Kết quả bước đầu điều trị ung thư phế quản - phổi nguyên phát không tế bào nhỏ giai đoạn I bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 14 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I được điều trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ từ tháng 10/2016 tới 03/2018 về các thông số trước, trong và sau mổ. Bao gồm 09 nam và 05 nữ. Tuổi trung bình 59,6 ± 4,5 (54 - 74). Phát hiện bệnh do khám sức khỏe định kỳ 5/14 trường hợp (35,7%). Triệu chứng chính khi vào viện là đau ngực là 07/ 09 trường hợp (77,8%). Triệu chứng ho máu là 02/ 09 trường hợp (22,2%). Kích thước khối u trung bình 2,4 x 2,9cm, trong đó kích thước nhỏ nhất 1,5x1,9cm; lớn nhất 2,7 x 3,5cm. Thời gian phẫu thuật 156,5 ± 16,4 phút (140-186). Thời gian rút dẫn lưu màng phổi trung bình 5,4 ± 0,6 ngày (4-9). Số ngày nằm viện trung bình 7,4 ± 0,8 ngày (5-18). Không có tử vong và biến chứng nặng sau mổ. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ: 03 ung thư biểu mô vảy và 11 ung thư biểu mô tuyến. Giai đoạn ung thư: 08 trường hợp giai đoạn IB và 06 trường hợp giai đoạn IA. Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ là một phương pháp có độ an toàn, có tính khả thi và kết quả tốt sau phẫu thuật

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả bước đầu điều trị ung thư phế quản - phổi nguyên phát không tế bào nhỏ giai đoạn I bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả bước đầu điều trị ung thư phế quản - phổi nguyên phát không tế bào nhỏ giai đoạn I bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Kết quả bước đầu điều trị ung thư phế quản - phổi nguyên phát không tế bào nhỏ giai đoạn I bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHẾ QUẢN – PHỔI NGUYÊN PHÁT KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I.... 
 25 
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHẾ QUẢN - PHỔI NGUYÊN PHÁT 
KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC 
MỘT LỖ TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Phạm Hữu Lư*, Nguyễn Việt Anh*, Bùi Văn Bình**, Đoàn Quốc Hưng*, Nguyễn Hữu Ước* 
TÓM TẮT 
Nghiên cứu mô tả tiến cứu 14 bệnh nhân 
ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I được 
điều trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ 
từ tháng 10/2016 tới 03/2018 về các thông số 
trước, trong và sau mổ. Bao gồm 09 nam và 05 
nữ. Tuổi trung bình 59,6 ± 4,5 (54 - 74). Phát 
hiện bệnh do khám sức khỏe định kỳ 5/14 trường 
hợp (35,7%). Triệu chứng chính khi vào viện là 
đau ngực là 07/ 09 trường hợp (77,8%). Triệu 
chứng ho máu là 02/ 09 trường hợp (22,2%). 
Kích thước khối u trung bình 2,4 x 2,9cm, trong 
đó kích thước nhỏ nhất 1,5x1,9cm; lớn nhất 2,7 x 
3,5cm. Thời gian phẫu thuật 156,5 ± 16,4 phút 
(140-186). Thời gian rút dẫn lưu màng phổi trung 
bình 5,4 ± 0,6 ngày (4-9). Số ngày nằm viện trung 
bình 7,4 ± 0,8 ngày (5-18). Không có tử vong và 
biến chứng nặng sau mổ. Kết quả giải phẫu bệnh 
sau mổ: 03 ung thư biểu mô vảy và 11 ung thư 
biểu mô tuyến. Giai đoạn ung thư: 08 trường hợp 
giai đoạn IB và 06 trường hợp giai đoạn IA. Điều 
trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I 
bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ là một 
phương pháp có độ an toàn, có tính khả thi và kết 
quả tốt sau phẫu thuật. 
