Kết quả ban đầu phẫu thuật CABG tại khoa PTT-BVND115

Bệnh động mạch vành là loại bệnh phổ biến thứ

ba sau bệnh van tim và bệnh tim bẩm sinh tại khoa

PTT-BVND115. Phẫu thuật CABG đã được thực hiện

tại khoa PTT rải rác từ năm 2007 và thực hiện tương

đối thường qui từ cuối năm 2010 đến nay. Từ đó đến

nay Khoa đã thực hiện được hơn 100 ca CABG. Phẫu

thuật bắc cầu nối chủ-vành là một phương thức điều trị

triệt để được chọn lựa cho bệnh hẹp mạch vành nhằm

làm giảm tần suất đau thắt ngực, cải thiện chức năng co

bóp cơ tim, cũng như nhồi máu cơ tim hay đột tử.

Chúng tôi làm nghiên cứu này để đánh giá kết quả ban

đầu của phẫu thuật CABG tại khoa PTT-BVND115

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả ban đầu phẫu thuật CABG tại khoa PTT-BVND115", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả ban đầu phẫu thuật CABG tại khoa PTT-BVND115

Kết quả ban đầu phẫu thuật CABG tại khoa PTT-BVND115
KẾT QUẢ BAN ĐẦU PHẪU THUẬT CABG TẠI KHOA PTT-BVND115 
 15
KẾT QUẢ BAN ĐẦU PHẪU THUẬT CABG TẠI KHOA PTT-BVND115 
Hoàng Hiệp*, Lê Hữu Dụng*, Huỳnh Văn Cường*, 
Đỗ Việt Thắng* Nguyễn Thanh Hiền**, Phạm Thọ Tuấn Anh*** 
 Nguyễn Thái An***.Nguyễn Hoài Nam **** 
TÓM TẮT 
Bệnh động mạch vành là loại bệnh phổ biến thứ 
ba sau bệnh van tim và bệnh tim bẩm sinh tại khoa 
PTT-BVND115. Phẫu thuật CABG đã được thực hiện 
tại khoa PTT rải rác từ năm 2007 và thực hiện tương 
đối thường qui từ cuối năm 2010 đến nay. Từ đó đến 
nay Khoa đã thực hiện được hơn 100 ca CABG. Phẫu 
thuật bắc cầu nối chủ-vành là một phương thức điều trị 
triệt để được chọn lựa cho bệnh hẹp mạch vành nhằm 
làm giảm tần suất đau thắt ngực, cải thiện chức năng co 
bóp cơ tim, cũng như nhồi máu cơ tim hay đột tử. 
Chúng tôi làm nghiên cứu này để đánh giá kết quả ban 
đầu của phẫu thuật CABG tại khoa PTT-BVND115. 
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 
Đánh giá kết quả trước mắt của phẫu thuật CABG 
tại khoa PTT-BVND115. 
BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU 
Tiền cứu kết hợp hồi cứu mô tả, không đối chứng 
nghiên cứu 110 trường hợp được làm phẫu thuật 
CABG tại Khoa PTT-BVND115 từ năm tháng 04- 
2007 đến hết tháng 08-2013. 
KẾT QUẢ: Nam giới chiếm 82 (74,5%), tuổi trung 
bình là 65.7 ± 6,0 năm (từ 36 đến 79 tuổi). Tiền sử có 
nhồi máu cơ tim 71 (64,54%); cao huyết áp mạn 100 
(90.91%); tiểu đường 56 (50,91%); Rối loạn chuyển 
hóa lipid: 64(58.18%); hút thuốc lá 60 (54,54%). 
Nong can thiệp mạch vành trước mổ: 4 (03,63%). Đau 
ngực không ổn định trước mổ chiếm 87(79,09%). Tổn 
thương mạch vành dạng một nhánh: 0,91%; hai nhánh: 
12(10.91%) và ba nhánh chính: 93(84,54%). Tổn 
thương thân chung chiếm 68(61.81%) trường hợp. Số 
cầu nối TB cho mỗi BN là 3,09. Tử vong phẫu thuật toàn 
bộ: 4 (3.6%). Biến chứng hậu phẫu chủ yếu là suy tim 
nặng: 02; suy thận: 4; Viêm phổi: 11, và chảy máu sau 
mổ: 03 trường hợp. Thời gian thở máy TB: 22,79 ± 3.5 
giờ và thời gian nằm hồi sức TB: 3,23 ± 2.1 ngày. Thời 
gian nằm viện sau mổ TB là 11,22 ± 2,4 ngày. Đại đa 
số BN cải thiện lâm sàng sau mổ. 
