Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Đặt vấn đề: Triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống của bệnh nhân, ICS 2002 cũng đã xếp các triệu chứng sau đi tiểu thành nhóm riêng biệt. Các nghiên cứu về
triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung và triệu chứng sau đi tiểu nói riêng ở Việt Nam chưa nhiều. Để
mang lại kết quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, các triệu chứng sau đi tiểu cần được
quan tâm đúng mực.
Mục tiêu: Khảo sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường
tiết niệu dưới.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu mô tả loạt ca, tiến cứu. Có 384 trường hợp có
triệu chứng đường tiết niệu dưới. BN được trả lời bảng câu hỏi triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Biến số
nghiên cứu chính là tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu. Các biến số nghiên cứu phụ là tỉ lệ
các triệu chứng đường tiết niệu dưới, điểm chất lượng cuộc sống. Phân tích số liệu bằng STATA 14.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 200 KẾT QUẢ BAN ĐẦU CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ NHÓM TRIỆUCHỨNG SAU ĐI TIỂU Ở BỆNH NHÂN NAM GIỚITRÊN 40 TUỔI TẠIBỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH Nguyễn Xuân Toàn1, Ngô Xuân Thái2, Tô Quốc Hãn2, Lê Trung Trực1, Trần Đoàn Thiên Bảo1, Lê Trường Giang1 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, ICS 2002 cũng đã xếp các triệu chứng sau đi tiểu thành nhóm riêng biệt. Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung và triệu chứng sau đi tiểu nói riêng ở Việt Nam chưa nhiều. Để mang lại kết quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, các triệu chứng sau đi tiểu cần được quan tâm đúng mực. Mục tiêu: Khảo sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới. Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu mô tả loạt ca, tiến cứu. Có 384 trường hợp có triệu chứng đường tiết niệu dưới. BN được trả lời bảng câu hỏi triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Biến số nghiên cứu chính là tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu. Các biến số nghiên cứu phụ là tỉ lệ các triệu chứng đường tiết niệu dưới, điểm chất lượng cuộc sống. Phân tích số liệu bằng STATA 14. Kết quả: tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết là 50%, triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu là 39,6%. Triệu chứng tiểu đêm và tiểu nhiều lần được ghi nhận có tỉ lệ cao nhất là 60,7% và 62,5%. Các nhóm triệu chứng thường xuất hiện phối hợp với nhau. Triệu chứng tiểu không hết ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của 52,1% BN và 46,8 % BN đối với triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Tập vật lý trị liệu cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn có thể cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Kết luận: Các triệu chứng sau đi tiểu chiếm tỉ lệ cao trong các triệu chứng đường tiết niệu dưới và xuất hiện phối hợp với các triệu chứng khác. Các triệu chứng này gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của khoảng một nửa bệnh nhân. Vật lý trị liệu tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn là phương pháp không xâm lấn giúp giảm triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Từ khóa: triệu chứng đường tiết niệu dưới, triệu chứng sau đi tiểu, triệu chứng tiểu không hết, triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu, tập cơ sàn chậu ABSTRACT EVALUATION OF DIAGNOSIS AND TREATMENT OF POST MICTURITION SYMPTOMS IN