Từ khóa: Ung thư phổi không tế bào nhỏ, 
phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ 
SUMMARY 
INITIAL RESULT OF UNIPORTAL 
THORACOSCOPIC SURGERY APPROACH 
TO NON-SMALL CELL LUNG CANCER 
STAGE I AT VIETNAM-GERMANY 
UNIVERSITY HOSPITAL 
A descriptive study of 14 patients with 
stage I non-small cell lung cancer was treated 
with a uniportal thoracoscopic surgery from 
10/2016 to 03/2018 for preoperative, 
postoperative and postoperative parameters. 09 
men and 05 women. Mean age was 59,6 ± 4,5 
(54-74). Detecting disease for periodic health 
examination 5/14 case (35,7%). The main 
symptom when hospitalized was chest pain: 07/ 
09 cases (77,8%). Cough symptoms are 02/ 09 
case (22,2%). The average tumor size is 2,4 x 2,9 
cm, in which the smallest size is 1,5x1,9cm; 
maximum 2,7 x 3,5cm. Mean operative time: 
156,5 ± minutes (140-186). The mean drainage 
was 5,4 ± 0,6 d (4-9). The average number of 
hospitalization days was ± 0,8 days (5-18). No 
mortality and major complications after operation. 
Pathological results: 03 squamous cell carcinomas 
and 11 adenocarcinomas. Stage cancer: 08 cases of 
IB stage and 06 cases of stage IA. First-stage non-
small cell lung cancer treatment with uniportal 
thoracoscopic surgery is a safe, feasible, and well- 
tolerated method of surgery. 
Keywords: non-small cell lung cancer, 
uniportal thoracoscopic surgery 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ* 
Ung thư phổi không tế bào nhỏ là bệnh lý 
hay gặp, chiếm tỷ lệ tử vong cao. Phẫu thuật nội 
soi cắt thùy phổi trong ung thư phổi giai đoạn 
chưa tiến triển (I, II) đã được chấp nhận khá rộng 
rãi. Qua thời gian đã có nhiều cải tiến trong kỹ 
thuật nội soi điều trị loại hình bệnh lý này. Phẫu 
*Khoa phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực – Bệnh viện Việt Đức 
** Bác sỹ nội trú Ngoại lồng ngực – Trường đại học y Hà Nội 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Ước 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: GS.TS. Bùi Đức Phú 
 PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 26 
thuật nội soi lồng ngực (PTNSLN) một lỗ trong 
cắt phổi được đề xuất từ năm 2004 bởi tác giả 
Rocco và cộng sự [1] và dần được chấp nhận 
rộng rãi trong thực hành ngoại khoa lồng ngực 
trên thế giới [6], [9], [10]. Ở Việt Nam tính cho 
tới thời điểm hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu 
đề cập tới phẫu thuật nội soi một lỗ trong điều trị 
ngoại khoa ung thư phổi không tế bào nhỏ. Tại 
khoa Phẫu thuật Tim mạch và lồng ngực - Bệnh 
viện hữu nghị Việt Đức, chúng tôi đã ứng dụng 
thành công phẫu thuật nội soi một lỗ để điều trị 
ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn đầu. 
Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả ban đầu của 
phẫu thuật này. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Đối tượng bao gồm tất cả các bệnh nhân 
ung thư phổi không tế bào nhỏ được phẫu thuật 
nội soi lồng ngực một lỗ cắt thùy phổi - nạo vét 
hạch trung thất tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức 
từ 10/ 2016 đến 03/ 2018. Phương pháp nghiên 
cứu mô tả cắt ngang, không đối chứng, theo dõi 
dọc. Các tham số nghiên cứu gồm: tuổi, giới, lý 
do vào viện, kích thước khối u, giai đoạn ung thư, 
thời gian mổ, thời gian rút dẫn lưu, biến chứng, 
kết quả điều trị ... Số liệu được nhập liệu và xử lý 
bằng phần mềm thống kê SPSS 18.0 
Lựa chọn đối tượng: 
Tất cả các trường hợp ung thư phổi không 
tế bào nhỏ giai đoạn I, có kết quả sinh thiết xuyên 
thành qua hướng dẫn của cắt lớp vi tính cho kết 
quả ung thư biểu mô không tế bào nhỏ và kết quả 
chụp PET/ CT chưa có di căn trung thất, phổi bên 
đối diện cũng như di căn xa. Bệnh nhân không có 
chống chỉ định của phẫu thuật nội soi lồng ngực. 