KẾT LUẬN: Phẫu thuật bắc cầu chủ-vành cho kết 
quả ban đầu tốt. 
Từ khoá: phẫu thuật bắc cầu chủ - vành 
ABSTRACT 
EARLY RESULTS OF CABG AT THE 
CARDIAC SURGERY DEPARTMENT, PEOPLE 
HOSPITAL 115 
Background: CABG is a radical method for 
treatment of coronary artery stenosis in order to reduce 
angina pectoris, myocardial infarction and sudden death. 
Objectives: To observe the early results of CABG 
performed at the Cardiac Surgery Department, People 
Hospital 115.ients and Methods: a perspective 
combined with retrospective in 110 consecutive 
patients who were operated at the Cardiac Surgery 
Department, People Hospital 115, from April 2007 to 
August 2013. * 
Results: Male patients was 82 (74,5%), the median 
age was 65,7 ± 6,0 ys (range from 36 to 79 year-old). 
Previous myocardial infarction: 71 (64,54%); 
chronic hypertension: 100 (90.91%); diabete 
melitus: 56 (50,91%); Dyslipidemia: 64 (58.18%); 
Tabagism: 60 (54,54%); Previous PCI: 
4(03,63%). Coronary artery lesions were as follow: 
one vessel: 0,91%; two- vessels: 12(10.91%) and 
three vessels: 93(84,54%). Left main disease was 
68(61.81%). The mean number of graft per patients: 
3,09. Total mortality rate was: 4 (3,63%). Major 
post-op complications are: irreversible cardiac 
failure: 02; renal failure: 04; respiratory infection in 
11; hemorrhage: 03. Average time of artificial 
ventilation: 22,79 ± 3.5 hours and average time of 
ICU stay: 3,23 ± 2.1 days. The average time of 
hospital stay were 11,22 ± 2,4 days. 
Conclusion:. Early results of isolated CABG were 
very good. 
Keyword: Coronary artery bypass graft (CABG) 
*: Khoa Phẫu Thuật Tim, BVND 115. 
**: Trưởng khối Tim Mạch, BVND 115. 
***: Khoa Phẫu Thuật Tim, BV Chợ Rẫy 
****: Đại học Y dược TP HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Phạm Thọ Tuấn Anh 
Ngày nhận bài: 15/11/2013 - Ngày Cho Phép Đăng: 07/02/2014 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 16
1. Đặt vấn đề 
Bệnh thiếu máu cơ tim là nguyên nhân tử vong 
hàng đầu của các nước phát triển. Hàng năm ở Mỹ 
ước tính có trên 700.000 bệnh nhân phải nhập viện 
do thiếu máu cơ tim và trong số này khoảng 300.000 
người phải mổ bắc cầu chủ vành (CABG). Ở Việt 
Nam thời gian gần đây bệnh lý này có xu hướng gia 
tăng rõ rệt. Bắc cầu chủ vành là tiêu chuẩn vàng 
trong phẫu thuật tái tạo tuần hoàn vành. Ở Việt Nam 
phẫu thuật điều trị bệnh thiếu máu cơ tim được áp 
dụng lần đầu tiên vào năm 1997 tại bệnh viện Việt 
Đức. Tại Bệnh Viện Nhân Dân 115 vào năm 2007 
với sự trợ giúp của các giáo sư từ CHU Liege, Bỉ. 
Sau đó phẫu thuật này được thực hiện thường xuyên 
nhờ sự hỗ trợ chuyên môn của Khoa Phẫu Thuật 
Tim, Bệnh Viện Chợ Rẫy. Đến năm 2012 ca bắc cầu 
chủ vành không sử dụng máu tim phổi nhân tạo đã 
được thực hiện. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết 
quả sớm của phương pháp phẫu thuật bắc cầu động 
mạch vành. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu. 