MALE PATIENTS OVER 40 YEARS OLD AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL Nguyen Xuan Toan, Ngo Xuan Thai, To Quoc Han, Le Trung Truc, Tran Doan Thien Bao, Le Truong Giang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 200 - 206 Background: Lower urinary tract symptoms (LUTS) are common problems and affect to the quality of life, The ICS has divided LUTS into three groups: storage, voiding and post‐micturition symptoms (ICS 2002 has also classified post‐micturition symptoms into third groups). In general, there are lack of research on lower urinary tract symptoms and post‐micturition symptoms. To improve the quality of life for the patients and give a better healthcare for patients, the symptoms should be considered properly. 1BV Nhân dân Gia Định 2Bộ môn Tiết Niệu Học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: ThS.BS. Nguyễn Xuân Toàn ĐT: 0914038922 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 201 Objectives: To evaluate the post‐micturition symptoms in male patients over 40 years old with low urinary tract symptoms. Methode: this was a prospective, observational study. There were 384 cases included. Patients were given a symptom and quality of life questionnaire. The main research variable was the prevalence of a feeling of incomplete emptying following urination and post‐micturition dribble. The sub‐study variables were the incidence of lower urinary tract symptoms and quality of life score. Data was analysed by STATA 14. Results: prevalence of incomplete emptying symptom is 50%, post micturition dribble is 39.6%. Nocturia and frequency were reported with the highest rates at 60.7% and 62.5%. LUTS symptoms of voiding, storage and post‐micturition are usually in the same patient. 52.1% of patients had incomplete emptying and 46.8% patient had post‐micturition dribble was feeling bad and decrease of quality of life. Pelvic muscles exercise and urethral massage may improve post‐urination dribble symptom. Conclusion: Post‐micturition symptoms account for a high proportion of lower urinary tract symptoms and combination with other symptoms. These symptoms affect the quality of life of about half of the patients. Pelvic muscles exercise and urethral massage are non‐invasive methods that help patient to relieve the post micturition dribbles symptom. Keywords: lower urinary tract symptoms (LUTS), post micturition symptom, feeling of incomplete emptying, post micturition dribble symptom, pelvic muscles exercise ĐẶT VẤN ĐỀ Theo định nghĩa của Hiệp hội tự chủ quốc tế (ICS), triệu chứng đường tiết niệu dưới (TCĐTND) bao gồm ba nhóm triệu chứng: chứa đựng, tống xuất, và nhóm triệu chứng sau khi đi tiểu(1). Một số nghiên cứu dịch tể học lớn đã cho thấy triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp ở cả nam và nữ, lên đến 60% ở cả hai giới và do nhiều nguyên nhân gây ra ảnh hưởng cả về thể chất lẫn tinh thần(2). Nhìn chung, các nghiên cứu tiết niệu cho đến nay tập trung vào các triệu chứng tống xuất (ví dụ như tiểu ngắt quãng, tiểu yếu, tiểu rặn) hoặc các triệu chứng chứa đựng (ví dụ như tiểu gấp, tiểu nhiều lần,tiểu đêm), trong khi đó nhóm triệu chứng sau khi đi tiểu (bao gồm cảm giác tiểu không hết sau khi đi tiểu và tiểu nhỏ giọt sau khi đi tiểu) ít được chú ý đến. Khi chăm sóc y tế hướng đến lấy người bệnh làm trung tâm và cá thể hóa điều trị đang được đề cao, dẫn đến việc tiếp cận một bệnh nhân có các triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung và các triệu chứng sau đi tiểu nói riêng cần phải quan tâm đúng mực hơn. Mục tiêu Xác định tỉ lệ các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới. Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng chứa đựng, triệu chứng tống xuất qua thang điểm IPSS. Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và chất lượng cuộc sống. Đánh giá sự cải thiện của triệu chứng tiểu nhỏ giọt sau đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Nam giới từ 40 tuổi trở lên và có triệu chứng của đường tiết niệu dưới đi khám tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Tiêu chuẩn chọn mẫu Nam giới từ 40 tuổi trở lên và có triệu chứng của đường tiết niệu dưới được khảo sát theo Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (International Prostate Symptom Score, IPSS). Tiêu chuẩn loại trừ Các trường hợp có phẫu thuật hoặc xạ trị vùng châu, tiền sử ung thư bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt, tiểu máu và nhiễm khuẩn đường tiết niệu, hẹp niệu đạo, chấn thương cột sống, Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 202 bệnh nhân không đủ thông tin nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu. Cỡ mẫu Có 384 trường hợp (TH) được chọn. Tiến hành nghiên cứu Các trường hợp bệnh nhân (BN) nam giới từ 40 tuổi trở lên đến khám tại phòng khám Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, được cung cấp thông tin về triệu chứng đường tiết niệu dưới và triệu chứng sau đi tiểu. Khi BN đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ kí bản đồng thuận và trả lời bảng câu hỏi đính kèm. Đối với BN có triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu ở mức độ nhiều và cảm thấy phiền lòng, BN được hướng dẫn mát xa niệu đạo tầng sinh môn và tập vật lý trị liệu cơ sàn chậu. Sau 3 tháng, BN được đánh giá lại việc tuân thủ phương pháp tập và trả lời các câu hỏi để đánh giá mức độ cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Biến số nghiên cứu Các triệu chứng đường tiết niệu dưới theo định nghĩa của Hội tự chủ Quốc tế (ICS) và Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS) cho các triệu chứng: tiểu nhiều lần, tiểu ngắt quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu rặn. Các triệu chứng sau đi tiểu được đánh giá bằng câu hỏi: Cảm giác tiểu không hết nước tiểu ngay sau khi ông vừa đi tiểu xong? Cho triệu chứng tiểu không hết. Ông có bị nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu không? Và mức độ của nhỏ giọt nước tiểu đối với triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. Câu hỏi về chất lượng cuộc sống: Ông nghĩ sao nếu phải sống mãi với các triệu chứng trên? (theo IPSS) và Câu hỏi về sự phiền lòng của triệu chứng sau đi tiểu (gồm tiểu không hết và nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu) với các mức độ không khó chịu, có một chút, có mức độ trung bình và rất khó chịu. Thu thập và xử lý số liệu Số liệu được thu thập bằng phần mềm Excel và xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 14.0. Các biến số định lượng gồm tuổi, tần suất tiểu đêm, tổng điểm IPSS, điểm chất lượng cuộc sống. Biến thứ bậc: điểm tiểu không hết, điểm tiểu nhiều, điểm tiểu ngắt quãng, điểm tiểu gấp, điểm tiểu yếu, điểm tiểu rặn, mức độ nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. Nhóm biến số điểm IPSS: tiểu không hết, tiểu nhiều, tiểu ngắt quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu rặn, tần suất tiểu đêm. Nhóm biến số các triệu chứng đường tiết niệu dưới: tống xuất; chứa đựng; sau đi tiểu; tống xuất và chứa đựng; tống xuất và sau đi tiểu; chứa đựng và sau đi tiểu; tống