Kết quả chương trình can thiệp dạy bơi an toàn phòng chống đuối nước cho trẻ em tại Đồng Tháp năm 2015

Bơi an toàn là một trong những biện pháp hiệu quả

để phòng chống đuối nước ở trẻ em. Đây là một giải pháp

được nhiều tổ chức quốc tế, quốc gia khuyến nghị và áp

dụng có hiệu quả.

Nghiên cứu can thiệp phòng chống đuối nước trẻ em

được thực hiện tại Đồng Tháp với thế kế nghiên cứu can

thiệp so sánh trước và sau không nhóm chứng, cỡ mẫu là

1.251 trẻ em tiểu học tham gia chương trình dạy bơi tại

huyện Cao Lãnh năm 2015

pdf 5 trang phuongnguyen 540
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả chương trình can thiệp dạy bơi an toàn phòng chống đuối nước cho trẻ em tại Đồng Tháp năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả chương trình can thiệp dạy bơi an toàn phòng chống đuối nước cho trẻ em tại Đồng Tháp năm 2015

Kết quả chương trình can thiệp dạy bơi an toàn phòng chống đuối nước cho trẻ em tại Đồng Tháp năm 2015
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 119
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT:
Bơi an toàn là một trong những biện pháp hiệu quả 
để phòng chống đuối nước ở trẻ em. Đây là một giải pháp 
được nhiều tổ chức quốc tế, quốc gia khuyến nghị và áp 
dụng có hiệu quả. 
Nghiên cứu can thiệp phòng chống đuối nước trẻ em 
được thực hiện tại Đồng Tháp với thế kế nghiên cứu can 
thiệp so sánh trước và sau không nhóm chứng, cỡ mẫu là 
1.251 trẻ em tiểu học tham gia chương trình dạy bơi tại 
huyện Cao Lãnh năm 2015. 
Kết quả cho thấy tỷ lệ kiến thức và kỹ năng của trẻ 
trước và sau can thiệp dạy bơi an toàn có sự thay đổi một 
cách rất rõ rệt. Cụ thể các kỹ năng sống sót quan trọng 
như nổi được 90 giây trước can thiệp là 1,4% và sau can 
thiệp tăng lên 74,6%. Tỷ lệ về kỹ năng bơi được 25 mét 
trước can thiệp là 3,3% và sau can thiệp tăng lên 73,2%. 
Tỷ lệ chung của học sinh biết bơi trước can thiệp là 3,3% 
và sau can thiệp tăng lên 75,5%. Mối liên quan giữa kiến 
thức và kỹ năng bơi an toàn của trẻ với tỷ lệ trước và 
sau can thiệp chương trình dạy bơi có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê. 
Nghiên cứu đã cho thấy được hiệu quả và tính khả thi 
trong việc triển khai mô hình dạy bơi an toàn tại Việt nam. 
Từ khoá: Dạy bơi đuối nước, đuối nước trẻ em, bơi 
an toàn, phòng chống đuối nước.
ABSTRACT:
RESULTS FOR CHILD SURVIVAL SWIMMING 
INTERVENTION IN DONG THAP PROVINCE 2015
Survival swimming training is proved as one 
of effective interventions for child drowning. This 
intervention is highly recommended by international 
organizations, countries for successful application.
Child survival swimming intervention in Dong Thap 
province was conducted with pre and post evaluation for 
intervention group only, there is no control group; total 
sample size is 1,251 primary scholl children attended the free 
survival swimming training at Cao Lanh district in 2015.
The results showed that there is a significant 
improvement in knowledge and swimming skills among 
