Kết quả của can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Mục tiêu: Đánh giá kết quả của can thiệp nội mạch điều trị bệnh lý hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo qua cầu nối động – tĩnh mạch ở tay cùng bên.

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả các bệnh nhân bị hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo được can thiệp nội mạch (nong bóng, đặt stent) tại khoa Phẫu thuật Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2019.

Kết quả: Chúng tôi đã thực hiện 32 trường hợp tạo hình tĩnh mạch trung tâm với gây tê tại chỗ qua đường vào là cầu nối động – tĩnh mạch ở tay cùng bên. Tuổi trung bình là 55,6 ± 3,2, tỉ lệ nam/nữ là 1,67/1. Chỉ định can thiệp lần lượt là phù tay (100%), đau tay (75%), loạn dưỡng da (50%), dãn tĩnh mạch nông vùng cổ, mặt cùng bên (50%). Trong đó có 62,5% số bệnh nhân đã được đặt ống thông tĩnh mạch vùng cổ để chạy thận cùng bên với thương tổn. Mỗi ca can thiệp cần thời gian trung bình khoảng 66,3 ± 6,2 phút. Có 6 trường hợp cần phải đặt stent sau khi nong bóng không hiệu quả. Thành công về kỹ thuật đạt 87,5%. Không có biến chứng lớn hay tử vong sau thủ thuật. Các triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt sau thủ thuật trong tất cả các trường hợp. Thời gian nằm viện trung bình sau can thiệp khoảng 2,5 ± 0,8 ngày. Sau 6 tháng, có đến 10 trường hợp (31,3%) cần phải can thiệp lại

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả của can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả của can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Kết quả của can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo
KẾT QUẢ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠNG ĐIỀU TRỊ HẸP, TẮC TĨNH MẠCH TRUNG TÂM... 
 27 
KẾT QUẢ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠCH ĐIỀU TRỊ HẸP, TẮC TĨNH MẠCH 
TRUNG TÂM TRÊN BỆNH NHÂN CHẠY THẬN NHÂN TẠO 
Dương Đinh Bảo*, Trần Quyết Tiến* 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Đánh giá kết quả của can thiệp 
nội mạch điều trị bệnh lý hẹp, tắc tĩnh mạch trung 
tâm ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo qua cầu nối 
động – tĩnh mạch ở tay cùng bên. 
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả 
các bệnh nhân bị hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm ở 
bệnh nhân chạy thận nhân tạo được can thiệp nội 
mạch (nong bóng, đặt stent) tại khoa Phẫu thuật 
Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1/2017 
đến tháng 12/2019. 
Kết quả: Chúng tôi đã thực hiện 32 
trường hợp tạo hình tĩnh mạch trung tâm với 
gây tê tại chỗ qua đường vào là cầu nối động – 
tĩnh mạch ở tay cùng bên. Tuổi trung bình là 
55,6 ± 3,2, tỉ lệ nam/nữ là 1,67/1. Chỉ định can 
thiệp lần lượt là phù tay (100%), đau tay (75%), 
loạn dưỡng da (50%), dãn tĩnh mạch nông vùng 
cổ, mặt cùng bên (50%). Trong đó có 62,5% số 
bệnh nhân đã được đặt ống thông tĩnh mạch 
vùng cổ để chạy thận cùng bên với thương tổn. 
Mỗi ca can thiệp cần thời gian trung bình 
khoảng 66,3 ± 6,2 phút. Có 6 trường hợp cần 
phải đặt stent sau khi nong bóng không hiệu 
quả. Thành công về kỹ thuật đạt 87,5%. Không 
có biến chứng lớn hay tử vong sau thủ thuật. 
Các triệu chứng lâm sàng cải thiện rõ rệt sau thủ 
thuật trong tất cả các trường hợp. Thời gian nằm 
viện trung bình sau can thiệp khoảng 2,5 ± 0,8 
ngày. Sau 6 tháng, có đến 10 trường hợp 
(31,3%) cần phải can thiệp lại. 