2.1. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thử 
nghiệm lâm sàng, tiền cứu kết hợp hồi cứu. Các số 
liệu thu thập bao gồm đặc điểm lâm sàng, các yếu tố 
nguy cơ đi kèm, các số liệu liên quan đến phẫu thuật, 
tỷ lệ tai biến và tử vong sau mổ được phân tích bằng 
phần mềm SPSS. 
Bệnh nhân được tái khám định kỳ hàng tháng sau mổ 
hoặc khi có diễn biến bất thường, được ghi nhận triệu 
chứng cơ năng, siêu âm tim, các thuốc đang sử dụng. 
2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh: tháng tư năm 2007 đến 
hết tháng tám năm 2013 các bệnh nhân mạch vành có 
chỉ định phẫu thuật bắc cầu mạch vành tại Khoa Phẫu 
thuật Tim mạch BV Nhân Dân 115 được chọn vào 
nhóm nghiên cứu nếu có các điều kiện sau: 
Ó Không phân biệt tuổi giới 
Ó Hẹp thân chung ĐM vành trái. 
Ó Hẹp ĐMV nhiều thân 
Ó Hẹp lỗ ĐMV. 
Ó Đau ngực không đáp ứng với điều trị nội khoa 
Ó Thương tổn động mạch vành không cho phép 
nong hoặc nong thất bại. 
2.3. Tiêu chuẩn loại trừ: Tất cả các bệnh nhân 
không đủ các tiêu chuẩn mô tả ở trên. 
- Tất cả các bệnh nhân mới bị xuất huyết tiêu hóa 
hoặc bị tai biến mạch não trong vòng 01 tháng. 
- Tất cả các bệnh nhân sốt, nhiễm trùng. 
- Tất cả các bệnh nhân đang bị nhồi máu cơ tim 
cấp, sốc, biến chứng nhồi máu cơ học như thủng vách 
tim, đứt dây chằng van hai lá. 
2.4. Mô tả kỹ thuật 
- Chỉ định đặt bóng đối xung động mạch chủ: 
Trước mổ: 
Hẹp thân chung # 90% 
Đau ngực tiến triển không đáp ứng điều trị nội 
khoa Dọa OAP, OAP 
Suy tim, EF < 30% 
Sau mổ: Stunning, Hội chứng cung lượng tim thấp 
Lựa chọn vị trí làm cầu nối: số lượng cầu nối tùy 
theo thương tổn hẹp của động mạch vành trên nguyên 
tắc đảm bảo tối đa tái tưới máu sau mổ. Trong trường 
hợp các động mạch vành cần làm cầu nối có kích thước 
bằng nhau chúng tôi ưu tiên đoạn ghép động mạch cho 
động mạch liên thất trước. Vị trí làm miệng nối sẽ được 
chọn mở động mạch vành tại vị trí ít xơ vữa nhất sau chỗ 
hẹp tránh biến chứng vỡ mảng vữa xơ. Miệng nối liên 
tiếp (Sequential): trong trường hợp cần làm nhiều miệng 
nối đối với các miệng nối gần nhau chúng tôi sử dụng kỹ 
thuật làm miệng nối liên tiếp. Ưu điểm làm giảm số 
lượng cầu nối, một cầu nối cấp máu cho 2 hay nhiều 
nhánh mạch nên sức cản trong cầu nối giảm, tốc độ máu 
trong cầu nối tăng giảm nguy cơ tắc. [5] 
Gây mê nội khí quản, các thông số huyết động (áp 
lực động mạch, áp lực tĩnh mạch trung tâm), độ bão 
hòa oxy động mạch được theo dõi liên tục trong mổ. 
Hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể Terumo 
Mở ngực đường dọc xương ức. 
Đánh giá tình trạng co bóp cơ tim. Tình trạng 
mạch vành, tình trạng vôi hóa động mạch chủ. 
- Chuẩn bị vật liệu làm cầu nối: phẫu tích tĩnh 
mạch hiển, động mạch ngực trong trái, động mạch 
ngực trong phải. 