children. For instance: the nescessary survival skill is a 
child can float in 90 seconds in pre evaluation was 1.4%, in 
post evaluation it rose up to 74.6%, swimming skills in 25 
meter continuosly is also got the rapid incresement from 
3.3% to 73.2%. In overall, swimming, swimming rate 
rose from 3.3% to 75.5% after the intervention. There is a 
statistic difference in knowledge and survival swimming 
skill among children before and after participating the free 
survival swimming course.
The intervention showd the effectiveness and 
feasibility in implementing survival swimming program 
in Vietnam.
Key words: Survival swimming for drowning 
prevention, child drowning, survival swimming, 
drowning prevention.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đuối nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu 
gây tử vong trẻ em dưới 15 tuổi ở Việt Nam (1). Đồng 
Tháp có khoảng 50 – 60 trường hợp trẻ em bị đuối nước 
được báo cáo mỗi năm (2). Đuối nước ở trẻ em không xảy 
ra tình cờ do tai nạn, đuối nước có thể dự báo và phòng 
chống được. Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy 
Ngày nhận bài: 01/04/2018 Ngày phản biện: 10/04/2018 Ngày duyệt đăng: 15/04/2018
1. Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp.
Tác giả chính Phan Thanh Hòa, SĐT 0918973520, Email: [email protected]
2. Trung tâm nghiên cứu Chính sách và Phòng chống chấn thương – Trường ĐH YTCC
KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP DẠY BƠI AN TOÀN 
PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM TẠI ĐỒNG THÁP 
NĂM 2015
Phan Thanh Hòa1, Nguyễn Công Cừu1, 
Trần Thị Ngân2, Lã Ngọc Quang2, Phạm Việt Cường2 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn120
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
đuối nước có thể phòng chống dễ dàng với các can thiệp 
đơn giản và hiệu quả. Tháng 11/2013, Chính phủ Việt 
Nam thông qua Chiến lược quốc gia phòng chống tai nạn 
thương tích trẻ em, trong đó nêu rõ đuối nước là một vấn 
đề y tế công cộng và đưa ra mục tiêu giảm 15% số trường 
hợp đuối nước vào năm 2015 (3). Đồng thời, Ủy ban nhân 
dân tỉnh Đồng Tháp đã phê duyệt kế hoạch phòng chống 
tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2014-2015, với mục 
tiêu từng bước hạn chế tình trạng trẻ em tử vong do tai 
nạn thương tích gây ra, đặc biệt là tình trạng trẻ em bị đuối 
nước (4). Chương trình dạy bơi an toàn là một can thiệp 
phòng chống đuối nước ở tỉnh Đồng Tháp. Hoạt động này 
nhằm góp phần đạt được mục tiêu chiến lược quốc gia 
bằng các can thiệp cộng đồng. Nghiên cứu này được tiến 
hành tại tỉnh Đồng tháp, với mục tiêu đánh giá kết quả 
của chương trình dạy bơi nâng cao kỹ năng phòng chống 
đuối nước cho trẻ em tiểu học tại huyện Cao Lãnh, Đồng 
Tháp, năm 2015.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
Thiết kế nghiên cứu: 
Nghiên cứu can thiệp so sánh trước và sau can thiệp 
không nhóm chứng
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian từ tháng 
01-10/2015
Đối tượng nghiên cứu
Học sinh tiểu học tại 5 trường tiểu học của huyện Cao 
Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Cỡ mẫu
Mục đích chính của chương trình can thiệp là tăng 
cường kiến thức và kỹ năng của trẻ về bơi an toàn. Với 
ước tính kỹ năng bơi (tỷ lệ biết bơi của trẻ) tăng lên 20% 
giữa trước can thiệp và sau can thiệp, lực kiểm định 90% 
và sai số (alpha = 5%). Áp dụng công thức tính cỡ mẫu 
cho hai tỉ lệ trên một quần thể (5).
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu
Z: Hệ số tin cậy. 
α: Mức ý nghĩa (α= 0,05). Với α= 0,05 → Z =1,96. 
1-β: Lực mẫu. (1-β = 90%).
P1: Dự kiến có khoảng 40% trẻ đã biết bơi trước can 
thiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Hưng tại Đồng Tháp 
tỷ lệ trẻ 5-10 tuổi biết bơi là 42% (6). 
P2: Ước lượng có 60% biết bơi sau can thiệp.
Thay vào ta được cỡ mẫu tối thiểu: n = 130
Vậy cỡ mẫu tối thiểu để so sánh trước can thiệp và 
sau can thiệp cho một trường tiểu học là 130. Áp dụng 
chọn mẫu cụm hai giai đoạn, cỡ mẫu được hiệu chỉnh với 
hệ số thiết kế là 1.5. Vậy cỡ mẫu tối thiểu cho một trường 
là 130 x 1.5 = 195, chúng tôi làm tròn mẫu lên đến 200 
cho mỗi trường. Tổng số trường chọn tham gia nghiên 
cứu là 5 x 200 = 1.000. Thực tế có đến 1.251 trẻ tham gia 
nghiên cứu tại các trường Mỹ Long, Bình Hàng Tây 1, 
Bình Hàng Tây 2, Tân Hội Trung 2, Phương Trà 2.
Tiến hành can thiệp: 
Chương trình can thiệp được thực hiện theo nội dung 
giáo trình đào tạo bơi an toàn do Trung tâm Nghiên cứu 
Chính sách và Phòng chống Chấn thương, Trường Đại học 
Y tế Công cộng phối hợp cùng với các chuyên gia quốc 
tế biên soạn. Huấn luyện viên dạy bơi là các giáo viên thể 
dục được đào tạo trước khi triển khai chương trình. Tổng 
số có 1251 học sinh được đào tạo qua 40 lớp học, mỗi lớp 
học bao gồm 20 giờ. Địa điểm là tại các hồ bơi được xây 
dựng tại khuôn viên trường. 
Đánh giá: Kiến thức và kỹ năng bơi an toàn của học 
sinh trước và sau khi tham gia lớp học bơi an toàn được 
đánh giá thực tế bơi và qua bộ câu hỏi thiết kế trước. Một 
học sinh được đánh giá là “biết bơi an toàn” nếu có khả 
năng nổi trên mặt nước 90 giây và bơi được ít nhất 25m 
bất kể theo kiểu bơi như thế nào và không có vật dụng/
phương tiện trợ giúp.
Phương pháp thu thập số liệu
- Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu, sau 
thử nghiệm đã có điều chỉnh bổ sung cho phù hợp trước 
khi tiến hành tập huấn và điều tra thu thập số liệu.
- Điều tra viên là nghiên cứu viên thu thập số liệu từ 
các trường thông qua bảng kiểm tra đánh giá kiến thức và 
kỹ năng bơi của học sinh bởi huấn luyện viên. 
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Tổng hợp số liệu, làm sạch và nhập liệu bằng Epidata 
3.1. Phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0. Dùng phương 
pháp thống kê mô tả và kiểm định phân tích sự khác biệt 
với mức ý nghĩa p < 0,05.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổng số có 1.251 học sinh tham chương trình dạy 
bơi an toàn, tuổi chiếm chủ yếu là 9 và 10 tuổi lần 
lượt có tỷ lệ là 27,4% và 22,2%. Thấp nhất là ở nhóm 