Kết luận: Can thiệp nội mạch điều trị hẹp, 
tắc tĩnh mạch trung tâm là an toàn, hiệu quả vì 
thành công về kỹ thuật cao, tỉ lệ biến chứng thấp, 
thời gian tiến hành thủ thuật và nằm viện sau thủ 
thuật ngắn. Tuy nhiên, bệnh có tỉ lệ tái phát cao, 
cần phải theo dõi thường xuyên và can thiệp lại 
khi cần để duy trì lưu thông dài hạn. 
Từ khóa: Hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm, 
chạy thận nhân tạo, can thiệp nội mạch. 
THE RESULTS OF ENDOVASCULAR 
TREATMENT OF CENTRAL VENOUS 
STENOSIS OR OBSTRUCTION ON 
HEMODIALYSIS PATIENT 
ABSTRACT: 
Objective: This study aimed to evaluate the 
results of endovascular management of the 
central venous stenosis or obstruction (CVD) in 
hemodialysis (HD) patients via ipsilateral 
arteriovenous fistula (AVF). 
Methods: Retrospective method with HD 
patients treated CVD by interventional therapy 
using balloon or stent, at Vascular Surgery 
department of Cho Ray hospital from January 
2017 to December 2019.1 
Results: There were 32 cases of central 
venoplasty with local anesthesia via ipsilateral 
AVF. The average age was 55,6 ± 3,2, the 
male/female ratio was 1,67/1. Interventional 
indications were arm swelling (100%), pain in the 
arm (75%), skin dystrophy (50%), dilated veins 
in the ipsilateral neck and face (50%). 62,5% of 
them had a history of catheterization which was 
ipsilateral to lession. Each procedure had the 
average time 66,3 ± 6,2 minutes. Stent placement 
was followed after ineffective baloon angioplasty 
in 6 cases. The technique success rate was 87,5%. 
* Bệnh viện Chợ Rẫy 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Trần Quyết Tiến 
Ngày nhận bài: 28/12/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 22/01/2021 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 28 
There was no major complication and death 
perioperatively. The symptoms of venous 
hypertension were resolved after intervention in 
all cases. The postoperative average time in the 
hospital was around 2,5 ± 0,8 days. After 6 
months, there were 10 cases (31,3%) required to 
re-endovascular treatment. 
 Conclusions: The endovascular 
intervention is a safe and effective method for 
CVD because of good rate of technical success, 
low rate of complications, reducing the duration 
of procedure and discharge. However, the 
disease has a high recurrence rate. Enhanced 
follow-up and repeated interventions are 
required to maintain the patency for long term. 
Keywords: Central venous stenosis or 
obstruction, hemodialysis, endovascular treatment. 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Số người mắc suy thận mạn (STM) trên thế 
giới và trong nước đang ngày một gia tăng. Đối 
với Việt Nam, với tỷ lệ mắc khoảng 900 
người/1triệu dân, ước tính có 72.000 bệnh nhân 
STM giai đoạn cuối cần điều trị thay thế thận suy 
[1]. Người bệnh sẽ tử vong nếu không được điều 
trị thay thế thận suy bằng 1 trong 3 phương pháp: 
chạy thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc hoặc 
ghép thận. Để chạy thận lâu dài, bệnh nhân 
thường được phẫu thuật tạo thông nối động – tĩnh 
mạch (AVF). Thông nối động – tĩnh mạch là một 
trong những vấn đề sống còn đối với bệnh nhân 
STM giai đoạn cuối. Hẹp tắc tĩnh mạch đường về 
của thông nối, trong đó có hẹp, tắc tĩnh mạch 
trung tâm là vấn đề thường gặp nhất, làm giảm 
hiệu quả chạy thận và chất lượng cuộc sống của 
bệnh nhân. Hệ tĩnh mạch trung tâm trong AVF 
bao gồm tĩnh mạch dưới đòn, tĩnh mạch cánh tay 
đầu, tĩnh mạch chủ trên [6]. 
