Kết quả bước đầu phẫu thuật phục hồi giạng vai, gấp khuỷu, vận động và cảm giác bàn tay điều trị nhổ, đưt toàn bộ các rễ thần kinh đám rối cánh tay do chấn thương

Đặt vấn đề: Phẫu thuật phục hồi đồng thời giạng vai, gấp khuỷu, vận động và

cảm giác bàn tay trong một lần mổ ở những trường hợp tổn thương nhổ, đứt sát lỗ

ghép toàn bộ các rễ thần kinh đám rối cánh tay là một thách thức lớn đối với cả

nguồn cho và kỹ thuật phục hồi. Báo cáo này nhằm đánh giá kết quả bước đầu và

tính ưu việt của kỹ thuật ở 26 bệnh nhân được phẫu thuật từ 10/2012 đến 12/ 2013

tại khoa phẫu thuật chi trên và vi phẫu thuật thuộc Bệnh viện Trung ương Quân

đội 108.

Đối tượng và phương pháp: 26 BN bị nhổ hoặc đứt sát lỗ ghép toàn bộ các rễ

đám rối thần kinh cánh tay, được phẫu thuật chuyển thần kinh XI cho thần kinh

trên vai, toàn bộ rễ C7 từ bên lành phục hồi thần kinh cơ bì, nhánh trước thần kinh

nách và thần kinh giữa qua 2 đoạn ghép thần kinh trụ có mạch nuôi. Đánh giá kết

quả sau mổ trên 28 tháng theo BMRC.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả bước đầu phẫu thuật phục hồi giạng vai, gấp khuỷu, vận động và cảm giác bàn tay điều trị nhổ, đưt toàn bộ các rễ thần kinh đám rối cánh tay do chấn thương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả bước đầu phẫu thuật phục hồi giạng vai, gấp khuỷu, vận động và cảm giác bàn tay điều trị nhổ, đưt toàn bộ các rễ thần kinh đám rối cánh tay do chấn thương