7 tuổi chiếm 12,9%. Giới tính nam cao hơn nữ với tỷ 
lệ 55,7% và 44,3%.
1. Thông tin chung về trẻ tham gia chương trình bơi
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 121
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2. Kiến thức và kỹ năng của trẻ về bơi an toàn.
Bảng 1 cho thấy kiến thức và kỹ năng của trẻ 
trước và sau can thiệp dạy bơi an toàn có sự thay đổi 
một cách rất rõ. Cụ thể các kỹ năng quan trọng như: 
Tỷ lệ về kỹ năng sống sót nổi được 90 giây trước can 
thiệp là 1,4% và sau can thiệp tăng lên 74,6%. Tỷ lệ 
về kỹ năng bơi được 25 mét trước can thiệp là 3,3% và 
sau can thiệp tăng lên 73,2%. Các kỹ năng khác như: 
tỷ lệ kiến thức cơ bản về bơi an toàn trước can thiệp 
là 1,4% và sau can thiệp tăng lên 81,1%, kỹ năng mặc 
áo quần thích hợp, kỹ năng xuống nước và lên bờ an 
toàn có tỷ lệ trước can thiệp lần lượt là 12,2%, 4,7%, 
29,0% và có tỷ lệ sau can thiệp lần lượt là 89,6%, 89,8 
và 90,1.
Bảng 1. Thông tin chung về trẻ tham gia chương trình dạy bơi
Các đặc điểm Tần số Tỷ lệ
Tuổi
7 tuổi 161 12,9
8 tuổi 222 17,8
9 tuổi 343 27,4
10 tuổi 278 22,2
11 tuổi 247 19,7
Giới tính
Nam 697 55,7
Nữ 554 44,3
Tổng 1251 100
Bảng 1. Kiến thức và kỹ năng bơi an toàn của trẻ trước và sau can thiệp
Kiến thức và kỹ năng bơi an toàn
Tỷ lệ % p
Trước Sau
Kiến thức cơ bản 1,4 81,1 0,03
Mặc quần áo thích hợp 12,2 89,6 0,001
Kỹ năng sống sót nổi được 90 giây 1,4 74,6 0,01
Xuống nước an toàn 4,7 89,8 0,008
Bơi được 25 mét 3,3 73,2 0,001
Lên bờ an toàn 29,0 90,1 0,6
Mối liên quan giữa kiến thức và kỹ năng bơi an toàn 
của trẻ với tỷ lệ trước và sau can thiệp của chương trình 
dạy bơi cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, cụ 
thể như các yếu tố về kiến thức cơ bản về bơi an toàn; Mặc 
quần áo thích hợp; Kỹ năng sống sót nổi được 90 giây; 
xuống nước an toàn và bơi được 25 mét, với p<0,05.
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn122
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 2. Mô tả tỷ lệ biết bơi trước và sau can thiệp
Đặc điểm
Biết bơi (%)
Trước can thiệp Sau can thiệp
Không (%) Biết bơi (%) Không (%)
Trường
Bình Hàng Tây 1 0 250 (100) 217 (86,8) 33 (13,2)
Bình Hàng Tây 2 24 (9,6) 226 (90,4) 169 (67,6) 81 (32,4)
Phương Trà 2 0 250 (100) 207 (82,8) 43 (17,2)
Mỹ Long 17 (6,8) 234 (93,2) 158 (62,9) 93 (37,1)
Tân Hội Trung 2 0 250 (100) 194 (77,6) 56 (22,4)
Tuổi
7 tuổi 0 161 (100) 71 (44,1) 90 (55,9)
8 tuổi 0 222 (100) 136 (61,3) 86 (38,7)
9 tuổi 0 343 (100) 266 (77,6) 77 (22,4)
10 tuổi 23 (8,3) 255 (91,7) 239 (86,0) 39 (14,0)
11 tuổi 18 (7,3) 229 (92,7) 233 (94,3) 14 (5,7)
Giới tính
Nam 23 (3,3) 674 (96,7) 568 (81,5) 129 (18,5)
Nữ 18 (3,2) 536 (96,8) 177 (31,9) 377 (68,1)
Biểu đồ 2. Mô tả tỷ lệ biết bơi chung của 5 trường trước và sau can thiệp
Tỷ lệ biết bơi của trẻ trước can thiệp tại 5 trường tiểu 
học cho thấy chỉ có trường tiểu học Bình Hàng Tây 2 và 
Mỹ Long có tỷ lệ học sinh biết bơi lần lượt là 9,6% và 
6,8%. Ở nhóm tuổi 10-11 tuổi tỷ lệ biết bơi là 8,3 và 7,3. 
Tỷ lệ bơi giữa nam và nữ tương đương khoảng 3,3%.