Mục tiêu điều trị lý tưởng là vừa giải quyết 
các triệu chứng tăng huyết áp tĩnh mạch vừa duy 
trì sự ổn định của việc chạy thận nhân tạo ở AVF 
cùng bên. Mặc dù phẫu thuật tái tạo tĩnh mạch 
trung tâm có kết quả thông tốt, có tỷ lệ lưu thông 
80%-90% sau một năm [3], nhưng nó có liên 
quan đến tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật cao do vị trí 
của tĩnh mạch trung tâm ở sâu trong lồng ngực và 
sức khỏe kém của bệnh nhân chạy thận nhân tạo. 
Do đó, điều trị nội mạch là phương pháp đầu tay. 
Dưới đây, chúng tôi xin tóm tắt kinh nghiệm của 
chúng tôi về can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc 
tĩnh mạch trung tâm. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Hồi cứu, mô tả hàng loạt trường hợp tắc 
tĩnh mạch trung tâm được điều trị bằng can thiệp 
nội mạch với gây tê tại chỗ bởi bác sĩ khoa Phẫu 
thuật Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy từ 
01/01/2017 đến 31/12/2019. Phân tích các đặc 
điểm về lâm sàng, các yếu tố nguy cơ và bệnh kết 
hợp. Kỹ thuật mổ là nong bóng và có thể đặt stent 
vị trí hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm. Đánh giá kết 
quả sau can thiệp dựa trên lâm sàng, theo dõi 
bệnh nhân sau 6 tháng. Tái hẹp được định nghĩa 
khi hẹp trên 50% đường kính lòng mạch bình 
thường của bệnh nhân, có triệu chứng lâm sàng 
trở lại. Kết quả tốt khi bệnh nhân cải thiện triệu 
chứng lâm sàng, không có biến chứng nghiêm 
trọng như tử vong, không tái hẹp. 
Thành công về kỹ thuật: tỷ lệ hẹp tồn lưu 
sau can thiệp dưới 30% đường kính lòng mạch 
bình thường của bệnh nhân [9]. 
Thành công về lâm sàng: các triệu chứng 
bất thường trước can thiệp giảm dần. Thông nối 
động – tĩnh mạch có âm thổi tốt. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 
Có tất cả 32 bệnh nhân (20 nam, tỉ lệ nam/nữ 
là 1,67/1, độ tuổi trung bình là 55,6 ± 3,2 tuổi, tỉ lệ 
phải/trái là 1,67/1). Các bệnh nhân nhập viện với lý 
do: phù tay (100%), đau tay (75%), loạn dưỡng da 
tay (50%), dãn tĩnh mạch nông vùng cổ, mặt cùng 
bên (50%). Tiền sử đặt catheter cổ hầm cùng bên 
chiếm 62,5% trường hợp. 
KẾT QUẢ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠNG ĐIỀU TRỊ HẸP, TẮC TĨNH MẠCH TRUNG TÂM... 
 29 
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân nhóm nghiên cứu 
Đặc điểm lâm sàng Số bệnh nhân (n=32) Tỷ lệ (%) 
 - Phù tay 32 100 
 - Đau tay 
 - Loạn dưỡng da tay 
 - Dãn tĩnh mạch nông vùng cổ, mặt cùng bên 
24 
16 
16 
75 
50 
50 
Tiền sử đặt catheter cổ hầm cùng bên 20 62,5 
Các yếu tố nguy cơ, bệnh kết hợp 
Tăng huyết áp 32 100 
Suy tim 10 31 
Đái tháo đường type 2 18 56 
Bệnh động mạch ngoại biên 8 25 
 Kỹ thuật can thiệp 
Tất cả các trường hợp đều được gây tê tại chỗ. Đường vào từ tĩnh mạch đường về của thông nối 
động – tĩnh mạch ở tay cùng bên thương tổn. Thời gian can thiệp trung bình là 66,3 ± 6,2 phút (45 phút 
– 150 phút). 