Kết quả bước đầu phẫu thuật phục hồi giạng vai, gấp khuỷu, vận động và cảm giác bàn tay điều trị nhổ, đưt toàn bộ các rễ thần kinh đám rối cánh tay do chấn thương
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
276
Nguyễn Viết Ngọc
Nguyễn Việt Tiến
Lê Văn Đoàn
Chế Đình Nghĩa 
– Bùi Việt Hùng 
Trương Anh Dũng
Ngô Thái Hưng
Vũ Hữu Trung
Nguyễn Việt Tân
Bệnh viện TWQĐ 108
Nguyen Viet Ngoc
Nguyen Viet Tien
Le Van Doan
Che Dinh Nghia
Bui Viet Hung
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU PHẪU THUẬT PHỤC HỒI 
GIẠNG VAI, GẤP KHUỶU, VẬN ĐỘNG VÀ CẢM GIÁC 
BÀN TAY ĐIỀU TRỊ NHỔ, ĐƯT TOÀN BỘ CÁC RỄ THẦN 
KINH ĐÁM RỐI CÁNH TAY DO CHẤN THƯƠNG 
SURGICAL INITIAL OUTCOMES IN RESTORATION OF 
SHOULDER ABDUCTION, ELBOW FLEXION, MOTOR 
AND SENSORY OF THE HAND FOR TREATMENT OF 
TOTAL BRACHIAL PLEXUS ROOTS AVULSION OR 
RUPTURE INJURY BY TRAUMA
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Phẫu thuật phục hồi đồng thời giạng vai, gấp khuỷu, vận động và 
cảm giác bàn tay trong một lần mổ ở những trường hợp tổn thương nhổ, đứt sát lỗ 
ghép toàn bộ các rễ thần kinh đám rối cánh tay là một thách thức lớn đối với cả 
nguồn cho và kỹ thuật phục hồi. Báo cáo này nhằm đánh giá kết quả bước đầu và 
tính ưu việt của kỹ thuật ở 26 bệnh nhân được phẫu thuật từ 10/2012 đến 12/ 2013 
tại khoa phẫu thuật chi trên và vi phẫu thuật thuộc Bệnh viện Trung ương Quân 
đội 108.
Đối tượng và phương pháp: 26 BN bị nhổ hoặc đứt sát lỗ ghép toàn bộ các rễ 
đám rối thần kinh cánh tay, được phẫu thuật chuyển thần kinh XI cho thần kinh 
trên vai, toàn bộ rễ C7 từ bên lành phục hồi thần kinh cơ bì, nhánh trước thần kinh 
nách và thần kinh giữa qua 2 đoạn ghép thần kinh trụ có mạch nuôi. Đánh giá kết 
quả sau mổ trên 28 tháng theo BMRC. 
Kết quả: Kết quả phục hồi: giạng vai ≥ 90 là 22/26; gấp khuỷu, gấp cổ tay và các 
ngón tay đạt ≥ M3 lần lượt là 24/26, 18/26 và 16/26, phục hồi cảm giác ở bàn tay 
mức ≥ S2 là 26/26. 
Kết luận: Chuyển thần kinh XI cho thần kinh trên vai và chuyển toàn bộ rễ C7 
bên lành phục hồi thần kinh cơ bì, nhánh trước thần kinh nách và thần kinh giữa 
qua 2 đoạn ghép thần kinh trụ có mạch nuôi là kỹ thuât có nhiều ưu thế và kết quả 
bước đầu là rất khả quan.
* Bệnh viện TWQĐ 108
Từ khóa: Chuyển rễ C7 đối bên, đám rối thần kinh cánh tay
ABTRACT
Background: Recovery of shoulder abduction, elbow flexion, motor and sensory 
of the hand during a surgery in these cases total brachial plexus roots avulsion 
and rupture injuries is a major challenge for both doner nerve and recovery 
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
277
techniques. This report aims to assess the initial results and the superiority of 
technical in 26 patients who underwent surgery from 10/2012 to 12/2013 in upper 
limb surgery and micro surgery department of the 108 Hospital. 
Materials & methods: 26 patients with total brachial plexus root avulsion and 
rupture were treated with accessory nerve to the suprascapular nerve transfer, the 
total contralateral C7 transfer to the musculocutaneous and axillary and median 
nerves in injured limb. Surgery was performed total contralateral C7 transfer with 
vascularized two ulnar nerve graft. The results is evaluated by BMRC, with the 
follow-up period of 28 months after surgery.
Results: Recovery results on a 90-degree shoulder abduction is 22/26, The motor 
