Kết quả can thiệp nội mạch cấp cứu điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống

Đặt vấn đề: Vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống là bệnh cảnh cấp cứu nguy hiểm có tỷ lệ tử vong rất cao nếu không điều trị kịp thời. Can thiệp nội mạch hiện được xem là phương pháp điều trị có hiệu quả, ít xâm lấn tại nhiều trung tâm mạch máu trên thế giới.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của can thiệp cấp cứu đặt stent graft trong điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống tại khoa Phẫu thuật Mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca với 31 bệnh nhân có bệnh lý động mạch chủ được can thiệp cấp cứu đặt stent graft từ tháng 05/2012 đến tháng 12/2019 tại khoa Phẫu thuật Mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy.

Kết quả: Nghiên cứu có 31 bệnh nhân, nam giới chiếm 80,7 %, tuổi trung bình là 64 ± 15,1. Thời gian theo dõi trung bình là 18,6 tháng. Tỷ lệ chuyển vị các nhánh động mạch nuôi tạng và động mạch trên quai động mạch chủ để có vùng hạ đặt ống ghép thích hợp là 12,9 %, tỷ lệ phủ động mạch dưới đòn trái là 29 %, tỷ lệ gây tê tại chỗ 38,8 %. Tỷ lệ bung ống ghép thành công là 100%. Tỷ lệ tử vong chu phẫu và trung hạn lần lượt là 6,4 % và 31%. Về biến chứng liên quan đến kỹ thuật sau 30 ngày, chúng tôi ghi nhận có 6 trường hợp rò ống ghép loại II nhưng không trường hợp nào cần can thiệp lại, có 1 trường hợp rò ống ghép thực quản tử vong do nhiễm trùng huyết, 1 trường hợp vỡ túi phình do tăng kích thước túi phình trong thời gian theo dõi

Kết luận: Can thiệp cấp cứu đặt stent graft điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống là phương pháp mới an toàn, hiệu quả, thực hiện nhanh, ít xâm lấm, có tỷ lệ thành công cao và tỷ lệ biến chứng thấp

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả can thiệp nội mạch cấp cứu điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả can thiệp nội mạch cấp cứu điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống

Kết quả can thiệp nội mạch cấp cứu điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 12 
KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH CẤP CỨU ĐIỀU TRỊ VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH 
CHỦ NGỰC ĐOẠN XUỐNG 
Trần Quyết Tiến*, Phan Duy Kiên* 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Vỡ phình động mạch chủ ngực 
đoạn xuống là bệnh cảnh cấp cứu nguy hiểm có 
tỷ lệ tử vong rất cao nếu không điều trị kịp thời. 
Can thiệp nội mạch hiện được xem là phương 
pháp điều trị có hiệu quả, ít xâm lấn tại nhiều 
trung tâm mạch máu trên thế giới. 
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả 
của can thiệp cấp cứu đặt stent graft trong điều trị 
vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn xuống tại 
khoa Phẫu thuật Mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 
Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca với 31 bệnh nhân 
có bệnh lý động mạch chủ được can thiệp cấp cứu 
đặt stent graft từ tháng 05/2012 đến tháng 
12/2019 tại khoa Phẫu thuật Mạch máu bệnh viện 
Chợ Rẫy. 
Kết quả: Nghiên cứu có 31 bệnh nhân, 
nam giới chiếm 80,7 %, tuổi trung bình là 64 ± 
15,1. Thời gian theo dõi trung bình là 18,6 tháng. 
Tỷ lệ chuyển vị các nhánh động mạch nuôi tạng 
và động mạch trên quai động mạch chủ để có 
vùng hạ đặt ống ghép thích hợp là 12,9 %, tỷ lệ 
phủ động mạch dưới đòn trái là 29 %, tỷ lệ gây tê 
tại chỗ 38,8 %. Tỷ lệ bung ống ghép thành công 
là 100%. Tỷ lệ tử vong chu phẫu và trung hạn lần 
lượt là 6,4 % và 31%. Về biến chứng liên quan 
đến kỹ thuật sau 30 ngày, chúng tôi ghi nhận có 6 
trường hợp rò ống ghép loại II nhưng không 
trường hợp nào cần can thiệp lại, có 1 trường hợp 
rò ống ghép thực quản tử vong do nhiễm trùng 
huyết, 1 trường hợp vỡ túi phình do tăng kích 
thước túi phình trong thời gian theo dõi 
Kết luận: Can thiệp cấp cứu đặt stent graft 
điều trị vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn 
xuống là phương pháp mới an toàn, hiệu quả, 
thực hiện nhanh, ít xâm lấm, có tỷ lệ thành công 
cao và tỷ lệ biến chứng thấp. 
Từ khóa: stent graft, vỡ phình động mạch 
chủ ngực động xuống, can thiệp cấp cứu. 