Hình 1. Nong tĩnh mạch thân tay đầu trái bằng bóng 
Bảng 2. Đặc điểm tổn thương mạch máu trên DSA 
Đặc điểm trên DSA n=32 Tỷ lệ (%) 
Vị trí hẹp 
Tĩnh mạch dưới đòn 2 6,25 
Tĩnh mạch thân tay đầu 10 31,25 
Vị trí tắc 
Tĩnh mạch dưới đòn 6 18,75 
Tĩnh mạch thân tay đầu 10 31,25 
Tĩnh mạch dưới đòn + thân tay đầu 4 12,5 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 30 
Tỷ lệ thành công kỹ thuật ban đầu là 87,5% 
(28/32 trường hợp). 4 trường hợp thất bại do tắc 
nghẽn đoạn dài tĩnh mạch thân tay đầu và tĩnh 
mạch dưới đòn. Trong những trường hợp này, 
dây dẫn không thể đi qua sang thương tắc, sau đó 
được thắt thông nối động – tĩnh mạch cùng bên. 
Có 6 trường hợp đặt stent do nong bóng không 
hiệu quả. Không có biến chứng lớn và tử vong 
trong phẫu thuật. 
Đánh giá sau can thiệp 
Lâm sàng: 75% giảm đau tay, 56% giảm 
phù tay, 100% có mạch hạ lưu và thông nối còn 
âm thổi tốt; thời gian nằm viện sau can thiệp 
trung bình là 2,5 ± 0,8 ngày (sớm nhất 1 ngày, lâu 
nhất 7 ngày). 
Sau 6 tháng: Tỷ lệ lưu thông sau 6 tháng là 
68,7%, có 10 trường hợp cần phải can thiệp lại và 
kết quả đều thành công. Không có biến chứng 
hay tử vong sau 6 tháng. 
BÀN LUẬN 
Hẹp, tắc tĩnh mạch trung tâm (HTTMTT) là 
một biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân chạy 
thận nhân tạo. Có một sự liên kết mạnh mẽ của 
HTTMTT với việc đặt ống thông tĩnh mạch trung 
tâm để chạy thận nhân tạo trước đó. Một giả thuyết 
cho sự phát triển của HTTMTT do việc đặt ống 
thông làm tổn thương nội mạc tĩnh mạch và gây 
viêm thứ phát trong thành mạch tại thời điểm đặt 
[7]. Các giả thuyết khác bao gồm sự hiện diện của 
một vật thể lạ trong tĩnh mạch, cùng với sự rối 
loạn dòng chảy khi chạy thận ở thông nối động – 
tĩnh mạch cùng bên. Dòng chảy bất thường, cuộn 
xoáy đã được chứng minh là kích thích phản ứng 
viêm và kích thích tăng sản nội mạc tĩnh mạch, 
tăng kết tập tiểu cầu, dẫn đến tăng huyết áp tĩnh 
mạch như phù tay, loét, thiểu dưỡng mô và gây 
cản trở cho việc chạy thận nhân tạo [8]. 
Nhiều vị trí đặt ống thông tĩnh mạch trung 
tâm, với thời gian lưu thông ống thông dài hơn, 
có liên quan đến nguy cơ HTTMTT cao hơn. Vị 
trí của ống thông tĩnh mạch trung tâm cũng là 
một yếu tố quan trọng dẫn đến HTTMTT. Tỷ lệ 
mắc HTTMTT khi đặt ống thông tĩnh mạch dưới 
đòn là 42% so với tỷ lệ 10% ống thông được đặt 
qua tĩnh mạch cảnh trong [8]. 