recovery of the musculocutaneous and median nerves revealed that the elbow 
flexors, wrist flexors and finger flexors reached ≥ M3 is 24/26, 18/26 and 16/26 
respectively and sensory recovery on the hand reached ≥ S2 in 24/26 of patients. 
Conclusion:
The accessory nerve to the suprascapular nerve transfer, the total contralateral C7 
transfer to the musculocutaneous and axillary and median nerves in injured limb. 
Surgery was performed total contralateral C7 transfer with vascularized two ulnar 
nerve graft has many advantages and initial results are very encouraging
Keywords: Contralateral C7, brachial plexus injury 
Truong Anh Dung
Ngo Thai Hung
Vu Huu Trung
Nguyen Viet Tan
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
 Phẫu thuật điều trị tổn thương nhổ hoặc đứt sát 
lỗ ghép tất cả các rễ thần kinh (TK) đám rối cánh tay 
(ĐRCT) hiện nay vẫn là một thách thức lớn, phương 
pháp điều trị duy nhất là sử dụng TK ngoài đám rối để 
chuyển phục hồi TK quan trọng bên tổn thương. Hiện 
nay, đường hướng chung là chuyển nhiều nguồn TK có 
thể để phục hồi đồng thời những động tác quan trọng 
của chi thể và sử dụng đoạn TK ghép có mạch nuôi. 
Những chức năng quan trọng của chi trên được nhiều 
tác giả đồng thuận lựa chọn để phục hồi đối với loại tổn 
thương này là giạng vai, gấp khuỷu, gấp cổ - bàn tay và 
cảm giác bàn –ngón tay.
Tại Bệnh viện TƯQĐ 108, từ 10/2012 đến nay, 
chúng tôi thực hiện phục hồi đồng thời các chức năng 
nói trên trong một cuộc mổ đó là chuyển nối trực tiếp 
TK XI cho TK trên vai, chuyển rễ C7 bên lành cho TK 
cơ bì, TK nách và TK giữa với 2 đoạn ghép là TK trụ có 
mạch nuôi đi qua đường hầm sau xương đòn và trước 
khí quản. Trong báo cáo này, chúng tôi xin thông báo 
kết quả bước đầu và tính ưu việt của kỹ thuật.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng
26 bệnh nhân (BN) bị tổn thương hoàn toàn ĐRCT do 
nhổ hoặc đứt sát lỗ ghép toàn bộ các rễ TK, được điều trị 
phẫu thuật từ 10/2012 - 12/2013 tại Bệnh viện TƯQĐ 108.
Tiêu chuẩn lựa chọn BN:
BN được chẩn đoán nhổ, đứt tất cả các rễ TK ĐRCT 
qua khám lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh (chụp MRI, 
CT-myelography). Thời gian từ khi tổn thương đến khi 
được mổ < 6 tháng. BN < 60 tuổi và đồng ý phẫu thuật. 
Các khớp vai, khuỷu, cổ tay và các khớp ở ngón tay bên 
liệt mềm mại. Không có tổn thương đụng dập, xơ hóa 
nặng các cơ vùng vai, khu trước cánh tay, cẳng tay và 
không có chống chỉ định của bệnh lý toàn thân.
Tiêu chuẩn loại trừ:
BN đến muộn > 6 tháng, > 60 tuổi. Tổn thương sẹo 
co kéo vùng nách, cánh tay và khuỷu, các cơ vùng trên 
gai, dưới gai, khu trước cánh tay, cẳng tay bị tổn thương 
nặng. Cứng khớp vai, khuỷu hoặc hạn chế vận động thụ 
động nhiều. Có các bệnh lý toàn thân nặng không cho 
phép phẫu thuật.
Phương pháp 
Tiến cứu theo phương pháp quan sát mô tả, phân tích 
lâm sàng, theo dõi dọc, không nhóm chứng.
Quy trình kỹ thuật: 
BN nằm ngửa, được gây mê qua nội khí quản, đặt 
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
278
gối dưới vai để cổ ưỡn tối đa, tay bên liệt được đặt trên 
bàn mổ kê tay. 
- Bước 1. Kiểm tra và đánh giá tổn thương: Rạch da 
theo đường ngay phía trên xương đòn 2 cm, từ bờ ngoài 
cơ ức – đòn - chũm kéo ra sau, bộc lộ vào tam giác cổ 