RESULTS OF EMERGENCY 
INTERVENTION FOR RUPTURED 
DESCENDING THORACIC ANEURYSMS 
ABSTRACT: 
Background: Ruptured descending 
thoracic aortic aneurysm is dangerous with many 
severe complications and high mortality if 
untreated. Endovascular is currently considered 
as an efficent, less invasive treatment in many 
worldwide vascular surgery centers.1 
Objective: Evaluating efficacy of stent 
graft treatment in patients with ruptured 
descending thoracic aortic aneurysms at Vascular 
Surgery department, Cho Ray hospital. 
Methods: Case series with 31 patients with 
ruptured descending thoracic aortic aneurysms 
treated by stent graft at Vascular Surgery 
department, Cho Ray hospital from 05/2012 to 
12/2019. 
Results: 31 patients were treated with stent 
graft for ruptured descending thoracic 
aneurysms. The mean age was 64 ± 15,1, 80,7 % 
were men, mean follow-up time was 18,6 
months. The rate of patients needed aortic arch 
and visceral debranching to have sufficent 
sealing zone was 12,9 %. 29 % of patients had 
subclavian arterial coverage. The rate of local 
* Khoa Phẫu thuật Mạch máu, Trung tâm Tim mạch BV Chợ Rẫy 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Trần Quyết Tiến 
Ngày nhận bài: 31/12/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 22/01/2021 
KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH CẤP CỨU ĐIỀU TRỊ VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC ĐOẠN XUỐNG 
 13 
anesthesia was 38,8 %. Perioperative and mid-
term mortality rates were 6,4 % and 31 %. 100 
% cases were successfully deployed. Technical 
related complications were type II endoleak (6 
cases but none of that needed to re-intervention), 
1 case of secondary aorto-esophageal fistula died 
due to sepsis and 1 case of secondary rupture 
due to aneurysm expansion. 
Conclusion: Endograft therapy for 
ruptured descending thoracic aneurysms is safe, 
efficient, less invasive with high success and 
low complication rate. 
Key words: stent graft, ruptured descending 
thoracic aneurysms, emergency intervention. 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phình động mạch chủ ngực (ĐMCN) được 
định nghĩa khi kích thước ĐMCN tăng hơn 1,5 
lần kích thước ĐMCN bình thường. Theo số liệu 
của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh 
Hoa Kỳ, bệnh chiếm tỷ lệ 10,4/100000 dân, hàng 
năm có gần 13000 BN tử vong vì phình ĐMCN, 
trong đó nguyên nhân tử vong hàng đầu là do vỡ 
phình động mạch chủ (ĐMC) [1]. Bệnh nhân vào 
viện trong bệnh cảnh cấp cứu vỡ phình động 
mạch chủ nếu không được điều trị kịp thời, tỷ lệ 
tử vong gần như 100%. Trước đây, điều trị phình 
ĐMCN vỡ chủ yếu là phẫu thuật cấp cứu thay 
đoạn phình bằng ống ghép nhân tạo với tỷ lệ tử 
vong và biến chứng sau mổ cao, thời gian nằm 
hồi sức và nằm viện lâu. Tại các trung tâm mạch 
máu lớn trên thế giới, tỷ lệ tử vong sau mổ mở 
phình ĐMCN là 13,1%, tỷ lệ liệt tuỷ sau mổ là 5-
10% [2]. Năm 1994, bác sĩ Michael Dake ở 
trường đại học Stanford, Hòa Kỳ và cộng sự đã 
báo cáo những trường hợp đầu tiên được điều trị 
phình ĐMCN đoạn xuống bằng phương pháp can 
thiệp đặt ống ghép nội mạch[3]. Tiếp nối sau đó, 
Semba và cộng sự thực hiện ca can thiệp nội 
mạch đầu tiên điều trị một trường hợp phình động 
mạch chủ ngực đoạn xuống vỡ năm 1997[4]. Kết 
quả ban đầu của các nghiên cứu cho thấy can 
thiệp đặt ống ghép nội mạch có tỷ lệ tử vong chu 
phẫu thấp hơn và thời gian nằm viện ngắn hơn so 
với mổ mở kinh điển. Từ đó đến nay, phương 
pháp này ngày càng phát triển rộng rãi trên thế 
giới trong điều trị phình ĐMCN, ngay cả trong 
trường hợp phình vỡ. Nhiều nghiên cứu trên thế 
giới cho thấy can thiệp đặt ống ghép nội mạch có 
tỷ lệ tử vong chu phẫu thấp hơn và kết quả ngắn 
hạn, trung hạn tốt hơn so với mổ mở [2, 5]. 