Qui trình phẫu thuật: 
 Gây mê bằng ống nội khí quản 2 nòng 
cô lập phổi bên thương tổn. 
 Tư thế bệnh nhân nằm nghiêng 900 sang 
bên đối diện. Người mổ đứng phía trước bệnh 
nhân. Sử dụng dụng cụ nội soi của hãng Karl-
Storz (Ông kính nội soi 300) và bộ dụng cụ phẫu 
thuật ít xâm lấn. 
Rạch da 3 - 5cm qua khoang liên sườn V 
ngang qua đường nách trước (như hình 1): Tách 
các lớp cơ thành ngực và cắt cơ liên sườn vào 
khoang màng phổi. Sử dụng banh mềm 
(Softtissue) bọc vết mổ của hãng Covidien. Dụng 
cụ phẫu thuật và ống kính nội soi cho đi qua trực 
tiếp một lỗ nhỏ trên thành ngực. 
Hình 1. Đường vào lồng ngực và bọc vết mổ 
- Phân tích các thành phần của động mạch, 
tĩnh mạch và phế quản thùy phổi bệnh lý và cắt 
các thành phần này bằng dụng cụ khâu cắt tự 
động (stapler) của hãng J&J hoặc Covidien. 
Thùy phổi bệnh lý được lấy ra khỏi lồng ngực 
bằng cách cho vào một túi nilon, rút qua lỗ nhỏ 
trên thành ngực. Bệnh phẩm được khâu đánh 
dấu và gửi xét nghiệm giải phẫu bệnh lý. 
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHẾ QUẢN – PHỔI NGUYÊN PHÁT KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I.... 
 27 
 Nạo vét hạch trong trung thất: 
+ Sử dụng dao siêu âm (Harmonic scapal) 
hoặc dao ligasure trong quá trình nạo vét các 
nhóm hạch bạch huyết trong trung thất. 
+ Bên phải nạo vét vùng rốn phổi (hạch số 
10, 11 và 12 - 14), dây chằng tam giác (hạch số 8, 
9), hạch ngã ba khí-phế quản (7), hạch cạnh khí 
quản (3,4). Bên trái nạo vét vùng rốn phổi (hạch 
số10, 11 và 12-14), dây chằng tam giác (hạch số 
8, 9), hạch ngã ba khí-phế quản (7), cửa sổ phế 
chủ (5, 6). Tất cả các hạch được nạo vét ra được 
làm giải phẫu bệnh chẩn đoán sau mổ. 
Hình 2. Vị trí phẫu thuật viên và người phụ mổ 
Cầm máu và kết thúc phẫu thuật. Đặt 02 
dẫn lưu màng phổi bằng ống silicon 18F dưới 
hướng dẫn của camera, làm nở phổi trước khi 
đóng vết mổ nhỏ. 
Chăm sóc và theo dõi sau phẫu thuật: 
Theo dõi các biến chứng sau phẫu thuật 
(chảy máu, tràn dịch màng phổi, rò khí, xẹp 
phổi), chụp x-quang kiểm tra và rút dẫn lưu, thu 
thập kết quả giải phẫu bệnh, giải thích cho bệnh 
nhân và gia đình phương theo dõi và điều trị tiếp. 
III. KẾT QUẢ 
Qua quá trình lựa chọn, điều trị và theo dõi bệnh nhân chúng tôi thu được một số kết quả như 
sau: Trong số 14 bệnh nhân nghiên cứu, có 09 nam và 05 nữ. Tuổi trung bình 59,6 ± 4,5 (54 - 74). 
Bảng 1: Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân khi vào viện 
Một số đặc điểm lâm sàng N % 
Không có biểu hiện lâm sàng (khám định kỳ) 05 35,7 
Có dấu hiệu trên 
lâm sàng 
(n = 09) 
Tức ngực hoặc đau ngực 07 77,8 
Ho hoặc ho + sốt 03 33,3 
Khác: mệt mỏi, ăn uống kém... 04 44,4 
(*): Trên cùng một bệnh nhân có thể có từ 02 triệu chứng trở lên. 