sau. Tìm động mạch cổ ngang nông, TM cổ nông, TK 
XI và TK trên vai.
- Bước 2. Bộc lộ rễ C7 lành bên lành: Rạch da như 
bên tổn thương, bộc lộ đầy đủ tất cảc các rễ TK của 
ĐRCT và xác định đánh dấu rễ C7. 
- Bước 3. Tạo đường hầm trước khí quản: Tạo một 
đường hầm trước khí quản sang bên đối diện và đặt chỉ 
chờ.
- Bước 4. Bộc lộ TK cơ bì , TK nách và TK giữa 
trong hố nách bên tổn thương: Rạch da chữ S, từ thành 
trước nách qua bờ dưới cơ ngực lớn đến hố nách và tới 
1/3 trên cánh tay. Phẫu tích tìm TK cơ bì, TK nách, TK 
giữa (gồm cả rễ trong và rễ ngoài) và TK trụ. 
 - Bước 5. Tạo đường hầm sau xương đòn từ hố nách 
lên vùng tam giác cổ sau ở bên tổn thương: Phẫu tích tạo 
đường hầm từ hố nách, đi sau xương đòn lên vùng tam 
giác cổ sau và đặt chỉ chờ
- Bước 6. Lấy TK trụ bên tổn thương làm đoạn ghép: 
đặt ga rô sát nách, rạch da zíc zắc dọc theo đường đi 
của TK trụ, từ đầu dưới của đường rạch hố nách - cánh 
tay tới cổ tay. Bóc tách lấy TK trụ đi cùng bó mạch trụ 
từ nếp gấp cổ tay đến sát nguyên ủy. Tại vùng nguyên 
ủy, tách bao ngoài và cắt TK trụ sao cho không gây tổn 
thương mạch đi vào nuôi TK ở vùng này. 
- Bước 7. Luồn đoạn ghép TK trụ qua đường hầm và 
nối động mạch trụ vào động mạch cổ ngang nông, tĩnh 
mach trụ với tĩnh mạch cổ nông, nối các mối nối TK 
bằng kỹ thuật vi phẫu: 
+ Luồn đầu ngoại vi TK trụ qua đường hầm sau 
xương đòn lên vùng cổ bên tổn thương. Nối mạch nuôi 
TK ghép từ động mạch cổ ngang qua cuống mạch trụ đi 
cùng TK và tĩnh mạch trụ với tĩnh mạch cổ nông hoặc 
nhánh nông có cùng kích thước.
+ Đoạn ghép TK trụ được gập đôi, luồn đầu gập đôi 
qua đường hầm trước khí quản, luồn đầu ngoại vi qua 
đường hầm sau xương đòn xuống vùng hố nách.
+ Cắt rễ C7 bên lành, vi phẫu tích để tách đôi rễ C7 
theo chiều trước sau thành nửa trong và nửa ngoài.
+ Mở dọc và tách bao dây TK trụ trên đoạn dài 3 cm 
tại vùng gập đôi, cắt đôi TK trụ sao cho không gây tổn 
thương mạch máu ở bao dây TK. Nối hai nửa rễ C7 với 
hai đoạn ghép TK trụ với các mối khâu bao ngoài - bao 
bó sợi TK bằng chỉ 9/0.
+ Nối 2 đầu TK trụ còn lại: với TK cơ bì (nhánh gan 
tay của đoạn xa), nhánh trước TK nách (nhánh mu tay 
của đoạn xa) và TK giữa (đoạn gần).
+ Cắt TK XI sát điểm vào cơ và khâu chuyển nối 
trực tiếp với TK trên vai
+ Đóng các vết mổ 2 lớp. Khi đóng vết mổ vùng cổ 
bên tổn thương, chú ý đặt mối nối động mạch trụ với 
động mạch cổ ngang ngay dưới đường khâu da để theo 
dõi sự lưu thông của động mạch bằng ống nghe siêu âm 
Doppler. 
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả:
Đánh giá kết quả phục hồi chức năng của TK nhận: 
theo các chỉ tiêu của Hội đồng nghiên cứu Y học Anh 
(British Medical Research Council) [6].
III. KẾT QUẢ
- Sự phục hồi giạng vai (TK trên vai và mũ): 26 BN 
được theo dõi trên 28 tháng (từ 28 ÷ 45 tháng) sau mổ, 
phục hồi giạng vai thể hiện ở bảng 1. 
Bảng 1. Phục hồi giạng sau chuyển TK XI cho trên vai và rễ C7 bên lành 
cho nhánh trước TK nách (n = 26 BN)
Keát quaû
Thôøi gian
 Phuïc hoài daïng vai Toång
45 ÷ 90 91 º ÷ 120 >120 º
28 ÷ 36 thaùng 3 2 2 7
37 ÷ 45 thaùng 1 8 10 19
Toång 4 10 12 26
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
279
Bảng 1 cho thấy 26/26 BN phục hồi động tác giạng 
vai, trong đó có 22/26 BN có góc giạng vai > 90º .
- Sự phục hồi của TK cơ bì: Kết quả phục hồi TK cơ 
bì được thể hiện ở bảng 2. 