Tỷ lệ biết bơi của trẻ sau can thiệp tại 5 trường tiểu 
học cho thấy tỷ lệ biết bơi cao nhất ở trường tiểu học Bình 
Hàng Tây 1 là 86,8%, tiếp theo là trường tiểu học Phương 
Trà 2 chiếm 82,8% và tỷ lệ biết bơi thấp nhất là trường tiểu 
học Mỹ Long 62,9%. Tỷ lệ học sinh biết bơi theo tuổi cho 
thấy trẻ 7 tuổi có tỷ lệ biết bơi thấp nhất là 44,1% và cao 
nhất ở tuổi 11 tuổi. Kết quả cho thấy trẻ càng lớn tuổi có tỷ 
lệ biết bơi càng cao. Tỷ lệ biết bơi sau can thiệp cho thấy có 
sự khác biệt giữa nam và nữ với tỷ lệ là 81,5% và 31,9%. 
Sau can thiệp tỷ lệ biết bơi của trẻ có xu hướng tăng 
dần theo tuổi, cụ thể kết quả (biểu đồ 2) cho thấy trẻ 7 tuổi 
có tỷ lệ biết bơi thấp nhất là 44,1%, tiếp theo trẻ 8 tuổi tỷ 
lệ biết bơi là 61,3%, với trẻ 9 tuổi tỷ lệ biết bơi là 77,6%, 
trẻ 10 tuổi tỷ lệ biết bơi là 86,0% và trẻ 11 tuổi tỷ lệ biết 
bơi là 94,3%.
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 123
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tỷ lệ biết bơi trước can thiệp là 3,3% và sau khi học 
sinh tham gia chương trình dạy bơi an toàn thì tỷ lệ này 
tăng lên 75,5%. 
IV. BÀN LUẬN
Tổng số có 1.251 học sinh tham chương trình dạy bơi 
an toàn tại 5 điểm trường tiểu học của huyện Cao Lãnh. Kết 
quả của hoạt động dạy bơi cho thấy tỷ lệ kiến thức và kỹ năng 
của trẻ trước và sau can thiệp dạy bơi an toàn có sự thay đổi 
một cách rất rõ. Cụ thể các kỹ năng quan trọng như: Tỷ lệ về 
kỹ năng sống sót nổi được 90 giây trước can thiệp là 1,4% và 
sau can thiệp tăng lên 74,6%. Tỷ lệ về kỹ năng bơi được 25 
mét trước can thiệp là 3,3% và sau can thiệp tăng lên 73,2%. 
Đây là hai kỹ năng quan trọng giúp trẻ có thể sống sót khi 
bị tai nạn đuối nước và kỹ năng được rèn luyện duy trì suốt 
cuộc đời của trẻ, phải nói đây có thể coi là vaccine ngăn ngừa 
phòng chống đuối nước cho trẻ em. Theo báo cáo của Cục 
Bảo vệ trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, bơi là 
kỹ năng giúp trẻ sống sót khi tiếp xúc với môi trường nước, 
thực tế nhiều trẻ em Việt Nam không biết bơi, không có kỹ 
năng ứng phó khi gặp nguy cơ bị đuối nước. Các nghiên cứu 
thực hiện Việt Nam cho thấy, hầu hết trẻ em bị đuối nước là 
do không biết bơi (8). Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế 
giới cho thấy, dạy bơi cho trẻ em là biện pháp hữu hiệu nhất 
để phòng đuối nước. Tại Mỹ, 54% cha mẹ cho rằng dạy bơi 
cho trẻ em có thể hạn chế đuối nước. Tại Trung Quốc, các 
chuyên gia khuyến cáo rằng để phòng chống đuối nước có 
hiệu quả, các chương trình dạy bơi phải được đưa vào thành 
môn học giáo dục thể chất bắt buộc trong các trường học (9). 
Nhìn chung, thông qua chương trình dạy bơi an toàn cho trẻ 
em từ kết quả trên cho thấy có hiệu quả rõ.
Tỷ lệ biết bơi của trẻ theo nhóm tuổi trước can thiệp là gặp 
ở nhóm tuổi 10 và 11 tuổi tỷ lệ biết bơi là 8,3% và 7,3%. Sau can 
thiệp thì tỷ lệ biết bơi của trẻ có xu hướng tăng dần theo tuổi, cụ 
thể kết quả cho thấy trẻ 7 tuổi có tỷ lệ biết bơi thấp nhất là 44,1%, 
trẻ 8 tuổi tỷ lệ là 61,3%, trẻ 9 tuổi tỷ lệ là 77,6%, trẻ 10 tuổi tỷ lệ 