Tại Việt Nam, can thiệp đặt ống ghép nội 
mạch đã được triển khai bước đầu tại một số 
trung tâm phẫu thuật tim mạch ở thành phố Hồ Chí 
Minh và Hà Nội như bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch 
Mai, Viện tim mạch quốc gia, bệnh viện đại học Y 
dược thành phố Hồ Chí Minh[6, 7]. Tại bệnh viện 
Chợ Rẫy, can thiệp đặt ống ghép nội mạch điều trị 
phình ĐMCN được triển khai từ năm 2012. Trong 
thời gian đầu, phương pháp này chủ yếu thực hiện 
trên những bệnh nhân được mổ chương trình. Sau 
đó, chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật này ở những 
bệnh nhân phình vỡ cần can thiệp cấp cứu nếu đặc 
điểm hình thái túi phình phù hợp. Việc theo dõi sau 
can thiệp nội mạch rất quan trọng nhằm đánh giá 
kết quả và phát hiện sớm những biến chứng liên 
quan đến kỹ thuật. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu 
này nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp đặt 
stent graft điều trị bệnh lý động mạch chủ trong 
bệnh cảnh cấp tính. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Từ tháng 5/2012 đến tháng 12/2019 chúng 
tôi chọn những bệnh nhân vỡ phình động mạch 
chủ ngực đoạn xuống nhập viện bệnh viện Chợ 
Rẫy. Tiêu chuẩn chẩn đoán vỡ phình động mạch 
chủ ngực đoạn xuống khi có hình ảnh mất liên tục 
thành động mạch chủ kèm theo hình ảnh tràn máu 
trung thất, tràn máu màng phổi trên phim chụp 
cắt lớp điện toán. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 14 
Phương pháp nghiên cứu 
Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. Chúng tôi thu 
thập các dữ liệu về lâm sàng, cận lâm sàng, hình 
ảnh cắt lớp điện toán, hình ảnh can thiệp trong quá 
trình đặt stent graft, liên lạc với thân nhân và bệnh 
nhân qua điện thoại sau xuất viện để thu thập số 
liệu. Trong can thiệp, chúng tôi ghi nhận thời gian, 
số lượng máu mất, phương pháp vô cảm, hình ảnh 
ngay sau can thiệp. Sau can thiệp và tái khám, theo 
dõi các biến chứng liên quan như rò ống ghép, di 
lệch ống ghép, xoắn vặn ống ghép, nhiễm trùng 
ống ghép và tổn thương động mạch đường vào. 
Các biến chứng nghiêm trọng như tử vong, nhồi 
máu cơ tim, liệt tủy, suy thận, suy hô hấp, bóc tách 
ngược Stanford A cũng được ghi nhận. Tiêu chuẩn 
thành công khi đặt ống ghép vào đúng vị trí tổn 
thương và không xảy ra các biến chứng sau: tử 
vong, rò ống ghép loại I và loại III, di lệch ống 
ghép trên 10mm, đường kính túi phình tăng trên 
5mm, vỡ túi phình, chuyển mổ mở, nhiễm trùng 
ống ghép. 
Xử lý số liệu 
Sử dụng phần mềm SPSS 20 và các phép 
thống kê mô tả để phân tích các biến số. 
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Từ tháng 05/2012 đến 12/2019, chúng tôi 31 
bệnh nhân vỡ phình động mạch chủ ngực đoạn 
xuống được can thiệp cấp cứu đặt stent graft tại 
khoa Phẫu thuật Mạch máu bệnh viện Chợ Rẫy. 
Nam giới chiếm 80,7 %, tuổi trung bình là 64,12 ± 
15,1. Thời gian theo dõi trung bình là 18,6 tháng. 
3. Đặc điểm lâm sàng và kỹ thuật can thiệp 
Trong 31 trường hợp, chúng tôi ghi nhận đa 
số có triệu chứng đau ngực khi nhập viện 
(77,8%), ngoài ra đặc biệt 4 trường hợp (12,9%) 
có biểu hiện choáng mất máu lúc nhập cấp cứu. 
Về kỹ thuật can thiệp, chúng tôi có 4 trường hợp 
(12,9%) phải chuyển vị động mạch trên quai động 
mạch chủ và 9 trường hợp (29 %) che phủ chủ ý 
động mạch dưới đòn trái để có vùng hạ đặt ống 
ghép thích hợp. Về phương pháp vô cảm, tỷ lệ 
gây tê tại chỗ là 38,8 %. 
Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu 
Đặc điểm Số bệnh nhân (n=31) Tỷ lệ (%) 
Tuổi trung bình 64,12 ± 15,1 
Giới nam 25 80,7 
Hút thuốc lá 20 64,5 
Tăng huyết áp 27 87,1 
Bệnh mạch vành 19 61,2 
Hẹp động mạch cảnh 7 22,5 
Rối loạn lipid máu 19 61,2 
Đái tháo đường 11 35,4 
Triệu chứng nhập viện 
Đau ngực 
Khó thở 
Ho ra máu 
Choáng mất máu 
Tràn máu màng phổi 
24 
6 
1 
4 
15 
77,4 
19,3 
3,2 
12,9 
48,3 
KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH CẤP CỨU ĐIỀU TRỊ VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC ĐOẠN XUỐNG 
 15 
Bảng 2: Đặc điểm phương pháp can thiệp đặt ống ghép nội mạch 
Đặc điểm can thiệp 
Số bệnh nhân 
(n=31) 
Tỷ lệ (%) 
Phương pháp vô cảm 
Mê nội khí quản 
Tê tại chỗ 
19 
12 
61,2 
38,8 
Chuyển vị các nhánh ĐM trên quai ĐMC 
ĐM dưới đòn trái 
ĐM dưới đòn trái, cảnh chung trái 
ĐM dưới đòn trái, cảnh chung trái, cảnh chung phải 
Che phủ động mạch dưới đòn trái 
Che phủ động mạch thân tạng 
Tạo đường dẫn do đường kính động mạch chậu nhỏ 
4 
0 
4 
0 
9 
1 
3 
12,9 
0 
12,9 
0 
29 
3,2 
9,6 
4. Kết quả chu phẫu và kết quả trung hạn 
Bảng 3: Kết quả can thiệp 
 Số bệnh nhân (n=31) Tỷ lệ (%) 
Bung ống ghép thành công 31 100 
Chuyển mổ mở 0 0 
Tử vong trong khi can thiệp 0 0 
Tai biến trong can thiệp 
Vỡ ĐMC 
Bóc tách ĐMC 
Tổn thương ĐM đường vào 
Lấp ĐM nuôi não ngoài ý muốn 
Lấp ĐM nuôi tạng gây thiếu máu tạng 
0 
0 
1 
0 
0 
0 
0 
3,2 
0 
0 
Trong thời gian chu phẫu, chúng tôi ghi nhận 2 trường hợp tử vong do nhồi máu cơ tim. Tỷ lệ 
bung ống ghép thành công là 100 %, 1 trường hợp bị tổn thương động mạch đường vào, được phát 
hiện kịp thời và khâu cầm máu thành công. 
Đến tháng 12/2019, thời gian theo dõi trung bình là 18,6 tháng. Trường hợp được theo dõi lâu 
nhất là 54 tháng, ngắn nhất là 2 tháng. Ngoại trừ 2 trường hợp tử vong chu phẫu, các trường hợp còn 
lại được tái khám và theo dõi định kỳ đầy đủ. Hình ảnh sau can thiệp được so sánh cẩn thận với hình 
ảnh trước mổ nhằm phát hiện những biến chứng liên quan đến kỹ thuật đặt ống ghép. Trong quá trình 
theo dõi, chúng tôi ghi nhận thêm 9 trường hợp tử vong, trong đó 6 ca do nhồi máu cơ tim, 1 ca do 
nhiễm trùng huyết, rò động mạch chủ thực quản, 2 ca do viêm phổi. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 16 
Bảng 4: Tỷ lệ tử vong và các biến chứng sau hơn 30 ngày 
Biến chứng Số bệnh nhân (n=29) Tỷ lệ (%) 
Tử vong 9 31 
Nhồi máu cơ tim 6 20,6 
Đột quỵ 3 10,3 
Suy thận cần điều trị thay thế thận 0 0 
Viêm phổi, suy hô hấp cần thở máy 2 6,8 
Yếu hoặc liệt hai chi dưới 2 6,8 
Rò động mạch chủ thực quản 1 3,4 
Thiếu máu nuôi tạng và chi 0 0 
Vỡ túi phình sau lần đầu can thiệp 1 3,4 
Can thiệp lại 0 0 
Tất cả 29 trường hợp theo dõi được chụp cắt lớp điện toán kiểm tra. 28 trường hợp (96,5 %) 
thấy túi phình giảm hoặc không tăng kích thước, 1 trường hợp túi phình tăng kích thước hơn > 10 mm 
ở tháng thứ 6 sau can thiệp nhưng không rõ loại rò ống ghép, bệnh nhân này sau đó tử vong do vỡ túi 
phình và viêm phổi. Ngoài ra, trong nghiên cứu còn ghi nhận 6 trường hợp rò ống ghép loại II từ ĐM 
dưới trái. Trong quá trình theo dõi, hình ảnh rò loại II vẫn còn tồn tại nhưng kích thước túi phình 
không tăng thêm. Đặc biệt trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận 1 ca rò động mạch chủ thực quản, 
biến chứng xuất huyết tiêu hoá, nhiễm trùng huyết và tử vong ở tháng thứ 6. 