- Héparine toàn thân 3mg/kg. 
- Đặt canlue: động mạch chủ lên, nhĩ phải. 
- Chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể. 
- Cặp động mạch chủ, làm ngừng tim bằng dung 
dịch liệt tim máu (Blood cardioplegie) truyền qua gốc 
động mạch chủ. Sau khi tim ngừng thì truyền nhắc lại 
20 phút/lần. 
- Xác định vị trí tổn thương, mở mạch vành dưới 
chỗ tắc, thăm dò và làm miệng nối xa. Để đảm bảo tính 
mềm mại của miệng nối cũng như tính chính xác của 
KẾT QUẢ BAN ĐẦU PHẪU THUẬT CABG TẠI KHOA PTT-BVND115 
 17
việc khâu nối chúng tôi sử dụng chỉ prolene 8.0 sử dụng 
kính phóng đại 2.5-3.5 lần. Sau khi tất cả các miệng nối 
giữa động mạch vành và đoạn ghép đã hoàn thành tiến 
hành bỏ cặp động mạch chủ làm cho tim đập lại. 
- Với miệng nối gần phía động mạch chủ để 
giảm bớt thời gian thiếu máu cơ tim do cặp động 
mạch chủ chúng tôi áp dụng kỹ thuật cặp bên động 
mạch chủ miệng nối làm với chỉ prolene 6.0 
- Ngừng máy, rút các ống canules, trung hòa 
héparine bằng dung dịch protamine sulfate. 
- Đặt điện cực, ống dẫn lưu, đóng ngực. 
Hình 1. Bắc cầu DMV dùng 02 DM ngực trong. 
2.5. Theo dõi sau mổ 
Theo dõi các biến chứng sau mổ: chảy máu, 
nhiễm trùng, suy tim, suy thận, tắc cầu nối sớm. 
Các bệnh nhân được tái khám định kỳ mỗi tháng 
sau mổ trong ba tháng đầu, sau đó mỗi hai tháng trong 
năm đầu. Các yếu tố ghi nhận khi tái khám: tử vong, 
triệu chứng lâm sàng, điều trị nội khoa, các lần nhập 
viện cấp cứu và các biến chứng có liên quan đến cuộc 
mổ. Bệnh nhân được khuyến khích chụp mạch vành 
hoặc chụp MS-CT 64 để kiểm tra hệ thống cầu nối 
trong khoảng thời gian 3 đến 6 tháng sau mổ. 
3. Kết quả: 
Từ tháng 4 năm 2007 đến tháng 8 năm 2013 tại 
Bệnh viện Nhân Dân 115, 110 trường hợp được phẫu 
thuật bắc cầu chủ-vành có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ 
thể. Chúng tôi sử dụng 01 động mạch ngực trong kết 
hợp với tĩnh mạch hiển: 93 trường hợp chiếm 84,54%; 
02 động mạch ngực trong kết hợp với tĩnh mạch hiển: 
16 trường hợp chiếm 14,54%; tất cả các cầu nối bằng 
tĩnh mạch hiển: 01 trường hợp chiếm 0,9%. 
Bảng1. Đặc điểm bệnh nhân trước mổ 
Tổng số 110 
Tuổi trung bình 65.7 ± 6 
Nam 74,5% 
Tiểu đường 56(50,91)% 
Cao huyết áp 100(90.91%) 
Hút thuốc lá 60(54,54%) 
Rối loạn chuyển hóa lipid 64(58.18%) 
Tiền sử nhồi máu cơ tim 71 (64,54%) 
Tiền sử can thiệp mạch vành qua da 4(03,63%) 
Tiền sử tai biến mạch máu não 06 
Suy thận mãn 02 
EuroSCORE 08 
Hẹp thân chung 68(61.81%) 
Hẹp ĐM liên thất trước 101(91,81%) 
Tổn thương một nhánh 01(0,91%) 
Tổn thương hai nhánh 12(10.91%) 
Tổn thương ba nhánh 93(84,54%) 
EF trung bình 50.8% 
Rối loạn vận động vùng 90% 
Đau thắt ngực ổn định 20.3% 
Đau thắt ngực không ổn định 79.7% 
Dùng aspirin trước mổ 33(30%) 
EuroSCORE: European System for Cardiac Operative 
Risk Evaluation 
Bảng 2. Bóng đối xung động mạch chủ (IABP) 
Trước mổ 40 (36,36%) 
Trong và sau mổ 03 (2,72%) 
Bảng 3. Số liệu trong mổ (1) Có THNCT 
Thời gian mổ 360 ± 42 ph 
Thời gian chạy THNCT 101 ± 9 ph 
Thời gian kẹp ĐMC 69 ± 10 ph 
Máu mất trong mổ 520 ± 240 ml 
l 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 18
Bảng 4. Số liệu trong mổ (2) TM hiển ĐMNT Trái ĐMNT phải 
ĐM liên thất trước 00 93 16 
ĐM mũ 121 16 00 
ĐM vành phải 94 01 00 
Trung bình mỗi bệnh nhân được ghép 3,09 cầu nối. 