Đối với tĩnh mạch trung tâm, tỷ lệ hẹp thực 
sự không được biết rõ, vì chúng ta chỉ phát hiện 
hẹp khi có triệu chứng. HTTMTT có thể xảy ra ở 
bất kỳ vị trí nào, trong đó hẹp chỗ nối cung tĩnh 
mạch đầu - tĩnh mạch dưới đòn chiếm 38%, tĩnh 
mạch thân tay đầu chiếm 29%, tĩnh mạch dưới 
đòn chiếm 24%, và tĩnh mạch chủ trên chiếm 9% 
theo nghiên cứu của Shi Ya-xue [8]. 
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả 
tương tự theo như bảng 2 (đặc điểm tổn thương 
mạch máu trên DSA), nhưng không có trường 
hợp nào hẹp tĩnh mạch chủ trên, có lẽ do lô 
nghiên cứu của chúng tôi còn ít. 
Tác giả Sidhu (2016) [9] ghi nhận triệu 
chứng lâm sàng gồm: 
- Không thể chọc kim chạy thận (41,5%). 
- Mất âm thổi ở thông nối động - tĩnh 
mạch (5,1%). 
- Chảy máu kéo dài sau rút kim (27,6%). 
- Phù tay (9,8%). 
- Lọc máu không hiệu quả (6,7%). 
- Tăng áp lực tĩnh mạch (4,7%). 
- Tăng áp lực động mạch trước bơm (4,3%). 
Trong một nghiên cứu khác của Aktas Ayse 
(2015), trong những trường hợp HTTMTT, các triệu 
chứng lâm sàng gồm: tăng áp lực tĩnh mạch (57%), 
không thể chọc kim (7%), động mạch cấp máu kém 
(12%), huyết khối (12%), phù tay (8%) [2]. 
Lý do nhập viện chủ yếu của bệnh nhân 
trong nghiên cứu của chúng tôi là phù tay (100%) 
theo như bảng 1 (đặc điểm bệnh nhân nhóm 
nghiên cứu), trong khi tỷ lệ lý do này trong 2 
nghiên cứu kể trên là thấp nhất. Giải thích điều 
này là do các bệnh nhân Việt Nam thường nhập 
viện trong tình trạng trễ, tĩnh mạch đã hẹp nặng 
hoặc tắc hoàn toàn dẫn đến phù tay, thậm chí có 
những trường hợp loét da do thiểu dưỡng. 
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, các 
bệnh nhân thường có nhiều bệnh lý mạn tính kèm 
KẾT QUẢ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠNG ĐIỀU TRỊ HẸP, TẮC TĨNH MẠCH TRUNG TÂM... 
 31 
theo như bảng 1 (đặc điểm bệnh nhân nhóm 
nghiên cứu). Vì thế, can thiệp nội mạch được xem 
là phương pháp đầu tay để điều trị HTTMTT vì 
nó ít xâm lấn và giúp duy trì sự lưu thông ổn định 
của thông nối động – tĩnh mạch. Thời gian mổ 
trung bình là 66,3 ± 6,2 phút, lâu hơn so với một 
số nghiên cứu khác. Có lẽ do đây là những trường 
hợp can thiệp tĩnh mạch trung tâm đầu tiên. 
Đặt stent cho sang thương tĩnh mạch trung 
tâm đang gây tranh cãi. Tuy nhiên, có những 
nghiên cứu báo cáo không có sự khác biệt đáng 
kể về tỷ lệ lưu thông. Các chỉ định cho vị trí đặt 
stent trong bệnh lý HTTMTT khác nhau giữa các 
tác giả. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ định 
đặt stent khi dây dẫn đã qua sang thương hẹp, tắc 
nhưng nong bóng không hiệu quả. Sự thất bại về 
kỹ thuật có thể chủ yếu là do sinh bệnh học của 
sang thương. Xơ hóa là nhân tố chính và kỹ thuật 
đi dưới nội mạch không thể được sử dụng trong 
những trường hợp này. 
