Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Đặt vấn đề: Triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc

sống của bệnh nhân, ICS 2002 cũng đã xếp các triệu chứng sau đi tiểu thành nhóm riêng biệt. Các nghiên cứu về

triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung và triệu chứng sau đi tiểu nói riêng ở Việt Nam chưa nhiều. Để

mang lại kết quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, các triệu chứng sau đi tiểu cần được

quan tâm đúng mực.

Mục tiêu: Khảo sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường

tiết niệu dưới.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu mô tả loạt ca, tiến cứu. Có 384 trường hợp có

triệu chứng đường tiết niệu dưới. BN được trả lời bảng câu hỏi triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Biến số

nghiên cứu chính là tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu. Các biến số nghiên cứu phụ là tỉ lệ

các triệu chứng đường tiết niệu dưới, điểm chất lượng cuộc sống. Phân tích số liệu bằng STATA 14.

pdf 7 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Kết quả ban đầu chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 200 
KẾT QUẢ BAN ĐẦU CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ NHÓM 
TRIỆUCHỨNG SAU ĐI TIỂU Ở BỆNH NHÂN NAM GIỚITRÊN 40 TUỔI 
TẠIBỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH 
Nguyễn Xuân Toàn1, Ngô Xuân Thái2, Tô Quốc Hãn2, Lê Trung Trực1, Trần Đoàn Thiên Bảo1, 
Lê Trường Giang1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề thường gặp và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc 
sống của bệnh nhân, ICS 2002 cũng đã xếp các triệu chứng sau đi tiểu thành nhóm riêng biệt. Các nghiên cứu về 
triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung và triệu chứng sau đi tiểu nói riêng ở Việt Nam chưa nhiều. Để 
mang lại kết quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, các triệu chứng sau đi tiểu cần được 
quan tâm đúng mực. 
Mục tiêu: Khảo sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường 
tiết niệu dưới. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu mô tả loạt ca, tiến cứu. Có 384 trường hợp có 
triệu chứng đường tiết niệu dưới. BN được trả lời bảng câu hỏi triệu chứng và chất lượng cuộc sống. Biến số 
nghiên cứu chính là tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu. Các biến số nghiên cứu phụ là tỉ lệ 
các triệu chứng đường tiết niệu dưới, điểm chất lượng cuộc sống. Phân tích số liệu bằng STATA 14. 
Kết quả: tỉ lệ triệu chứng tiểu không hết là 50%, triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu là 39,6%. Triệu chứng 
tiểu đêm và tiểu nhiều lần được ghi nhận có tỉ lệ cao nhất là 60,7% và 62,5%. Các nhóm triệu chứng thường 
xuất hiện phối hợp với nhau. Triệu chứng tiểu không hết ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của 52,1% BN và 
46,8 % BN đối với triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Tập vật lý trị liệu cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh 
môn có thể cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. 
Kết luận: Các triệu chứng sau đi tiểu chiếm tỉ lệ cao trong các triệu chứng đường tiết niệu dưới và xuất 
hiện phối hợp với các triệu chứng khác. Các triệu chứng này gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của 
khoảng một nửa bệnh nhân. Vật lý trị liệu tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn là phương pháp 
không xâm lấn giúp giảm triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. 
Từ khóa: triệu chứng đường tiết niệu dưới, triệu chứng sau đi tiểu, triệu chứng tiểu không hết, triệu chứng 
nhỏ giọt sau đi tiểu, tập cơ sàn chậu 
ABSTRACT 
EVALUATION OF DIAGNOSIS AND TREATMENT OF POST MICTURITION SYMPTOMS 
IN MALE PATIENTS OVER 40 YEARS OLD AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL 
Nguyen Xuan Toan, Ngo Xuan Thai, To Quoc Han, Le Trung Truc, Tran Doan Thien Bao, 
Le Truong Giang * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 200 - 206 