xuất chứa đựng và sau đi tiểu; Nhóm biến số mối liên quan giữa độ nặng của TCĐTND và điểm chất lượng cuộc sống: điểm chất lượng cuộc sống trung bình, tỉ lệ bệnh nhân hài lòng về chất lượng cuộc sống theo độ nặng của TCĐTND. Test χ2 dùng để so sánh sự khác biệt giữa các tỉ lệ giữa các nhóm. Đánh giá mối liên quan dùng Test χ2 và tỉ số chênh (OR). Test Kruskal Wallis để kiểm định sự khác biệt giá trị trung bình. Nhận định có sự khác biệt khi p<0,05. Y đức Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học bệnh viện Nhân dân Gia Định chấp thuận theo giấy chứng nhận số 38/CN-HĐĐĐ ngày 29/5/2020. KẾT QUẢ Nghiên cứu đã chọn được 384 TH có triệu chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002. Trong đó các nhóm tuổi 40-49 tuổi, 50-59 tuổi và trên 60 tuổi lần lượt là 7%, 29,4% và 63,5%. Bảng 1: Sự phân bố mức độ nặng của triệu chứng theo tổng điểm IPSS Số TH Tỉ lệ (%) Nhẹ (1-7đ) 220 57.3 Trung bình (8- 9đ) 131 34.1 Nặng (≥20đ) 33 8.6 Tổng số (N) 384 100 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 Chuyên Đề Ngoại Khoa Các triệu chứng sau đi tiểu Trong 384 BN tỉ lệ bệnh nhân có các tri chứng tiểu không hết, nhỏ giọt sau đi ti Bảng 2: Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng sau đi ti Triệu chứng sau đi tiểu Tiểu không hết (≥1 điểm) Nhỏ giọt sau đi tiểu (≥1 điểm) Có bất kỳ triệu chứngsau đi tiểu Chỉ có triệu chứng sau đi tiểu Tương quan giữa nhóm triệu ch tiểu và các nhóm triệu chứng đường ti dưới khác. Hình 1: Phân bố các triệu chứng của đườ dưới theo ICS 2002 Các triệu chứng sau đi tiểu chiế hơn bất kì triệu chứng đơn lẻ nào c triệu chứng tống xuất. Hình 2: Tỉ lệ các nhóm triệu chứng đườ dưới theo ICS 2002 * Số 1 * 2021 Nghiên c ệu ểu và có triệu chứng sau đi tiểu bất kỳ là 50,0%; 60,7%. Chỉ có 5,0% bệnh nhân trong nhóm này chỉ có triệu chứng sau đi tiểu độ ểu theo tuổi (N=384) 40-49 tuổi 50-59 tuổi ≥60 tu n % n % n 15 55,6 47 41,6 130 11 40,7 44 38,9 97 18 66,7 67 59,3 148 4 14,8 7 6,2 8 ứng sau đi ết niệu ng tiết niệu m tỉ lệ cao ủa nhóm ng tiết niệu Kết quả cho thấy ở các nhóm tri độc lập nhóm bệnh nhân chỉ có tri đựng chiếm tỉ lệ cao nhất với 20,6% và bệnh nhân chỉ có triệu chứng tố lệ thấp nhất với 1,9%. Ở nhóm các tri phối hợp, nhóm bệnh nhân có c tống xuất, chứa đựng và sau đi ti cao nhất với 34,0% và nhóm bệ chứng tống xuất và sau đi tiểu chi nhất với 3,1%. Tương quan giữa triệu chứng sau đi ti chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Bảng 3: Mức độ hài lòng về chất lư độ nặng của triệu chứng tiểu không h Mức độ hài lòng chất lượng cuộc sống Độ nặng của tri chứng tiểu không hết Nhẹ TB Không khó chịu 86 5 Khó chịu mức độ ít 27 28 Khó chịu mức độ TB 13 20 Rất khó chịu 1 1 Tổng 127 54 TB: Trung bình Bảng 4: Mức độ hài lòng về chất lư độ nặng của triệu chứng nhỏ giọt sau đi ti Mức độ hài lòng chất lượng cuộc sống Độ nặng của tri chứng nhỏ gi đi tiểu Nhẹ TB Không khó chịu 78 4 Khó chịu mức độ ít 32 14 Khó chịu mức độ TB 1 17 Rất khó chịu 0 0 Tổng 111 35 TB: Trung bình ứu Y học 203 39,6% và c lập. ổi Tổng % n % 53,3 192 50,0 39,8 152 39,6 60,7 233 60,7 3,3 19 5,0 ệu chứng ệu chứng chứa nhóm ng xuất chiếm tỉ ệu chứng ả ba triệu chứng ểu chiếm tỉ lệ nh nhân có triệu ếm tỉ lệ thấp ểu và ợng cuộc sống với ết (n=192) ệu Tổng Nặng n % 1 92 47,9 5 60 31,2 4 37 19,3 1 3 1,6 11 192 ợng cuộc sống với ểu (n=156) ệu ọt sau Tổng Nặng n % 1 83 53,2 2 48 30,8 6 24 15,4 1 1 0,6 10 156 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 204 Sự cải thiện của triệu chứng tiểu nhỏ giọt sau đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn Có 35 TH bệnh nhân tham gia tập vật lý trị liệu, trong đó 29 TH bệnh nhân tập được đến sau 3 tháng, 6 TH còn lại bệnh nhân bỏ cuộc không tập. Bảng 5: Sự cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn Hiệu quả N Tỉ lệ % Không còn TC 10 34,5 Cải thiện TC 15 51,7 Không cải thiện 4 13,8 Tổng số 29 100% BÀN LUẬN Chúng tôi thu thập được 384 TH bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới theo tiêu chuẩn ICS 2002 (điểm số IPSS ≥1). Phân chia mức độ nặng theo điểm IPSS tỉ lệ mắc TCĐTND ở các mức độ nhẹ (1-7đ), trung bình (8-19đ) và nặng (≥20đ) lần lượt là 57,3%; 34,1% và 8,6%. Đa số bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới ở mức độ nhẹ với tỉ lệ 57,3%. Đặc điểm chung của triệu chứng sau đi tiểu Các triệu chứng sau đi tiểu đã được khảo sát trong nghiên cứu là tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu với giá trị ≥1 điểm được xác định là có triệu chứng. Tỉ lệ bệnh nhân có các triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu lần lượt là 50% và 36,9%; trong đó triệu chứng tiểu không hết chiếm tỉ lệ cao hơn. Chỉ có 5,4% BN chỉ có triệu chứng sau đi tiểu độc lập không kèm theo các triệu chứng khác. Theo nghiên cứu tác giả Lê Đình Khánh(3): cảm giác tiểu không hết chiếm 82,4% cao hơn của chúng tôi, nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu chiếm tỉ lệ 22,5%. Theo Chapple C(4), có 26% cảm giác tiểu không hết và 7% nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. Theo Coyne K(5) nghiên cứu cũng báo cáo tỷ lệ hiện mắc của tiểu không hết và nhỏ giọt sau khi đi tiểu trong cộng đồng nam giới. Tỷ lệ hiện mắc của tiểu không hết là 22,7%. Nhỏ giọt sau khi đi tiểu cũng thường thấy ở nam giới và có tỉ lệ 29,7%. Triệu chứng tiểu không hết Cảm giác tiểu không hết được mô tả ngay trong câu hỏi đầu tiên của IPSS, đây là cảm giác chủ quan của bệnh nhân sau khi đi kết thúc việc đi tiểu. Cảm giác tiểu không hết cần phân biệt rõ ràng có phải là do lượng nước tiểu tồn lưu sau đi tiểu còn lại cao (bằng cách siêu âm hoặc đặt thông niệu đạo để đo lượng nước tiểu trong bàng quang sau khi đi tiểu). Có một số trường hợp bệnh nhân cảm thấy cảm giác tiểu không hết mặc dù lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng quang sau đi tiểu rất thấp, thường có kèm theo các triệu chứng của TCĐTND. Nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng tiểu không hết đứng thứ ba trong số các TCĐTND, và tỉ lệ triệu chứng này cao hơn các nghiên cứu khác, và sự khác biệt của triệu chứng này ở các nhóm tuổi khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu So sánh với tác giả Trần Lê Linh Phương(6) 30% BN có triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. So với kết quả của chúng tôi cao hơn, có thể vì đối tượng BN chúng tôi có độ tuổi cao hơn và BN khám tại phòng khám tiết niệu. So sánh với các tác giả khác, nghiên cứu dựa trên thực hành với hơn 1.500 nam giới ≥18 tuổi ở Đông Nam Á, tỷ lệ hiện mắc là 55,0%(7). Tác giả Kobayashi K(8)nghiên cứu về TCĐTND tại Nhật Bản cho thấy tần suất nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu lần lượt là 13,6%, 39%, 44,2% và 41,2 % trong các khoảng tuổi 40, 50, 60, 70 của đàn ông. Tác giả Jeong HC(9) nghiên cứu trên 2134 BN tại Hàn quốc, trong đó tỉ lệ triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu là 51%. Tỉ lệ triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn tại Hàn quốc và gần bằng các tác giả ở Nhật bản, châu Âu. Triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu chiếm hơn một