Tuy nhiên, ở Việt nam, kỹ thuật giảm 
thai được chấp nhận và áp dụng rộng rãi. 
Các trung tâm TTTON đều có thể áp dụng kỹ 
thuật này với tỉ lệ thành công cao. Do đó, đây 
có thể không phải là một vấn đề lớn của hỗ 
trợ sinh sản ở Việt Nam hiện nay. 
Chi phí triển khai nuôi cấy phôi nang ở Việt 
nam có thể rất tốn kém nếu đầu tư đúng mức:
- Nhân sự
- Trang thiết bị
- Dụng cụ tiêu hao, hóa chất, môi trường
- Hệ thống kiểm soát chất lượng
- Thay đổi trong qui trình tư vấn bệnh nhân 
về ngày chuyển phôi
Điều này càng làm tăng chi phí TTTON vốn 
đã khá cao so với thu nhập bình quân hiện này 
ở Việt nam.
Theo kết quả của một số báo cáo về 
chuyển phôi ngày 5 mới nhất tại các hội nghị 
khoa học trong nước, chúng tôi nhận thấy 
số phôi nang chuyển một số nơi còn nhiều, 
Lê hoàNg aNh, LâM aNh TuấN, hồ MạNh TườNg; Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 106-110, 2013nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
110
tỉ lệ phôi làm tổ chưa cao và kết quả thai 
lâm sàng không khác biệt so với báo cáo 
của chúng tôi. Thật sự, nếu tính cả kết quả 
chuyển phôi trữ, chúng tôi có thể đạt tỉ lệ có 
thai dồn cao hơn nhiều. 
Dựa vào kết quả và các phân tích trên 
chúng tôi cho rằng các trung tâm TTTON 
hiện nay ở Việt Nam cần đầu tư cải thiện qui 
trình TTTON và hệ thống nuôi cấy phôi để 
cải thiện kết quả điều trị của chuyển phôi 
giai đoạn phân chia. Ngoài ra, hệ thống phân 
loại, đánh giá noãn, phôi cần được đầu tư để 
giúp chọn lựa phôi tốt nhất [7, 8, 9, 10]. Các 
trung tâm đã có qui trình kỹ thuật tốt, kết 
quả điều trị cao và ổn địnhvới chuyển phôi 
giai đoạn phân chia có thể nghiên cứu triển 
khai nuôi cấy phôi nang. 
Kết luận
Kết quả có thai là khá cao khi chuyển phôi 
ngày 2 ở nhóm bệnh nhân tiên lượng khá trở 
lên. Kết quả này có thể tương đương với các 
kết quả nuôi cấy phôi nang đã báo cáo ở Việt 
nam. Nếu tính tỉ lệ có thai dồn, kết quả có thai 
khi chuyển phôi ngày 2 có thể cao hơn. 
Việc triển khai nuôi cấy phôi nang ở Việt 
nam hiện nay khá tốn kém, có thể chưa phù 
hợp và không cải thiện đáng kể tỉ lệ thành 
công của TTTON.
Tài liệu Tham khảo
1. Ariel Weissman et al., Blastocyst 
culture and transfer: lessons from an 
unselected, difficult IVF population, 
RBM Online, 2008, Vol 17, No 2, 220-228
2. Dermián Glujovsky et al., Cleavage 
stage versus blastocyst stage embryo 
transfer in assisted reproductive 
technology (Review), The Crochane 
Library 2012, Issue 7
3. Gábor Vajta et al., Embryo culture: 
can we perform better than nature?, 
RBM online (2010), 20, 453-469
4. Nguyễn Thị Minh, Đánh giá hiệu quả 
chuyển phôi ngày 5, IVF Expert meeting 
8, 2012, 55-62
5. Hoàng Thị Bích Tuyền, Đánh giá 
kết quả ban đầu thực hiện nuôi cấy phôi 
Blastocyst và chuyển phôi ngày 5 tại 
trung tâm IVF – Bệnh viện Hùng Vương, 
IVF Expert meeting 8, 2012, 155-160
6. Bùi Thị Thu Hiền, Kết quả chuyển 
phôi ngày 5 tại IVF Vạn Hạnh, IVF Expert 
meeting 8, 2012, 143-146
7. Claude Giogetti, Early Cleavage: an 
additional predictor of high implantation rate 
following elective single embryo transfer.
8. Lynette Scott, Pronuclear scoring 
as a predictor of embryo development, 
RBM Online, 2003, 6 (2): 201-214.
9. Mariabeatrice Dal Canto et al., 
Cleavage kinetics analysis of human 
embryos predict development to 
blastocyst and implantation, RBM 
Online, 2012, 25: 474-480
10. Phillipe Terriou, Relationship 
between even early cleavage and day 2 
embryo score and assessment of their 
predictive value for pregnancy, RBM 
Online, 2007, 14 (3): 294-299.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_cua_chuyen_phoi_ngay_2_o_cac_truong_hop_tien_luong_t.pdf