Background: Lower urinary tract symptoms (LUTS) are common problems and affect to the quality of life, 
The ICS has divided LUTS into three groups: storage, voiding and post‐micturition symptoms (ICS 2002 has also 
classified post‐micturition symptoms into third groups). In general, there are lack of research on lower urinary 
tract symptoms and post‐micturition symptoms. To improve the quality of life for the patients and give a better 
healthcare for patients, the symptoms should be considered properly. 
1BV Nhân dân Gia Định 2Bộ môn Tiết Niệu Học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Nguyễn Xuân Toàn ĐT: 0914038922 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 201 
Objectives: To evaluate the post‐micturition symptoms in male patients over 40 years old with low urinary 
tract symptoms. 
Methode: this was a prospective, observational study. There were 384 cases included. Patients were given a 
symptom and quality of life questionnaire. The main research variable was the prevalence of a feeling of 
incomplete emptying following urination and post‐micturition dribble. The sub‐study variables were the 
incidence of lower urinary tract symptoms and quality of life score. Data was analysed by STATA 14. 
Results: prevalence of incomplete emptying symptom is 50%, post micturition dribble is 39.6%. Nocturia 
and frequency were reported with the highest rates at 60.7% and 62.5%. LUTS symptoms of voiding, storage and 
post‐micturition are usually in the same patient. 52.1% of patients had incomplete emptying and 46.8% patient 
had post‐micturition dribble was feeling bad and decrease of quality of life. Pelvic muscles exercise and urethral 
massage may improve post‐urination dribble symptom. 
Conclusion: Post‐micturition symptoms account for a high proportion of lower urinary tract symptoms and 
combination with other symptoms. These symptoms affect the quality of life of about half of the patients. Pelvic 
muscles exercise and urethral massage are non‐invasive methods that help patient to relieve the post micturition 
dribbles symptom. 
Keywords: lower urinary tract symptoms (LUTS), post micturition symptom, feeling of incomplete 
emptying, post micturition dribble symptom, pelvic muscles exercise 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Theo định nghĩa của Hiệp hội tự chủ quốc tế 
(ICS), triệu chứng đường tiết niệu dưới 
(TCĐTND) bao gồm ba nhóm triệu chứng: chứa 
đựng, tống xuất, và nhóm triệu chứng sau khi đi 
tiểu(1). Một số nghiên cứu dịch tể học lớn đã cho 
thấy triệu chứng đường tiết niệu dưới là vấn đề 
thường gặp ở cả nam và nữ, lên đến 60% ở cả hai 
giới và do nhiều nguyên nhân gây ra ảnh hưởng 
cả về thể chất lẫn tinh thần(2). Nhìn chung, các 
nghiên cứu tiết niệu cho đến nay tập trung vào 
các triệu chứng tống xuất (ví dụ như tiểu ngắt 
quãng, tiểu yếu, tiểu rặn) hoặc các triệu chứng 
chứa đựng (ví dụ như tiểu gấp, tiểu nhiều 
lần,tiểu đêm), trong khi đó nhóm triệu chứng 
sau khi đi tiểu (bao gồm cảm giác tiểu không hết 
sau khi đi tiểu và tiểu nhỏ giọt sau khi đi tiểu) ít 
được chú ý đến. 
Khi chăm sóc y tế hướng đến lấy người bệnh 
làm trung tâm và cá thể hóa điều trị đang được 
đề cao, dẫn đến việc tiếp cận một bệnh nhân có 
các triệu chứng đường tiết niệu dưới nói chung 
và các triệu chứng sau đi tiểu nói riêng cần phải 
quan tâm đúng mực hơn. 
Mục tiêu 
Xác định tỉ lệ các triệu chứng sau khi đi tiểu 
ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng 
đường tiết niệu dưới. 
Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng 
sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng chứa đựng, 
triệu chứng tống xuất qua thang điểm IPSS. 
Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng 
sau đi tiểu và chất lượng cuộc sống. 
Đánh giá sự cải thiện của triệu chứng tiểu 
nhỏ giọt sau đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát 