Nhận xét: Trong số các bệnh nhân có triệu chứng khi đến viện thì đau ngực là triệu chứng hay 
gặp chiếm 77,8%, nhưng có 35,7% phát hiện bệnh khi khám sức khỏe định kỳ. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 28 
Bảng 2: Các thông số khác liên quan đến chẩn đoán, phẫu thuật và hậu phẫu 
Thông số Kết quả 
Kích thước u đo trên phim cắt lớp vi tính ngực Nhỏ nhất 1,5x1,9cm 
(trung bình là: 2,4 x 2,9cm) Lớn nhất 2,7x3,5cm 
Thời gian mổ trung bình (phút) 156,5 ±16,4 phút(140-186) 
Thời gian rút dẫn lưu sau mổ trung bình (ngày) 5,4 ±0,6 ngày (4-9) 
Thời gian nằm viện sau mổ trung bình (ngày) 7,4 ±0,8 ngày (5-18) 
Nhận xét: Tất cả các trường hợp đều được căt toàn bộ khối u và đều được gây mê bằng ống nội 
khí quản hai nòng (Carlens) 
Bảng 3: Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ và giai đoạn bệnh 
Giải phẫu bệnh và giai đoạn bệnh N % 
Ung thư biểu mô tuyến 11 78,6 
Ung thư biểu mô vảy 03 21,4 
Giai đoạn IA 06 42,9 
Giai đoạn IB 08 57,1 
Trong nghiên cứu chưa gặp biến chứng 
nặng nào xảy ra sau mổ có liên quan tới kỹ thuật 
nội soi. Có 02 ca rò khí kéo dài (không cần mổ lại 
điều trị rò khí). Đánh giá mức độ hài lòng của 
bệnh nhân với kết quả mổ nội soi cho thấy: 04/ 14 
bệnh nhân (28,6%) hài lòng và 10/14 bệnh nhân 
(71,4%) rất hài lòng với phẫu thuật nội soi chủ 
yếu liên quan đến 2 ưu điểm là ít đau, phục hồi 
nhanh sau mổ và sẹo mổ thẩm mỹ. 
Kết quả khám lại sau mổ trung bình là: 8,6 
± 2,4 tháng (ngắn nhất là 1 tháng, dài nhất là 15 
tháng). Có 08 bệnh nhân giai đoạn IB được tiến 
hành hóa trị liệu sau mổ, còn các bệnh nhân khác 
theo dõi cho kết quả ban đầu tốt. 
IV. BÀN LUẬN 
Vấn đề lựa chọn bệnh nhân cho phẫu 
thuật nội soi lồng ngực một lỗ 
Chỉ định của PTNSLN một lỗ điều trị ung 
thư phổi không tế bào nhỏ dựa vào giai đoạn u và 
toàn trạng bệnh nhân [5], [9]. Hiện nay, PTNSLN 
một lỗ điều trị ung thư biểu mô tế bào không nhỏ 
giai đoạn I, II là kỹ thuật đã được chấp nhận cũng 
như thực hành khá rộng rãi trong phẫu thuật lồng 
ngực nhưng với khối u ở giai đoạn III thì còn 
nhiều bàn cãi. Mặt khác, kích thước khối u phổi 
và vị trí khối u phổi tại các thùy phổi cũng cần 
được quan tâm trong lựa chọn bệnh nhân trước 
mổ, những khối u phổi ở vị trí trung tâm thường 
phẫu thuật khó khăn hơn do vấn đề xâm lấn và 
dính trong quá trình phẫu tích dễ chảy máu [1], 
[6], [9]. Theo Chung và cs thì phẫu thuật nội soi 
một lỗ được tiến hành ngay cả ở những bệnh 
nhân ung thư phổi giai đoạn III [9] với tỷ lệ biến 
chứng 16,7%. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi: Khối u 
to nhất trong số bệnh nhân ung thư phổi trong 
lô nghiên cứu của chúng tôi có kích thước 2,7 x 
3,5cm, trước mổ. Tất cả các trường hợp bệnh 
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHẾ QUẢN – PHỔI NGUYÊN PHÁT KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I.... 