Bảng 2. Phục hồi gấp khuỷu sau chuyển rễ C7 bên lành cho TK cơ bì (n = 20 BN)
Keát quaû
Thôøi gian
 Phuïc hoài gaáp khuyûu Toång
M0 M1-2 M3 M4
28 ÷ 36 thaùng 0 2 4 2 8
37 ÷ 45 thaùng 0 0 10 8 18
Toång 0 2 14 10 26
Bảng 3. . Phục hồi gấp cổ tay (n = 26)
Keát quaû
Thôøi gian
 Phuïc hoài gaáp khuyûu Toång
M0 M1 M2 M3 M4
28 ÷ 36 thaùng 0 1 3 3 1 8
37 ÷ 45 thaùng 0 0 4 9 5 18
Toång 0 1 7 12 6 26
Bảng 4. Phục hồi gấp các ngón tay (n = 26)
Keát quaû
Thôøi gian
 Phuïc hoài gaáp khuyûu Toång
M0 M1 M2 M3 M4
28 ÷ 36 thaùng 1 2 2 4 0 9
37 ÷ 45 thaùng 0 0 5 10 2 17
Toång 1 2 7 14 2 26
Bảng 5. Phục hồi cảm giác bàn - ngón tay (n = 26)
Keát quaû
Thôøi gian
 Phuïc hoài gaáp khuyûu Toång
S1 S2 S2+ S3 S3+
28 ÷ 36 thaùng 2 3 1 2 0 8
37 ÷ 45 thaùng 0 5 6 8 2 18
Toång 2 2 7 10 2 26
- Sự phục hồi của TK giữa: Kết quả phục hồi TK 
giữa thể hiện ở bảng 3, 4 và 5.
Bảng 2 cho thấy tỉ lệ phục hồi gấp khuỷu ≥ M3 là 
24/26 BN.
Bảng 3 cho thấy tỉ lệ phục hồi gấp cổ tay từ M3 trở lên là 18/26 BN
Bảng 4 cho thấy có 16/26 BN phục hồi từ M3 trở lên.
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
280
IV. BÀN LUẬN
- Về kết quả của phẫu thuật: 
Động tác giạng vai và gấp khuỷu là rất quan trọng 
của chi trên, được ưu tiên hàng đầu trong phẫu thuật 
phục hồi chi liệt. Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất 
phục hồi giạng vai ≥ 90º và gấp khuỷu đạt M3 trở lên 
được xem là có ý nghĩa [2] [4]. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi ở bảng 1và 2 cho thấy tỉ lệ phục hồi giạng vai 
≥ 90º là 22/26 BN và gấp khuỷu đạt M3 trở lên là 24/26 
BN. Trong đó, tỉ lệ sức giạng vai ≥ 120º là 12/26 BN và 
gấp khuỷu đạt M4 là 10/26 BN với khả năng nâng tạ 
trung bình là 3,3 kg. Nghiên cứu của Chuang [2] trên 
23 BN phục hồi đồng thời TK cơ bì và TK giữa qua một 
đoạn ghép TK trụ với thời gian theo dõi tối thiểu trên 4 
năm cho thấy: phục hồi gấp khuỷu mức M3 trở lên là 
83%. Một nghiên cứu khác của Gao và cộng sự [3] trên 
22 BN cũng với phương pháp phẫu thuật như trên, với 
thời gian theo dõi tối thiểu là 4 năm thì tỉ lệ phục hồi gấp 
khuỷu đạt M3 trở lên là 66,7%. Như vậy, kết quả của 
chúng tôi là rất khích lệ.
Về kết quả phục hồi của TK giữa, báo cáo của 
Waikakul và cộng sự [11] ở 96 BN với kỹ thuật chuyển 
nửa rễ C7 cho TK giữa có thời gian theo dõi trên 3 năm 
cho thấy tỉ lệ phục hồi gấp cổ tay và gấp các ngón tay từ 
M3 trở lên lần lượt là 29% và 21%. Với kỹ thuật tương 
tự, kết quả nghiên cứu của Songcharoen [8] cho thấy tỉ lệ 
phục hồi gấp cổ tay và các ngón tay là 29%. Báo cáo của 
Chuang [2] ở 23 BN được phẫu thuật chuyển toàn bộ rễ 
C7 bên lành cho TK cơ bì và TK giữa với thời gian theo 
dõi tối thiểu 4 năm thì tỉ lệ phục hồi gấp khuỷu là 82,6% 
và gấp cổ tay - các ngón tay đạt M3 trở lên là 39%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bảng 3 và bảng 4 
cho thấy tỉ lệ phục hồi gấp cổ tay và gấp các ngón tay đạt 
M3 trở lên lần lượt là 18/26 và 16/26 BN, kết quả này 
cũng đáng khích lệ trong hoàn cảnh tập vận động phục 
hồi chức năng sau mổ một cách bài bản còn là khó khăn 
trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.
Phục hồi cảm giác ở mức bảo vệ ≥ S2 không những 
có ý nghĩa quan trọng giúp BN tránh được các thương 
tích đối với tay liệt mà còn tham gia vào quá trình tái tổ 
chức vỏ não khi người bệnh học một kỹ năng vận động 