Bảng 5: Tỷ lệ biến chứng liên quan đến kỹ thuật can thiệp sau hơn 30 ngày 
Biến chứng liên quan kỹ thuật can thiệp Số bệnh nhân (n=29) Tỷ lệ (%) 
Rò ống ghép 
Loại I 
Loại II 
Loại III 
Loại IV 
Loại V 
0 
6 
0 
0 
0 
0 
20,6 
0 
0 
0 
Tăng đường kính túi phình > 5mm 1 3,4 
Rò ống ghép – thực quản 1 3,4 
BÀN LUẬN 
a. Đặc điểm lâm sàng và kỹ thuật can 
thiệp 
Nghiên cứu của chúng tôi gồm 31 vỡ 
phình động mạch chủ ngực đoạn xuống được cán 
thiệp nội mạch cấp cứu, nam giới chiếm ưu thế 
giống như các nghiên cứu khác trên thế giới. Về 
đặc điểm lâm sàng, hầu hết trường hợp nhập viện 
trong bệnh cảnh huyế động còn ổn định, chỉ có 
4/31 trường hợp choáng mất máu. Vỡ phình động 
mạch chủ ngực đoạn xuống thường có 3 dạng: 
dạng vỡ tự do, vỡ trong bao khu trú và dạng đe 
doạ, tiến triển. Dạng vỡ tự do thường bệnh nhân 
mất máu rất nhanh vào khoang màng phổi trái và 
đa số tử vong trước lúc nhập viện [8]. Một loại vỡ 
hay gặp trong hầu hết các nghiên cứu là vỡ khu 
trú biểu hiện trên hình ảnh chụp cắt lớp điện toán 
là tụ dịch trung thất đậm độ cao. Các dạng vỡ có 
KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH CẤP CỨU ĐIỀU TRỊ VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC ĐOẠN XUỐNG 
 17 
biểu hiện tràn máu màng phổi là dạng đe doạ tiến 
triển và cần can thiệp khẩn cấp. Một ưu điểm của 
can thiệp nội mạch so với mổ mở trong điều trị 
bệnh lý động mạch chủ là bệnh nhân có thể 
không cần gây mê toàn thân. Trên thế giới có 
nhiều nghiên cứu so sánh kết quả của các phương 
pháp vô cảm trong can thiệp đặt ống ghép nội 
mạch. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy 
không có sự khác biệt trong tỷ lệ tử vong chu 
phẫu giữa các phương pháp vô cảm [9]. Tuy 
nhiên, nhiều tác giả lại khuyến cáo gây mê toàn 
thân trong đặt stent graft vì phương pháp gây mê 
giúp phẫu thuật viên kiểm soát dễ dàng huyết áp 
trong lúc bung ống ghép. Không những thế, gây 
mê toàn thân giúp BN nằm yên trong lúc thao tác, 
điều này tránh việc tăng huyết áp do cường giao 
cảm khi đau và tránh được những tổn thương ĐM 
đường vào trong lúc can thiệp. Mặc dù vậy, ở 
những BN nguy cơ cao như lớn tuổi, có nhiều 
bệnh lý nặng đi kèm và vỡ túi phình, đặc biệt 
trong trường hợp cấp cứu, phương pháp gây tê tại 
chỗ được khuyến cáo sử dụng nhiều hơn vì giúp 
BN tránh được tác dụng phụ của thuốc mê và 
biến chứng suy hô hấp sau mổ. Ngoài ra, khi gây 
tê tại chỗ BN không cần phải nằm nghiêng kê tư 
thế, một việc có thế ảnh hưởng và làm nặng hơn 
tình trạng vỡ túi phình. Trong nghiên cứu này, 
chúng tôi ghi nhận 38,8% bệnh nhân được gây tê 
tại chỗ, tất cả trường hợp này được can thiệp 
thành công. Những trường hợp gây mê đa phần là 
do bệnh nhân cần mổ mở làm chuyển vị động 
mạch trên quai hoặc bệnh già yếu không hợp tác. 
Trong can thiệp động mạch chủ ngực, một 
vấn đề hay gặp là chuyển vị các nhánh ĐM trên 
quai ĐMC ngực. Việc chuyển vị là bắt buộc nếu 
chiều dài đầu gần nhỏ hơn 20mm nhằm tạo ra 
vùng hạ đặt thích hợp cho stent garft. Nghiên cứu 
của chúng tôi ghi nhận có 4 ca phình động mạch 
chủ ngực vỡ có vùng hạ đặt ở vùng 1 nên bắt 
buộc phải chuyển vị động mạch cảnh chung trái 
và dưới đòn trái để có chiều dài vùng hạ đặt thích 
hợp. Riêng các trường hợp có vùng hạ đặt nằm 
trong vùng 2, chúng tôi quyết định che phủ ĐM 
dưới đòn trái không kèm chuyển vị. Tỷ lệ che phủ 
ĐM dưới đòn trái của nghiên cứu chiếm tỷ lệ đáng 
kể 29 %. Trong can thiệp đặt stent graft, nếu vùng 
hạ nằm trong vùng 2, việc che phủ ĐM dưới đòn 
trái có thể được thực hiện mà không cần phải 
chuyển vị ĐM dưới đòn trái vào ĐM cảnh chung 
trái, điều này làm giảm đáng kể thời gian cuộc mổ 
do không phải mất thời gian mổ mở chuyển vị. 