 29 
nhân trong lô nghiên cứu của chúng tôi được 
sinh thiết xuyên thành qua hướng dẫn của cắt 
lớp vi tính và chụp PET/ CT tầm soát tổn 
thương thứ phát. 
Vấn đề trang thiết bị, dụng cụ sử dụng trong phẫu thuật và kỹ thuật phẫu thuật nội soi một lỗ 
Hình 3: Một số dụng cụ sử dụng trong phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ 
Hình 4. Hình ảnh mô phỏng phẫu thuật nội soi 3 lỗ (A) và 1 lỗ (B) trong thực hành lâm sàng [11] 
Trong phẫu thuật nội soi một lỗ cần có một 
số dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng (như hình 3). 
Mặt khác, phẫu thuật nội soi ngực một lỗ có 
những thao tác kỹ thuật mà tầm thao tác hẹp hơn 
so với nội soi hai hoặc ba lỗ như mô tả tại hình 4 
[2], [3], [4]. Trong lô nghiên cứu của chúng tôi 
đều thực hiện lỗ 3 -5cm tại khoang liên sườn V 
lệch về đường nách trước. Điều này cũng được đa 
số các tác giả trên thế giới áp dụng, bên cạnh đó 
cũng có một số tác giả chủ trương cắt thùy trên 
thì đi khoang liên sườn IV, cắt thùy dưới thì vào 
khoang liên sườn V [12]. 
Kết quả bước đầu của PTNSLN một lỗ 
điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ 
Chúng tôi triển khai kỹ thuật này từ đầu 
năm 10/2016 trên 14 trường hợp ung thư giai 
đoạn I mổ thành công với thời gian mổ trung bình 
là 156,5 ± 16,4 phút (140-186), không có trường 
hợp tai biến trong mổ nào xảy ra và không có 
trường hợp nào phải chuyển mổ hai lỗ hoặc mở 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 30 
ngực nhỏ. Diến biến trong mổ tất cả các trường 
hợp tương đối thuận lợi không có trường hợp 
nào cần phải chuyển sang nội soi hai lỗ hoặc 
mở ngực nhỏ hỗ trợ. Theo Chung và cộng sự 
[10] thì tỷ lệ chuyển mổ hai lỗ, ba lỗ và mổ mở 
nhỏ là 35,5% do các nguyên nhân như dính 
nhiều khoang màng phổi, u và hạch xâm lấn 
động mạch phổi, xâm lấn rãnh liên thùy, chức 
năng phổi kém không đảm bảo, chảy máu trong 
mổ... Phân bố các dạng tổn thương giải phẫu 
bệnh và giai đoạn bệnh sau mổ như trình bày tại 
bảng 3 cho thấy có sự phù hợp với kết quả chẩn 
đoán trước mổ. Kết quả khám lại với thời gian 
khám lại trung bình là 8,6 ± 2,4 tháng (ngắn 
nhất là 1 tháng, dài nhất là 15 tháng) trong đó 
có 02 bệnh nhân ung thư giai đoạn IB được đi 
hóa trị liệu theo đúng phác đồ. Tất cả các bệnh 
nhân đều có sức khỏe sau mổ phục hồi tốt. Bên 
cạnh đó, chúng tôi có khảo sát về mức độ hài 
lòng của người bệnh theo cảm nhận từ chính 
người bệnh (về ít đau sau mổ, vết mổ không tê 
bì hoặc dị cảm sau mổ, sẹo mổ nhỏ và thẩm mỹ 
hơn) và gia đình cho thấy tỷ lệ hài lòng và rất 
hài lòng cao với phương pháp điều trị ngoại 
khoa này. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật nội soi lồng ngực một lỗ là một 
phương pháp khả thi, có giá trị góp phần điều trị 
bệnh lý u phổi không tế bào nhỏ giai đoạn đầu. 
Phục hồi nhanh sau mổ, thời gian nằm viện ngắn 
và sẹo mổ thẩm mỹ là các ưu điểm mang lại sự 
hài lòng cho người bệnh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Rocco G, Martucci N, La Manna C, 
Jones DR, De Luca G, La Rocca A et al (2013), 
Ten-year experience on 644 patients undergoing 
single-port (uniportal) video-assisted thoracoscopic 
surgery, Ann Thorac Surg 96:434-8. 