phần ba tổng số bệnh nhân có TCĐTND. Điều này cho thấy nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu cũng là một trong những triệu chứng khá phổ biến, đặc biệt Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 205 trong bệnh cảnh bệnh nhân có những triệu chứng của đường tiết niệu dưới. Về cơ chế của nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu mặc dù chưa được biết rõ, nhiều tác giả cho rằng vì còn sót nước tiểu trong niệu đạo tuyến tiền liệt và niệu đạo hành sau khi đi tiểu, tuy nhiên sinh lý bệnh của việc đọng nước tiểu vẫn chưa được hiểu rõ. Một số giả thuyết cho rằng do sự yếu của cơ sàn chậu, điều này dẫn tới không tống xuất được hết nước tiểu. Chúng tôi cho rằng, BN lớn tuổi có thể tích tuyến tiền liệt tăng, dẫn đến kéo dài niệu đạo tuyến tiền liệt, kèm theo sự suy yếu của cơ sàn chậu; cả hai yếu tố này cùng xảy ra trên bệnh nhân lớn tuổi dẫn đến xuất hiện triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu nhiều hơn ở người trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi. Mối liên quan của các triệu chứng sau đi tiểu và các triệu chứng chứa đựng, tống xuất Dựa vào kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy rằng nhóm triệu chứng chứa đựng chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nhóm triệu chứng của đường tiết niệu dưới. Tỉ lệ bệnh nhân có 2 nhóm triệu chứng phối hợp dao động từ 49,4 đến 56%. Số lượng bệnh nhân có cả 3 nhóm triệu chứng phối hợp chiếm tỉ lệ cao nhất đến 63,1%. Đối với các triệu chứng đường tiết niệu dưới, ta có thể thấy rằng các triệu chứng ít khi nào xuất hiện độc lập riêng lẻ, các nhóm triệu chứng thường đi kèm với nhau. Mặc dù các triệu chứng được khai thác chủ quan, nhưng sự biểu hiện nhiều triệu chứng cùng một lúc có thể phản ảnh được tình trạng bất thường của đường tiết niệu dưới. Chính vì vậy khi xét đến triệu chứng trên mỗi cá thể người bệnh, bác sĩ cần đánh giá đầy đủ và chính xác nhằm tránh bỏ sót các triệu chứng kèm theo mà chỉ chú ý một vài triệu chứng nổi bật làm bệnh nhân đến phòng khám tiết niệu. Bên cạnh đó, việc điều trị cũng nên đặt trong một bức tranh chung nhằm phối hợp điều trị cho kết quả cao nhất. Đặc biệt chú trọng đến nhóm triệu chứng sau đi tiểu. Nhóm triệu chứng sau đi tiểu và chất lượng cuộc sống Theo tác giả Maserejian NN(10) triệu chứng tiểu không hết là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều lên tinh thần và thể chất của bệnh nhân có TCĐTND. Tuy nhiên việc các triệu chứng phối hợp với nhau cũng gây chồng lấp kết quả và làm tăng gánh nặng cho BN. Trong nghiên cứu của chúng tôi trên một nửa BN thấy phiền lòng với các triệu chứng sau đi tiểu, và một phần ba trong số đó cảm thấy khó chịu ở mức độ trên trung bình. Điều trị triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn Điều trị triệu chứng tiểu không hết sau đi tiểu cần phải tìm nguyên nhân rõ ràng (tăng sinh tuyến tiền liệt, hẹp niệu đạo, hay là các nguyên nhân khác như bàng quang thần kinh, bàng quang giảm trương lực,). Điều trị có thể bằng cách đặt thông tiểu nếu có bế tắc nhiều, hoặc dùng thuốc bethanechol chloride, hoặc các phương pháp kích thích thần kinh cùng cụt. Đối với triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu mát xa niệu đạo và tập sàn chậu được cho sẽ làm giảm triệu chứng. Cả hai phương pháp này có thể áp dụng riêng biệt hoặc kết hợp. Tập cơ sàn chậu đặc biệt tập trung vào cơ hành hang, cơ chậu cụt(11). Động tác này giúp tạo áp lực lên niệu đạo hành và tống xuất hết nước tiểu còn đọng lại. Khi cơ sàn chậu càng yếu thì việc tập