Bảng 5. Số liệu trong hồi sức 
Thời gian thở máy (giờ) 22,79 ± 3,5 
Thời gian nằm tại hồi sức (ngày) 3,23± 2,1 
Bảng 6. Tỉ lệ tử vong và biến chứng 
Tỷ lệ tử vong 3,63 (04) 
Mổ lại 03 
Biến chứng sớm 
 Chảy máu sau mổ 03 
 Nhiễm trùng da 01 
 Nhiễm trùng xương ức 01 
 Suy tim nặng không hồi phục 02 
 Suy thận sau mổ 04 
 Suy đa tạng 02 
 Rung nhĩ 03 
 Tràn máu MP 02 
 Viêm phổi 11 
Bảng 7. Tổn thương thần kinh sau mổ Số lượng 
Type I 00 
Type II 11 (10%) 
Bảng 8. Siêu âm tim sau mổ Trước mổ Sau mổ p 
Rối loạn vận động vùng (90%) 89 (81%) 0,034 
EF (trung bình) 50,8% 62,5% ± 3,4% 0,025 
Bảng 9. Thời gian nằm viện sau mổ Trung bình (ngày) 
Thời gian nằm viện sau mổ 11,22 ± 2,4 
Bảng 10. CCS trước mổ và sau mổ 02 tuần Trước mổ Sau mổ P < 0,05 
CCS I 0 21 
CCS II 19 84 
CCS III 66 1 
CCS IV 25 0 
Bảng 11. NYHA trước mổ và sau mổ 02 tuần Trước mổ Sau mổ p < 0,05 
NYHA I 0 0 
NYHA II 45 80 
NYHA III 61 26 
NYHA IV 4 0 
KẾT QUẢ BAN ĐẦU PHẪU THUẬT CABG TẠI KHOA PTT-BVND115 
 19
4. Bàn luận: 
Kỹ thuật mổ bắc cầu mạch vành có rất nhiều thay 
đổi kể từ các trường hợp phẫu thuật bắc cầu đầu tiên 
trên thế giới cách nay trên 40 năm. Các cải tiến kỹ 
thuật đều nhằm đến mục đích cuối cùng và quan trọng 
nhất là giúp kéo dài càng lâu càng tốt thời gian sống 
không có triệu chứng, không có các biến cố về mạch 
vành và không cần phải can thiệp mạch vành lại. Việc 
sử dụng cầu nối từ động mạch ngực trong trái vào 
nhánh xuống trước trái, và sau đó là các cố gắng sử 
dụng thêm các loại cầu nối động mạch khác để làm 
giảm thiểu số lượng cầu nối bằng tĩnh mạch hiển đã 
làm cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống còn của bệnh nhân bắc 
cầu mạch vành [7,8,9,10,11]. 