là 86,0% và trẻ 11 tuổi tỷ lệ là 94,3%. Kết quả này phù hợp với 
nghiên cứu của Rahman. A và cộng sự, với khả năng bơi của trẻ ở 
nhóm 4 – 9 tuổi là 3% và ở nhóm 10 – 14 tuổi là 33% (10). Điều 
này cho thấy trẻ càng lớn tuổi có tỷ lệ biết bơi càng cao.
Tỷ lệ học sinh biết bơi trước can thiệp là 3,3% và sau 
khi học sinh tham gia chương trình dạy bơi an toàn thì tỷ lệ 
này tăng lên 75,5%. Kết quả này cho thấy chương trình can 
thiệp mang lại hiệu quả cao về kỹ năng bơi an toàn cho trẻ. 
Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa kiến thức và 
kỹ năng bơi an toàn của trẻ với tỷ lệ trước và sau can thiệp 
chương trình dạy bơi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá kết quả so 
sánh trước can thiệp và sau can thiệp, thể hiện sự thay đổi 
về tỷ lệ trước và sau. Nghiên cứu chưa phân tích sâu về hiệu 
quả can thiệp, cũng như chưa đánh giá tác động của chương 
trình dạy bơi an toàn cho trẻ trong những năm tiếp theo.
V. KẾT LUẬN
Kết quả dạy bơi cho thấy tỷ lệ kiến thức và kỹ năng 
của trẻ trước và sau can thiệp dạy bơi an toàn có sự thay 
đổi tích cực. Cụ thể các kỹ năng quan trọng như: Tỷ lệ 
về kỹ năng sống sót nổi được 90 giây trước can thiệp là 
1,4% và sau can thiệp tăng lên 74,6%. Tỷ lệ về kỹ năng 
bơi được 25 mét trước can thiệp là 3,3% và sau can thiệp 
tăng lên 73,2%. Tỷ lệ biết bơi của trẻ có xu hướng tăng 
dần theo tuổi. Tỷ lệ biết bơi chung của trẻ trước can thiệp 
là 3,3% và sau can thiệp tăng lên 75,5%. Nghiên cứu cũng 
chỉ ra có mối liên quan giữa kiến thức và kỹ năng bơi an 
toàn của trẻ với tỷ lệ trước và sau can thiệp chương trình 
dạy bơi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kêvới p<0,05.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nhung NTT, Long TK, Huong NT, Linh BN, al e. Estimation of Vietnam National Burden of Disease 2008. 
Asia-Pacific journal of Public health. 2008;26(5):527-35.
2. Bộ Y tế. Báo cáo thống kê tai nạn thương tích 2011.
3. Chính phủ. Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2013 - 2015. 2013;2158.
4. Kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2014-2015, (2014).
5. Organization WH. Sample Size Determination in Health Studies. 1998.
6. Hưng NT. Thực trạng về vấn đề đuối nước tại 5 huyện vùng lũ tỉnh Đồng Tháp, từ tháng 6/2004 đến tháng 
5/2005. Hà Nội 2005.
7. World Health Organization. Global report on Drowning: Preventing a leading killer 2014.
8. Cục Bảo vệ Chăm sóc trẻ em - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Mười trẻ tử vong vì đuối nước mỗi ngày. 
Hà Nội2013 [12/9/2015]; Available from: 
9. Tú NTH, Lan TTN, Trang KTQ. Các giải pháp phòng chống đuối nước trẻ em. Hà Nội 2007.
10. Rahman A, Mashreky SR, Chowdhury SM, Giashuddin MS, Uhaa IJ, Shafinaz S, et al. Analysis of the childhood fatal 
drowning situation in Bangladesh: exploring prevention measures for low-income countries. Injury Prevention. 2009;15(2):75-9.

File đính kèm:

  • pdfket_qua_chuong_trinh_can_thiep_day_boi_an_toan_phong_chong_d.pdf