Mặc dù vậy, theo khuyến cáo của hiệp hội phẫu 
thuật mạch máu thế giới năm 2009[10], nếu vùng 
hạ đặt ống ghép nội mạch trong vùng 2, việc che 
phủ ĐM dưới đòn trái kèm với chuyển vị nên được 
thực hiện thường quy trong những trường hợp can 
thiệp chương trình. Tuy nhiên, nếu trong trường 
hợp nguy cơ phẫu thuật cao và cần can thiệp cấp 
cứu, việc che phủ ĐM dưới đòn trái không kèm 
chuyển vị có thể chấp nhận được mặc dù nguy cơ 
đột quỵ và thiếu máu nuôi tay trái sau mổ cao hơn 
so với che phủ có kèm theo chuyển vị. Mặc dù 
vậy, các nghiên cứu trên thế giới đều đưa ra chỉ 
định tuyệt đối của chuyển vị khi che phủ ĐM dưới 
đòn trái trong những trường hợp sau [10]: 
 Bệnh nhân đã bắc cầu mạch vành và có sử 
dụng ĐM vú trong trái làm cầu nối. 
 Bệnh nhân suy thận mạn được phẫu thuật 
làm shunt động – tĩnh mạch trái để chạy thận. 
 Bệnh nhân đã được phẫu thuật thay ĐMC 
bụng dưới thận. 
 Tắc hoặc hẹp ĐM đốt sống phải. 
 Tắc ĐM chậu trong hai bên. 
b. Kết quả chu phẫu và trung hạn 
Về tỷ lệ tử vong chu phẫu và sau 30 ngày, 
nghiên cứu của chúng tôi có kết quả là 6,4 % và 
31 %, tương đương với nhiều nghiên cứu của 
một số tác giả như Jonker, Hammo [11, 12]. 2 
trường hợp tử vong chu phẫu đều không liên quan 
đến túi phình (nhồi máu cơ tim). 6/9 trường hợp 
tử vong sau 30 ngày cũng do nguyên nhân nhồi 
máu cơ tim, 1 trường hợp do viêm phổi và 2 
trường hợp tử vong liên quan đến túi phình. Đặc 
điểm của bệnh nhân can thiệp động mạch chủ là 
bệnh nhân thường lớn tuổi, có nhiều bệnh lý nội 
khoa đi kèm, ngoài ra bệnh lý mạch máu là bệnh 
lý hệ thống nên biến cố tim mạch là nguyên nhân 
tử vong hàng đầu sau can thiệp theo nhiều nghiên 
cứu. Trong trường hợp can thiệp cấp cứu, tầm 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 18 
soát bệnh lý mạch vành không thể thực hiện 
thường quy giống như can thiệp chương trình nên 
nguy cơ tim mạch sau mổ là rất lớn. Tuy cỡ mẫu 
của chúng tôi còn nhỏ nhưng kết quả này cũng 
cho thấy phương pháp can thiệp đặt stent graft có 
kết quả tỷ lệ tử vong chu phẫu thấp giống như 
một số nghiên cứu khác trên thế giới nếu so sánh 
với phương pháp mổ kinh điển [11-13] . 
Về biến chứng liên quan đến kỹ thuật, rò 
ống ghép là loại biến chứng hay gặp và được 
quan tâm nhất sau can thiệp động mạch chủ. Sau 
30 ngày theo dõi, nghiên cứu của chúng tôi không 
ghi nhận trường hợp nào rò ống ghép loại I nhưng 
có 6 trường hợp (20,6%) rò ống ghép loại II. 