mới. Trong nghiên cứu của chúng tôi, bảng 5 cho thấy 
26/26 BN sau mổ trên 28 tháng đều phục hồi cảm giác 
do TK giữa chi phối ở khu vực bàn tay; trong đó, 24/26 
BN đạt mức ≥ S2 . Kết quả này không khác biệt so với 
tỷ lệ 91,6% đạt mức ≥ S2 trong nghiên cứu của Terzis 
[10], 83,3% đạt mức ≥ S2 của Waikakul [11] và 72,7% 
đạt mức ≥ S2 trong nghiên cứu của Gao [3].
- Về tính ưu việt của kỹ thuật: 
Chiều dài đường hầm dưới da qua trước thành ngực 
từ bên liệt sang nền cổ bên lành ở người châu Á trong 
nghiên cứu của Waikakul [11] là 43,5 cm, của Chuang 
[2] là 40 cm, ở người da trắng trong nghiên cứu Terzis 
[10] là 51 cm. Như vậy, đoạn TK ghép phải có độ dài 
bằng khoảng 2/3 tổng chiều dài của TK trụ từ nguyên 
ủy tới cổ tay và do đó chỉ có thể sử dụng được một đoạn 
ghép TK trụ.
Trong những nghiên cứu gần đây, một số tác giả 
chuyển rễ C7 bên lành qua đường hầm trước cột sống 
[12], theo các tác giả thì đường hầm này sẽ giảm tối đa 
chiều dài đoạn ghép. Tuy nhiên, tính an toàn của đường 
đi này không cao nên không được áp dụng rộng rãi. Theo 
Chuang [2], đường hầm này rút ngắn được đường đi của 
đoạn ghép khoảng 10 cm song có nhược điểm là hiện 
tượng dị cảm xuất hiện khi BN nuốt do đoạn ghép nằm 
ngay phía sau thực quản, gây khó chịu cho người bệnh.
Kỹ thuật của chúng tôi có một số ưu điểm đó là: Thứ 
nhất, đoạn ghép TK trụ được sử dụng dưới dạng vạt 
ghép TK tự do, cấp máu cho đoạn xa của TK trụ qua 
cuống mạch trụ dưới được nối với động mạch cổ ngang 
nông và tĩnh mạch cổ nông, phần trung tâm của đoạn 
ghépTK trụ còn được tăng cường bởi nguồn mạch máu 
nhỏ được bảo tồn đi vào bao ngoài của TK ở sát nguyên 
ủy. Tại vị trí gập đôi của đoạn TK ghép được mở dọc 
bao ngoài và cắt TK trong bao nên vẫn giữ được sự cấp 
máu tối ưu cho cả hai đoạn ghép, hai nguồn cấp máu có 
thể bổ trợ cho nhau nên toàn bộ đoạn ghép TK trụ được 
cấp máu hoàn hảo, tránh được t×nh tr¹ng ho¹i tö - x¬ hãa 
ë trung t©m do kh«ng ® îc cÊp m¸u [9]. Thứ hai, đoạn 
ghép được luồn qua đường hầm sau xương đòn bên tổn 
thương và đường hầm trước khí quản để sang bên lành. 
Đường đi này ngắn đáng kể so với đường hầm dưới da 
qua thành ngực như trong nghiên cứu của các tác giả 
nước ngoài, đây là yếu tố rất quan trọng cho phép sử 
dụng đoạn ghép TK trụ gập đôi. Ngoài ra, theo chúng 
tôi, rễ C7 có 23.000 (17.000 - 40.000) sợi TK trong khi 
TK trụ chỉ có 14.161 (10.365 - 22.690) sợi [1], [7] nên 
nếu sử dụng một đoạn ghép TK trụ thì một lượng lớn sợi 
trục từ rễ C7 không đi vào được đoạn ghép. Vì vậy, việc 
sử dụng TK trụ gập đôi đảm bảo nhận tối đa số lượng 
sợi TK của C7 bên lành làm nguồn TK cho, kỹ thuật này 
chúng tôi chưa thấy trong y văn.
Chuyển nối trực tiếp TK XI choTK trên vai phù hợp 
về kích thước, không qua đoạn ghép là một ưu điểm lớn 
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
281
1. Bonnel F. (1984). Microscopic anatomy of the adult human 
brachial plexus: An anatomical and histological basis for 
microsurgery. Microsurg 5, 107-117. 
2. Chuang D.C.,Hernon C. (2012). Minimum 4-year follow-
up on contralateral C7 nerve transfers for brachial plexus 
injuries. J Hand Surg Am. 37(2), 270-276. 
3. Gao K., Lao J., Zhao X. et al. (2013). Outcome of 
contralateral C7 transfer to two recipient nerves in 22 
patients with the total brachial plexus avulsion injury. 