Hình 2. Chụp tĩnh mạch trung tâm trước can thiệp 
Hình 3. Chụp tĩnh mạch sau can thiệp 
Về mặt cải thiện triệu chứng lâm sàng: đa 
số các trường hợp can thiệp thành công (87,5%) 
đều ghi nhận giảm đau, phù tay so với trước can 
thiệp và những trường hợp này có thể dùng lại 
thông nối động – tĩnh mạch để chạy thận vào 
ngày tiếp theo. Tỷ lệ này tương đương với các 
nghiên cứu nước ngoài khác: tỷ lệ thành công 
của tác giả Sidhu là 78%, tỷ lệ biến chứng là 
2,6% [9]; tỷ lệ thành công của tác giả Beathard 
là 95% [4]. 
Về biến chứng, nghiên cứu của chúng tôi 
không có trường hợp nào biến chứng (0%). Theo 
tác giả Sidhu, tỷ lệ biến chứng là 5% gồm: tắc 
mạch cấp do huyết khối, do di vật, chảy máu sau 
thủ thuật, di ứng thuốc cản quang [8]. Tác giả 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 32 
Aktas Ayse [2] và Pawel Maga [5] ghi nhận tỷ lệ 
biến chứng lần lượt là 3% và 6,6%. 
Nhìn chung tỷ lệ biến chứng đối với 
phương pháp can thiệp nội mạch là rất thấp. Có 
thể do lô nghiên cứu của chúng tôi còn ít, chưa 
đủ để đánh giá nhiều về tỉ lệ xảy ra biến chứng. 
Trong một báo cáo 3560 trường hợp can thiệp 
nội mạch điều trị HTTMTT, được thực hiện 
bởi 29 nhà thận học can thiệp, thực hiện tại 11 
cơ sở khác nhau, ghi nhận tỷ lệ biến chứng nói 
chung là 1,15%, trong đó 1,04% là biến chứng 
nhẹ.
*Đánh giá kết quả sau 6 tháng 
Bảng 3. Tỷ lệ lưu thông sau 6 tháng 
Nghiên cứu Năm Cỡ mẫu Tỷ lệ lưu thông (%) 
Chúng tôi 2019 32 68,7 
Pawel Maga [5] 2016 106 49 
Aktas Ayse [2] 2015 228 71,4 
Beathard [4] 2017 69 55 – 77 
Sidhu [9] 2016 98 53,8 
Tỷ lệ lưu thông trong nghiên cứu của chúng 
tôi sau 6 tháng tương đương với các nghiên cứu 
khác trên thế giới. Trong số các trường hợp can 
thiệp thành công ban đầu, có 10 trường hợp phát 
hiện tái hẹp có chỉ định can thiệp nội mạch 
(chiếm 31,3%). Các trường hợp còn lại (68,7%) 
đều ghi nhận cải thiện triệu chứng lâm sàng rõ 
rệt: giảm đau tay, giảm phù tay, sử dụng cầu nối 
để chạy thận tốt. 
Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn cần 
quan tâm. HTTMTT là một bệnh lý có khả năng 
tái phát cao. Theo bảng 3 (tỷ lệ lưu thông sau 6 
tháng) trong nghiên cứu của chúng tôi, có 31,3% 
bệnh nhân đã từng được can thiệp tiều trị trước đó 
nhưng tái hẹp. Trong một nghiên cứu của tác giả 
Arshdeep Sidhu năm 2016, cũng có 51% bệnh 
nhân bị tái hẹp [9]. Theo tác giả Beathard, tỷ lệ 
tái hẹp sau can thiệp cao là do tính đàn hồi của 
tĩnh mạch [4]. Điều này có thể xảy ra nhanh hay 
chậm tùy vào tính đàn hồi của tĩnh mạch mỗi 
bệnh nhân, có thể từ vài phút đến vài giờ, hoặc có 
thể vài năm sau. Can thiệp lặp lại nhiều lần là 
điều hiển nhiên để đảm bảo lưu lượng máu chạy 
thận. Thời gian trung bình lặp lại can thiệp đối 
với thông nối động – tĩnh mạch tự thân là 11,2 
tháng [4]. 