Tuy nhiên việc chỉ sử dụng động mạch ngực trong 
làm tất cả các cầu nối để tái tưới máu toàn bộ cho 
bệnh nhân hẹp nhiều nhánh mạch vành gặp một số trở 
ngại về mặt lý luận (vấn đề lưu lượng của cầu nối, vấn 
đề tăng tỷ lệ nhiễm trùng xương ức) về mặt kỹ thuật 
(chiều dài giới hạn của hai động mạch ngực trong 
không đủ để có thể làm tất cả các cầu nối). Tất cả các 
bệnh nhân được phẫu thuật với THNCT trong nghiên 
cứu của chúng tôi đều được phẫu thuật trong điều kiện 
hạ nhiệt độ trong mổ. Sử dụng dung dịch làm liệt tim 
(cardioplegie) máu, đặc biệt trong những trường hợp 
thời gian mổ kéo dài cần nhiều lần truyền dịch làm liệt 
tim và các rối loạn chuyển hóa góp phần hạn chế các 
biến chứng sau mổ do hậu quả của THNCT như phù 
phổi, rối loạn đông máu, loạn nhịp[6], [12], [13]. 
Qua 110 trường hợp, chúng tôi có một số nhận 
xét ban đầu như sau: 
4.1. Về đặc điểm của các bệnh nhân trong nhóm 
nghiên cứu 
Đa số (90.91%) các bệnh nhân có tiền sử cao 
huyết áp, thời gian trung bình từ khi phát hiện bệnh là 
4 năm, trong phẫu thuật tình trạng cao huyết áp là một 
khó khăn không chỉ cho gây mê hồi sức mà cho cả 
phẫu thuật vì là nguy cơ của chảy máu sau mổ và tai 
biến chảy máu não. Chính vì vậy bệnh nhân của 
chúng tôi không nếu không có chống chỉ định thì đều 
được sử dụng thuốc betaloc liều 50mg hoặc 
Bisoprolol 2,5mg một cách có hệ thống trước mổ [19]. 
50,51% bệnh nhân có đái tháo đường trong nghiên 
cứu của chúng tôi. Bên cạnh những khó khăn do 
thương tổn mạch máu phức tạp gây ra thì đái tháo 
đường còn làm cho tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ đặc biệt 
là nhiễm trùng xương ức tăng lên và góp phần tăng tỷ 
lệ tử vong [14], [15]. Tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ của 
chúng tôi là 05 ca chiếm 4,5%. Chưa có ca nào nhiễm 
trùng xương ức. 
Điểm EuroSCORE trung bình là 9. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi các bệnh nhân tổn 
thương một động mạch vành chính 01 trường hợp 
chiếm 0,91%, có tổn thương hai động mạch 12 trường 
hợp chiếm (10.91%). Tổn thương cả 3 nhánh động 
mạch vành: 93 trường hợp (84,54%), tổn thương 
thân chung: 68 trường hợp chiếm (61.81%). 
4.2. Về tỷ lệ tai biến và tử vong 
Có 4 trường hợp tử vong trong nhóm nghiên cứu. 
Trong đó có 2 bệnh nhân có biến chứng viêm phổi 
nặng làm suy tim nặng thêm, 2 bệnh nhân có biến 
chứng suy tim sau đó suy đa tạng. 
Biến chứng phổi sau phẫu thuật với THNCT đã 
được nhiều tác giả nghiên cứu và nhận thấy chính sự 
hòa loãng máu, thay đổi sức cản trong lòng mạch và 
đặc biệt là sức cản phổi cũng như các quá trình viêm 
xảy ra trong suốt thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể đã 
gây ra các tổn thương phổi sau mổ. Thương tổn trở 
nên nặng hơn nhiều ở những bệnh nhân có bệnh phổi 
mạn tính trước đó. Bệnh án: bệnh nhân nam 71 tuổi 
phẫu thuật bắc cầu chủ vành (3 cầu), các xét nghiệm 
và chức năng tim bình thường không có bệnh phổi 
mạn tính. Phẫu thuật có sử dụng THNCT với thời gian 
101 phút, thời gian cặp ĐMC 71 phút, không có dấu 
hiệu thiếu máu cơ tim sau mổ, TroponinI 02ng/ml. 
Bệnh nhân có các biểu hiện của tổn thương phổi lan 
tỏa 2 bên (phổi sau chạy máy), mặc dù đã được hôi 
sức hô hấp tích cực: thở máy với PEEP cao, FiO2 cao, 
lợi tiểu tuy nhiên tình trạng suy hô hấp không cải 
thiện. Bệnh nhân rơi vào tình trạng toan chuyển hóa 
nặng và tử vong sau 48 giờ điều trị. 