2. Diego Gonzalez-Rivas, Marina 
Paradela, Eva Fieira and Carlos Velasco 
(2012), “Single-incision video-assisted 
thoracoscopic lobectomy: Initial results”, J 
Thorac Cardiovasc Surg; 143: 745 – 747. 
3. Diego Gonzalez-Rivas, Eva Fieira, 
Maria Delgado1, Lucia Mendez, Ricardo 
Fernandez, Mercedes de la Torre (2013), 
“Uniportal video-assisted thoracoscopic 
lobectomy”, J Thorac Dis; 5(S3): S234 - S245. 
4. Luca Bertolaccini, Gaetano Rocco, 
Andrea Viti, Alberto Terzi (2013), 
“Geometrical characteristics of uniportal VATS”, 
J Thorac Dis; 5(S3): S214 - S216. 
5. Diego Gonzalez-Rivas, Eva Fieira, 
Maria Delgadol, Lucia Mendezl, Ricardo 
Fernandez, Mercedes de la Torre1 (2014), “Is 
uniportal thoracoscopic surgery a feasible 
approach for advanced stages of non-small cell 
lung cancer?”, J Thorac Dis; 6(6):641-648. 
6. Ricardo Fernández Prado, Eva Fieira 
Costa, María Delgado Roel, Lucía Méndez 
Fernández1, Marina Paradela de la Morena, 
Mercedes de la Torre, Diego Gonzalez- Rivas 
(2014), "Management of complications by 
uniportal video-assisted thoracoscopic surgery", J 
Thorac Dis; 6(S6): S669 - S673 
7. María Delgado Roel, Eva María Fieira 
Costa, Diego González-Rivas, Lucía Méndez 
Fernández, Ricardo Fernández Prado, 
Mercedes de la Torre (2014), “Uniportal video-
assisted thoracoscopic lymph node dissection”, J 
Thorac Dis; 6(S6): S665 - S668 
8. Calvin S.H. Ng, Gaetano Rocco, 
Randolph H.L. Wonga, Rainbow W.H. Lau, 
Simon C.H. Yuc and Anthony P.C. Yim (2014), 
“Uniportal and single-incision video-assisted 
thoracic surgery: the state of the art”, Interactive 
Cardiovascular and Thoracic Surgery; 19:661 - 666 
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHẾ QUẢN – PHỔI NGUYÊN PHÁT KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN I.... 
 31 
9. Jae Ho Chung, Yong Soo Choi, Jong 
Ho Cho, Hong Kwan Kim, Jhingook Kim, Jae 
Ill Zo, Young Mog Shim (2015), “Uniportal 
video-assisted thoracoscopic lobectomy: an 
alternative to conventional thoracoscopic 
lobectomy in lung cancer surgery?”. Interact 
CardioVasc Thorac Surg 20 (6): 813 - 819 
10. Alan D. L. Sihoe (2014), “The 
evolution of minimally invasive thoracic surgery: 
implications for the practice of uniportal 
thoracoscopic surgery”, J Thorac Dis; 6(S6): 
S604 - S617 
11. Diego Gonzalez-Rivas, Lucia Mendez, 
Maria Delgado1, Eva Fieira, Ricardo Fernandez, 
Mercedes de la Torre (2013), “Uniportal video-
assisted thoracoscopic anatomic segmentectomy”, J 
Thorac Dis; 5(S3): S226 - S233 
12. Dan Chen, Ming Du, Tao Yang 
(2016), “Uniportal video-assisted thoracoscopic 
lobectomy for lung cancer”, J Thorac Dis; 8(7) : 
1830 - 1833 
13. Antonio E. Martin-Ucar, Maria 
Delgado Roel (2013), “Indication for VATS 
sublobar resections in early lung cancer”, J 
Thorac Dis; 5(S3): S194 - S199. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_buoc_dau_dieu_tri_ung_thu_phe_quan_phoi_nguyen_phat.pdf