Nguyên nhân do tỷ lệ che phủ dưới đòn trái của 
nghiên cứu đáng kể nên sẽ có rò ống ghép loại II 
từ động mạch dưới đòn trái. Cũng như nhiều 
nghiên cứu khác trên thế giới, chúng tôi chỉ đặt 
vấn đề can thiệp lại trong rò ống ghép loại II khi 
túi phình tăng kích thước trên 5mm trong vòng 6 
tháng hoặc trên 10 mm khi phát hiện ở bất kỳ thời 
điểm nào [14] . Sau khi theo dõi hơn 1 năm, 
chúng tôi nhận thấy tất cả trường hợp rò ống ghép 
loại II không tăng kích thước nên không can thiệp 
gì thêm. Ngoài biến chứng rò ống ghép, nghiên 
cứu của chúng tôi đặc biệt ghi nhận 1 trường hợp 
rò động mạch chủ-thực quản thứ phát. Theo y 
văn, đây là loại biến chứng rất nặng nề, chiếm tỷ 
lệ từ 1,7-1,9% [15] . Trường hợp của nghiên cứu 
là một bệnh nhân 51 tuổi, có tiền căn ghép thận tự 
thân, đang dùng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài 4 
năm. Bệnh nhân được can thiệp cấp cứu do có túi 
phình động mạch chủ ngực xuống dạng túi vỡ 
nghi do nhiễm trùng. Mặc dù được can thiệp 
thành công và phát hiện kịp thời biến chứng rò 
động mạch chủ thực quản nhưng bệnh nhân tử 
vong do nhiễm trùng huyết nghĩ do suy giảm 
miễn dịch nặng ở tháng thứ 6. Nhiều tác giả cho 
rằng có 2 giả thuyết gây nên biến chứng rò động 
mạch chủ thực quản sau đặt ống ghép nội mạch. 
Nguyên nhân thứ nhất là do lực ly tâm của ống 
ghép nội mạch tác động làm ăn mòn thành động 
mạch chủ. Nguyên nhân thứ hai là do nhiễm 
trùng gây ra phản ứng viêm, gây loét thành động 
mạch chủ và thực quản. Ở bệnh nhân của chúng 
tôi có hai yếu tố thuận lợi trên, đặc biệt là yếu tố 
nhiễm trùng do suy giảm miễn dịch sau một thời 
gian dài phải dùng thuốc ức chế miễn dịch. Để 
điều trị rò động mạch chủ- thực quản, nhiều tác 
giả đề nghị phẫu thuật làm sạch ổ nhiễm trùng, 
lấy bỏ ống ghép, xử lý tổn thương thực quản và 
dùng kháng sinh lâu dài. Nếu bệnh nhân có nguy 
cơ phẫu thuật cao, chúng ta có thể đặt giá đỡ che 
phủ thực quản để tránh biến chứng xuất huyết 
tiêu hoá trước, sau đó phẫu thuật triệt để xử lý 
thương tổn sau. Tuy nhiên, vì đây là phẫu thuật 
lớn nên tỷ lệ tử vong sau mổ còn cao. 
Hình 1: Bệnh nhân T.V.A 61 tuổi, can thiệp đặt stent graft cấp cứu do phình ĐMC ngực vỡ, phát hiện 
rò động mạch chủ thực quản sau 6 tháng 
KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH CẤP CỨU ĐIỀU TRỊ VỠ PHÌNH ĐỘNG MẠCH CHỦ NGỰC ĐOẠN XUỐNG 
 19 
Trường hợp vỡ túi phình duy nhất sau can 
thiệp của nghiên cứu chúng tôi là một trường 
hợp có tăng đường kính túi phình > 5mm nhưng 
không rõ loại rò ống ghép. Trong thời gian chu 
phẫu, bệnh nhân tiến triển tốt và chúng tôi 
không ghi nhận rò ống ghép hay vỡ túi phình. 
Tuy vậy, BN này không đi tái khám theo lịch 
hẹn mà chỉ nhập cấp cứu vào tháng thứ 6 do 
khó thở và mệt. Sau khi chụp cắt lớp điện toán 
kiểm tra, chúng tôi phát hiện đường kính túi 
phình của BN là 140 mm, tăng hơn 10 mm so 
với trước can thiệp. Bệnh nhân đột tử do vỡ túi 
phình trước khi được can thiệp lại. Một số 
nghiên cứu trên thế giới khi theo dõi sau đặt 
ống ghép nội mạch cũng ghi nhận những trường 
hợp tăng kích thước túi phình nhưng không rõ 
loại rò ống ghép. Nhiều tác giả cho rằng những 
trường hợp này có thể là rò ống ghép loại V, rò 
dạng thẩm thấu qua ống ghép [16]. Tuy nhiên 
để khẳng định rò ống ghép loại V cần nhiều 
phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại hơn để 
chứng minh. Qua trường hợp tử vong do vỡ túi 
phình trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy 
rằng việc tái khám đầy đủ và theo dõi sát cũng 
góp phần phát hiện sớm những trường hợp có 
biến chứng liên quan đến ống ghép để can thiệp 
kịp thời nhằm ngăn ngừa biến chứng vỡ túi 
phình.