Trong phẫu thuật bắc cầu mạch vành có sử dụng 
THNCT, việc cặp động mạch chủ dẫn đến thiếu máu 
cơ tim trong suốt quá trình mổ. Mặc dù có nhiều công 
thức dịch cardioplegie được sử dụng, nhưng cũng chỉ 
làm giảm nguy cơ thiếu máu [18]. Thời gian cặp 
ĐMC càng dài thiếu máu càng nặng. Tùy mức độ 
thiếu máu mà biểu hiện trên lâm sàng bằng các mức 
độ suy tim như: cung lượng tim thấp sau mổ, các rối 
loạn nhịp sau mổ. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 
2 bệnh nhân suy tim sau mổ. 
Có 03 trường hợp chảy máu sau mổ đều phải mổ 
lại trong đó 02 trường hợp chảy máu giường đm ngực 
trong, 01 trường hợp kiểm tra không rõ điểm chảy 
máu. Theo tổng kết của các tác giả nước ngoài thì tỷ 
lệ chảy máu là 3,6% [16]. Bản thân phẫu thuật với 
THNCT đã tiềm ẩn nguy cơ chảy máu cao hơn các 
phẫu thuật tim không sử dụng THNCT. Việc sử dụng 
Heparine liều cao trong mổ, các rối loạn về yếu tố 
đông máu đặc biệt là mất số lượng cũng như chất 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 6 - THÁNG 2/2014 
 20
lượng tiểu cầu là nguyên nhân quan trọng gây ra chảy 
máu [17]. 
01 bệnh nhân ĐTĐ type II có nhiễm trùng viêm 
xương ức sau mổ. Bn được phẫu thuật làm sạch và 
khâu lại xương ức. Kết quả tốt. 
EF trung bình 62,5% tăng so với trước mổ 50,8% 
sự tăng này có ý nghĩa (p < 0,05). Tuy nhiên chúng 
tôi nhận thấy sự tăng này tập trung chủ yếu ở nhóm 
bệnh nhân có EF < 50%. Đối với nhóm bệnh nhân EF 
trước mổ còn trong giới hạn bình thường thì sự thay 
đổi không nhiều. Trong nghiên cứu của chúng tôi 
RLVĐV chiếm tỷ lệ 90%. Sau mổ tỷ lệ RLVĐV đạt 
81%, sự thay đổi này có ý nghĩa với p < 0,05. 
5. Kết luận 
Phẫu thuật tái tưới máu toàn bộ cho bệnh nhân hẹp 
nhiều nhánh mạch vành cho kết quả tốt, chức năng EF 
tăng rõ rệt sau mổ song song với giảm RLVĐ là bằng 
chứng hiệu quả của phẫu thuật. Cần tiếp tục theo dõi 
lâu dài với số lượng bệnh nhân lớn để chứng minh ưu 
điểm dài hạn của phương pháp: cải thiện tỷ lệ sống 
còn của bệnh nhân mổ bắc cầu mạch vành. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Hoàng Văn Cúc (1991), “Động mạch vành phải ở 
người Việt nam”, Hình thái học, 1(2), 11-13. 
2. Trịnh Bỉnh Dy (2001), “ Sinh lý tuần hoàn”, sinh lý 
học, NXB y học, tập I: 176-272. 
3. Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt (1997), “ Nhồi máu 
cơ tim”, Bài giảng bệnh học nội khoa, tập 2, Nhà xuất 
bản Y học, tr.82-94 
4. Dương Đức Hùng (2008), “Nghiên cứu kết quả phẫu 
thuật bắc cầu chủ vành trong điều trị bệnh thiếu máu cơ 
tim cục bộ”, luân văn tiến sỹ y học, Đại học y Hà nội. 
5. Silvan Marasco anh Donald Esmore (2002), A novel 
Method For Performing Sequential Grafts With the 
Radial Artery, Ann Thorac Surg;74:1262-3. 