càng tỏ ra có hiệu quả. Tập cơ sàn chậu không có kết quả ngay lập tức, sau khoảng 3 đến 6 tháng mới có thể có hiệu quả(11). Bên cạnh đó việc hướng dẫn để tập đúng và duy trì tập luyện trong thời gian dài cũng là một khó khăn, tốt nhất là BN được hướng dẫn tập tại khoa Vật lý trị liệu, và sau đó tiếp tục tập lâu dài tại nhà. KẾT LUẬN Nghiên cứu cho thấy các triệu chứng sau đi tiểu chiếm tỉ lệ cao trong các TCĐTND, cao hơn nhóm triệu chứng tống xuất và thường phối hợp với các nhóm triệu chứng khác gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Vật lý trị liệu tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn là phương pháp không xâm lấn giúp giảm triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Tuy nhiên Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Ngoại Khoa 206 nghiên cứu còn điểm hạn chế chưa khảo sát các nguyên nhân của triệu chứng (bằng siêu âm, các phép đo niệu động học) để có thể đánh giá sâu hơn về các triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Abrams P, Cardozo L, Fall M, et al (2003). The standardisation of terminology in lower urinary tract function: report from the standardisation sub-committee of the International Continence Society. Urology, 61(1):37-49. 2. Irwin DE, Milsom I, Kopp Z (2009). Prevalence, severity, and symptom bother of lower urinary tract symptoms among men in the EPIC study: impact of overactive bladder. Eur Urol, 56(1):14-20. 3. Lê Đình Khánh (2018). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và khảo sát nguyên nhân của các triệu chứng đường tiết niệu dưới. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):159-165. 4. Chapple C, Castro-Diaz D, Chuang YC, et al (2017). Prevalence of Lower Urinary Tract Symptoms in China, Taiwan, and South Korea: Results from a Cross-Sectional, Population-Based Study. Adv Ther, 34(8):1953-1965. 5. Coyne K, Coyne KS, Sexton CC, Thompson CL, et al (2009). The prevalence of lower urinary tract symptoms in the USA, the UK and Sweden: results from the Epidemiology of LUTS (EpiLUTs) study. BJU Int, 104(3):352-360. 6. Trần Lê Linh Phương, Huỳnh Đắc Nhất (2016). Đặc điểm về triệu chứng, mức độ than phiền và độ hài lòng của nam giới có triệu chứng đường tiết niệu dưới tại BVĐHYD TP. HCM.Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):101-104. 7. Ho LY, Chu PS, Consigliere DT, et al (2018). Symptom prevalence, bother, and treatment satisfaction in men with lower urinary tract symptoms in Southeast Asia: a multinational, cross-sectional survey. World J Urol, 36(1):79-86. 8. Kobayashi K, Fukuta F, Masumori N (2019). Prevalence of post- micturition dribble in Japanese men and its relationship with benign prostatic hyperplasia/lower urinary tract symptoms. Low Urinary Tract Symptoms, 11(2):38-41. 9. Jeong HC, Ko KT, Yang DY, et al (2019). Development and validation of a symptom assessment tool for postmicturition dribble: A prospective, multicenter, observational study in Korea. PLoS One, 14(10):e0223734. 10. Maserejian NN, Kupelian V, McVary KT, Doshi M, Link CL, McKinlay JB (2011). Prevalence of post-micturition symptoms in association with lower urinary tract symptoms and health- related quality of life in men and women. BJU International, 108(9):1452-1458. 11. Dorey G (2002). Prevalence, Aetiology and Treatment of Post- Micturition Dribble in Men: Literature review. Physiotherapy, 88(4):225-234. Ngày nhận bài báo: 04/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
ket_qua_ban_dau_chan_doan_va_xu_tri_nhom_trieu_chung_sau_di.pdf