Microsurg. 
4. Gu Y.D. (1989). Neurotization by contralateral C7. 
Presented at the 9th Symposium on the brachial plexus. 
Villars, Switzerland, 30-31. 
5. Gu Y, Meng K. Use of the Phrenic Nerve for Brachial Plexus 
Reconstruction. Clin Orthop Relat Res.1996;323:119–21. 
6. Medical Research Council (1943), “Aids to the 
investigation of the peripheral nervous system London: Her 
Majesty’s Stationary Office”, Medical Research Council.
7. Slingluff, C.L., Terzis, J.K., and Edgerton, M.T. (1987), 
The quantitative microanatomy of the brachial plexus 
in man: Reconstructive relevance, Microreconstruction 
of nerve injuries, ed. Terzis, J.K. , W.B. Sauders Co, 
Philadelphia.
8. Songcharoen P., Wongtrakul S., Mahaisavariya B. et al. 
(2001). Hemi-contralateral C7 transfer to median nerve in 
the treatment of root avulsion brachial plexus injury. J Hand 
Surg Am, 26(6), 1058-1064. 
9. Taylor G.I., Ham F.J. (1975). The free vascularized nerve 
graft. Plast Reconstr Surg, 56, 166 - 170.
10. Terzis J.K., Kostopoulos V.K. (2009). Vascularized ulnar 
nerve graft: 151 reconstructions for posttraumatic brachial 
plexus palsy. Plast Reconstr Surg, 123(4), 1276-1291. 
11. Waikakul S., Orapin S., Vanadurongwan V. (1999). Clinical 
results of contralateral C7 root neurotization to the median 
nerve in brachial plexus injuries with total root avulsions. J 
Hand Surg Br, 24(5), 556-560. 
12. Wang S., Yiu H.W., Li P. et al. (2012). Contralateral C7 
nerve root transfer to neurotize the upper trunk via a 
modified prespinal route in repair of brachial plexus avulsion 
injury. Microsurg, 32(3), 183-188.
13. Xu WD, Gu YD, Lu JB, Yu C, Zhang CG, Xu JG. Pulmonary 
function after complete unilateral phrenic nerve transection. 
J Neurosurg. 2005;103:464–7. 
cho kết quả phục hồi của TK nhận. Với nguồn chuyển 
cho TK nách, đa số các tác giả dùng một trong các TK 
như: TK XI, TK hoành hoặc TK liên sườn và thường 
phải thực hiện qua một đoạn TK ghép kinh điển [5], 
[13]. Chúng tôi thực hiện chuyển rễ C7 đối bên đồng 
thời cho TK nách qua việc chia nhánh bì mu tay của 
đoạn ghép ngoại vi TK trụ cho nhánh trước TK nách, 
theo chúng tôi với kỹ thuật này nguồn cho là ổn định, số 
lượng axon đủ lớn và đặc biệt là đoạn TK ghép có mạch 
nuôi nên có ưu điểm hơn đoạn ghép kinh điển như đã 
phân tích ở trên, đây cũng là kỹ thuật mà chúng tôi chưa 
tìm thấy trong y văn.
V. KẾT LUẬN
Kết quả bước đầu của phẫu thuật chuyển thần kinh 
XI cho thần kinh trên vai và chuyển toàn bộ rễ C7 bên 
lành qua 2 đoạn ghép thần kinh trụ có mạch nuôi phục 
hồi TK cơ bì, thần kinh nách và TK giữa đạt vận động 
giạng vai ≥ 90º là 22/26 BN; gấp khuỷu, gấp cổ tay và 
các ngón tay mức ≥ M3 lần lượt là 24/26, 18/26 và 16/26 
BN; phục hồi cảm giác ở bàn tay mức ≥ S2 là 24/26 BN. 
Kỹ thuật có tính ưu việt là chuyển thần kinh XI trực 
tiếp cho thần kinh trên vai và chuyển rễ C7 bên lành với 
2 đoạn ghép TK trụ có nối mạch nuôi, qua đường hầm 
sau xương đòn và trước khí quản là phẫu thuật an toàn, 
nguồn cho ổn định, giảm đáng kể độ dài đoạn ghép, 
tránh được hiện tượng xơ hóa ở trung tâm của đoạn ghép 
và chuyển được tối đa các sợi TK của rễ C7 bên lành cho 
TK nhận bên liệt. 
Tài liệu tham khảo

File đính kèm:

  • pdfket_qua_buoc_dau_phau_thuat_phuc_hoi_giang_vai_gap_khuyu_van.pdf