KẾT LUẬN 
Qua các kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
và của các tác giả ngoài nước, chúng tôi thấy rằng 
phương pháp can thiệp nội mạch điều trị 
HTTMTT trên bệnh nhân chạy thận nhân tạo cho 
kết quả khá tốt, tỷ lệ thành công về kỹ thuật cao, 
tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian thực hiện thủ 
thuật và thời gian nằm viện sau can thiệp ngắn. 
Đặc biệt phương pháp này áp dụng tốt, an toàn 
cho những trường hợp lớn tuổi, vốn có nhiều 
bệnh lý phối hợp, là yếu tố nguy cơ của những 
cuộc mổ lớn, kéo dài. Đối với bệnh nhân suy thận 
mạn giai đoạn cuối, thông nối động – tĩnh mạch 
chính là tính mạng bệnh nhân. Do đó, cố gắng 
bảo tồn những đường chạy thận với những thủ 
thuật ít xâm lấn nhất đang là mục tiêu đề ra của 
những phẫu thuật viên mạch máu trên toàn thế 
giới. Cần phải tăng cường theo dõi và can thiệp 
lặp đi lặp lại là cần thiết để duy trì lưu thông 
trong thời gian dài. Việc phòng ngừa là quan 
KẾT QUẢ CỦA CAN THIỆP NỘI MẠNG ĐIỀU TRỊ HẸP, TẮC TĨNH MẠCH TRUNG TÂM... 
 33 
trọng nhất. Tránh và giảm thiểu việc đặt ống 
thông tĩnh mạch trung tâm có thể là điểm mấu 
chốt để phòng ngừa. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Thái Minh Sâm và cộng sự (2011), Phẫu 
thuật tạo dò động tĩnh mạch để chạy thận nhân 
tạo tại bệnh viện chợ rẫy từ 1/2008 đến 5/2010, 
Tạp chí Y Học TP. HCM, 15(4). 
2. Aktas A., Bozkurt A., Aktas B., et al. 
(2015). Percutaneous transluminal balloon 
angioplasty in stenosis of native hemodialysis 
arteriovenous fistulas: technical success and 
analysis of factors affecting postprocedural fistula 
patency. Diagn Interv Radiol, 21(2), 160-6. 
3. Gary A. C., Zhiwen J. L., Justin K., 
Sadhana C., and Glenn W. L. T. (2018). “Outcomes 
of Central Venoplasty in Haemodialysis Patients. 
Ann Vasc Dis, 11(3), p 292 –297. 
4. Gerald A. B. (2017). Endovascular 
intervention for the treatment of stenosis in the 
arteriovenous access. Uptodate. 
5. Maga P. (2016). Endovascular 
treatment of dysfunctional arteriovenous fistula 
in hemodialyzed patients — the results of one 
year follow-up. Via medica, 22(4), 143-149. 
6. Mark K. E., Mark D. M., William H. P., 
James S. T. (2011), Contemporary Vascular 
Surgery. People’s Medical Publishing House, 
USA, 383-435. 
7. Mickley V. (2006). Central vein 
obstruction in vascular access. Eur J Vasc 
Endovasc Surg, 32, 439-444. 
8. Shi Y., Ye M., Liang W., Zhang H., Zhao 
Y. and Zhang J. (2013). Endovascular treatment of 
central venous stenosis and obstruction in 
hemodialysis patients. Chin Med J, 126 (3). 
9. Sidhu A., Tan K. T., Noel-Lamy M., 
et al. (2016). Does Technical Success of 
Angioplasty in Dysfunctional Hemodialysis 
Accesses Correlate with Access Patency?. 
Cardiovasc Intervent Radiol, 39(10), 1400-6. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_cua_can_thiep_noi_mach_dieu_tri_hep_tac_tinh_mach_tr.pdf