a) 
b) 
Hình 2: Bệnh nhân tăng kích thước túi phình (b) so với sau khi can thiệp (a) 
KẾT LUẬN 
Qua 31 bệnh nhân được can thiệp cấp cứu 
đặt stent graft điều trị vỡ phình động mạch chủ 
ngực, chúng tôi nhận thấy đây là phương pháp 
mới an toàn, ít xâm lấn, hiệu quả, có tỷ lệ tử vong 
chu phẫu thấp, tỷ lệ thành công về mặ kỹ thuật 
cao. Qua nghiên cứu này, chúng tôi cũng ghi 
nhận số lượng bệnh nhân can thiệp động mạch 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 31 - THÁNG 1/2021 
 20 
chủ ngực có vùng hạ đặt ở vùng 2 chiếm tỷ lệ 
đáng kể, do đó phủ động mạch dưới đòn trái có 
thể được xem xét trong can thiệp cấp cứu. Ngoài 
ra, biến cố tim mạch sau can thiệp vẫn là nguyên 
nhân tử vong hàng đầu, do đó việc khảo sát mạch 
vành nên được khuyến cáo thực hiện ngay cả 
trong can thiệp cấp cứu và cần sự phối hợp nhịp 
nhàng với nhóm chuyên khoa tim mạch can thiệp. 
Trong quá trình theo dõi, biến chứng liên quan 
đến ống ghép đáng kể nên cần những nghiên cứu 
dài hạn hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả của 
phương pháp này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Moore, W., Endovascular Suegery 
2011: Elsevier Saunders. 
2. Swerdlow, N.J., W.W. Wu, and M.L. 
Schermerhorn, Open and Endovascular 
Management of Aortic Aneurysms. Circ Res, 
2019. 124(4): p. 647-661. 
3. Michael, D., Transluminal placement of 
endovascular stent graft for the treatment of 
descending thoracic aortic aneurysm. New England 
Journal Medicine, 1994. 331: p. 1729-1734. 
4. Semba, C.P., et al., Acute Rupture of the 
Descending Thoracic Aorta: Repair with Use of 
Endovascular Stent-Grafts. Journal of Vascular and 
Interventional Radiology, 1997. 8(3): p. 337-342. 
5. Gopaldas, R.R., et al., Endovascular 
versus open repair of ruptured descending 
thoracic aortic aneurysms: a nationwide risk-
adjusted study of 923 patients. J Thorac 
Cardiovasc Surg, 2011. 142(5): p. 1010-8. 
6. Hiếu, N.L. and T.V. Hoàng, Một số đặc 
điểm kỹ thuật và kết quả bước đầu của can thiệp 
đặt stent graft ở bệnh nhân có bệnh lý động mạhc 
chủ tại viện tim mạch quốc gia Tạp chí Y học 
thực hành 2013. 866(4): p. 171-173. 
7. Phạm Minh Ánh, P.D.K., Đánh giá kết 
quả đặt ống ghép nội mạch điều trị bệnh lý động 
mạch chủ Tạp chí Y học TPHCM, 2017. 21: p. 190. 
8. Rajiah, P., CT and MRI in the 
Evaluation of Thoracic Aortic Diseases. Int J 
Vasc Med, 2013. 2013: p. 797189. 
9. Hogendoorn, W., et al., Surgical and 
anesthetic considerations for the endovascular 
treatment of ruptured descending thoracic aortic 
aneurysms. Curr Opin Anaesthesiol, 2014. 27(1): 
p. 12-20. 
10. Matsumura, J.S., A.Z. Rizvi, and S. 
Society for Vascular, Left subclavian artery 
revascularization: Society for Vascular Surgery 
Practice Guidelines. J Vasc Surg, 2010. 52(4 
Suppl): p. 65S-70S. 
11. Jonker, F.H., et al., Outcomes of 
endovascular repair of ruptured descending 
thoracic aortic aneurysms. Circulation, 2010. 
121(25): p. 2718-23. 
12. Hammo, S., et al., Outcome After 
Endovascular Repair of Ruptured Descending 
Thoracic Aortic Aneurysm: A National 
Multicentre Study. Eur J Vasc Endovasc Surg, 
2019. 57(6): p. 788-794. 
13. Lee, H.C., et al., Endovascular Repair 
versus Open Repair for Isolated Descending 
Thoracic Aortic Aneurysm. Yonsei Med J, 2015. 
56(4): p. 904-12. 
14. Ameli-Renani, S., V. Pavlidis, and 
R.A. Morgan, Secondary Endoleak Management 
Following TEVAR and EVAR. Cardiovasc 
Intervent Radiol, 2020. 
15. Tao, M., et al., Secondary aorto-
esophageal fistula after thoracic aortic aneurysm 
endovascular repair treated by covered 
esophageal stenting. World J Clin Cases, 2016. 
4(8): p. 233-7. 
16. Harky, A., et al., Ruptured isolated 
descending thoracic aortic aneurysm: open or 
endovascular repair? Vessel Plus, 2018. 2(5). 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_can_thiep_noi_mach_cap_cuu_dieu_tri_vo_phinh_dong_ma.pdf