6. Matata B.M., Sosnowski A.W., (2000), Off-pump 
bypass graft operation significantly reduces oxidative 
stress and inflammation, Ann Thorac Surg; 69:785-791. 
7. L. M. Stevens, M. Carrier, L. P. Perrault, Y. He´ bert, 
R. Cartier, D. Bouchard, A. Fortier, I. El-Hamamsy, M. 
Pellerin. Single versus Bilateral Internal Thoracic 
Artery Grafts with Concomitant Saphenous Vein Grafts 
for Multivessel Coronary Artery Bypass Grafting: 
Effects on Mortality and Event-Free Survival. J Thorac 
Cardiovasc Surg 2004;127: 1408-15. 
8. Oren Lev-Ran, MD, Rony Braunstein, PhD, Nahum 
Nesher, MD, Yanai Ben-Gal, MD, Gil Bolotin, MD, 
and Gideon Uretzky, MD. Bilateral Versus Single 
Internal Thoracic Artery Gafting in Oral-Treated 
Diabetic Subsets - Comparative Seven-Year Outcome 
Analysis. Ann Thorac Surg 2004;77:2039–45 
9. Ioannis K. Toumpoulis, MD, Constantine E. 
Anagnostopoulos, MD, Sandhya alaram, MD, Daniel 
G. Swistel, MD, Robert C. Ashton, Jr, MD, and Joseph 
J. DeRose, Jr, MD. Does Bilateral Internal Thoracic 
Artery Grafting Increase Long-Term Survival of 
Diabetic Patients ? Ann Thorac Surg 2006;81:599–607 
10. Bruce W. Lytle, MD, Eugene H. Blackstone, MD, 
Joseph F. Sabik, MD, Penny Houghtaling, MS, Floyd 
D. Loop, MD, and Delos M. Cosgrove, MD. The Effect 
of Bilateral Internal Thoracic Artery Grafting on 
Survival During 20 Postoperative Year. Ann Thorac 
Surg 2004;78:2005–14 
11. Jacob Zeitani, MD, Alfonso Penta de Peppo, MD, 
Ruggero De Paulis, MD, Paolo Nardi, MD, Antonio 
Scafuri, MD, Saverio Nardella, MD, and Luigi 
Chiariello, MD. Benefit of Partial Right-Bilateral 
Internal Thoracic Artery Harvesting in Patients at Risk 
of Sternal Wound Complications. Ann Thorac Surg 
2006;81:139–44 
12. Roosens C, Heerman J, De Somer F (2002), Effects of 
off-pump coronary surgery on the mechanics of the 
respiratory system, lung and chest wall: Comparison 
with extracorporeal circulation. Cirt Care Med; 30(11): 
2430-37. 
13. Breu J.E, Reilly J, Salzano R.P (1999), Comparison of 
frequencies of atrial fibrillation after coronary artery 
bypass grafting with and without the use of 
cardiopulmonary bypass. Am J Cardiol; 83:775-776. 
14. Abbott. ME (1908), “Congenital cardiac disease. In: 
Osler’s Modern Medicine”, Lea and Febiger, 
Philadenlphia, 402-422. 
15. Abboud S. B, Baltar VT (2004), “Risk factors for 
mediastinitis after cardiac surgery”, 
Ann.Thorac.Surg,77(2):676-683. 
16. Craig M, Raimondo Ascione (2000), Effect of 
cardiopulmonary bypass on pulmonary gas exchange: a 
prospective randomized study, 
Ann.Thorac.Surg.Jan;69:140-145. 
17. Yende and Wunderink (2002), Cause of prolonged 
Mechanical Ventilation after Coronary bypass, Surgery 
Chest, July 1,122(1):245-252. 
18. Thanos Athanasiou, Sharif Al (2003), Is the female 
gender an independent predictor of adverse outcome 
after off – pump coronary artery bypass grating?, 
Ann.Thorac.Surg., Apr,75:1153-1160. 
19. Vinten J, Julian J (1991), Efficacy of myocardial 
protection with hypothermic blood cardioplegia 
depends on oxygen, Ann.Thorac.Surg, Jul;52:939-948. 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_ban_dau_phau_thuat_cabg_tai_khoa_ptt_bvnd115.pdf