xa niệu đạo tầng sinh môn. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Nam giới từ 40 tuổi trở lên và có triệu chứng 
của đường tiết niệu dưới đi khám tại bệnh viện 
Nhân Dân Gia Định. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Nam giới từ 40 tuổi trở lên và có triệu chứng 
của đường tiết niệu dưới được khảo sát theo 
Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế 
(International Prostate Symptom Score, IPSS). 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Các trường hợp có phẫu thuật hoặc xạ trị 
vùng châu, tiền sử ung thư bàng quang, ung thư 
tuyến tiền liệt, tiểu máu và nhiễm khuẩn đường 
tiết niệu, hẹp niệu đạo, chấn thương cột sống, 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 202 
bệnh nhân không đủ thông tin nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu. 
Cỡ mẫu 
Có 384 trường hợp (TH) được chọn. 
Tiến hành nghiên cứu 
Các trường hợp bệnh nhân (BN) nam giới từ 
40 tuổi trở lên đến khám tại phòng khám Bệnh 
viện Nhân Dân Gia Định, được cung cấp thông 
tin về triệu chứng đường tiết niệu dưới và triệu 
chứng sau đi tiểu. Khi BN đồng ý tham gia 
nghiên cứu sẽ kí bản đồng thuận và trả lời bảng 
câu hỏi đính kèm. 
Đối với BN có triệu chứng nhỏ giọt nước 
tiểu sau đi tiểu ở mức độ nhiều và cảm thấy 
phiền lòng, BN được hướng dẫn mát xa niệu 
đạo tầng sinh môn và tập vật lý trị liệu cơ sàn 
chậu. Sau 3 tháng, BN được đánh giá lại việc 
tuân thủ phương pháp tập và trả lời các câu 
hỏi để đánh giá mức độ cải thiện triệu chứng 
nhỏ giọt sau đi tiểu. 
Biến số nghiên cứu 
Các triệu chứng đường tiết niệu dưới theo 
định nghĩa của Hội tự chủ Quốc tế (ICS) và 
Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS) 
cho các triệu chứng: tiểu nhiều lần, tiểu ngắt 
quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu rặn. Các triệu 
chứng sau đi tiểu được đánh giá bằng câu hỏi: 
Cảm giác tiểu không hết nước tiểu ngay sau 
khi ông vừa đi tiểu xong? Cho triệu chứng tiểu 
không hết. 
Ông có bị nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu 
không? Và mức độ của nhỏ giọt nước tiểu đối 
với triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. 
Câu hỏi về chất lượng cuộc sống: Ông nghĩ 
sao nếu phải sống mãi với các triệu chứng trên? 
(theo IPSS) và Câu hỏi về sự phiền lòng của triệu 
chứng sau đi tiểu (gồm tiểu không hết và nhỏ 
giọt nước tiểu sau đi tiểu) với các mức độ không 
khó chịu, có một chút, có mức độ trung bình và 
rất khó chịu. 
Thu thập và xử lý số liệu 
Số liệu được thu thập bằng phần mềm 
Excel và xử lý bằng phần mềm thống kê 
STATA 14.0. Các biến số định lượng gồm tuổi, 
tần suất tiểu đêm, tổng điểm IPSS, điểm chất 
lượng cuộc sống. Biến thứ bậc: điểm tiểu 
không hết, điểm tiểu nhiều, điểm tiểu ngắt 
quãng, điểm tiểu gấp, điểm tiểu yếu, điểm tiểu 
rặn, mức độ nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu. 
Nhóm biến số điểm IPSS: tiểu không hết, tiểu 
nhiều, tiểu ngắt quãng, tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu 
rặn, tần suất tiểu đêm. Nhóm biến số các triệu 
chứng đường tiết niệu dưới: tống xuất; chứa 
đựng; sau đi tiểu; tống xuất và chứa đựng; 
tống xuất và sau đi tiểu; chứa đựng và sau đi 
tiểu; tống xuất chứa đựng và sau đi tiểu; 
Nhóm biến số mối liên quan giữa độ nặng của 
TCĐTND và điểm chất lượng cuộc sống: điểm 
chất lượng cuộc sống trung bình, tỉ lệ bệnh 
nhân hài lòng về chất lượng cuộc sống theo độ 
nặng của TCĐTND. Test χ2 dùng để so sánh 
sự khác biệt giữa các tỉ lệ giữa các nhóm. Đánh 
giá mối liên quan dùng Test χ2 và tỉ số chênh 
(OR). Test Kruskal Wallis để kiểm định sự 
khác biệt giá trị trung bình. Nhận định có sự 
khác biệt khi p<0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức 
trong nghiên cứu Y sinh học bệnh viện Nhân 
dân Gia Định chấp thuận theo giấy chứng nhận 
số 38/CN-HĐĐĐ ngày 29/5/2020. 
KẾT QUẢ 
Nghiên cứu đã chọn được 384 TH có triệu 
chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002. Trong 
đó các nhóm tuổi 40-49 tuổi, 50-59 tuổi và trên 60 
tuổi lần lượt là 7%, 29,4% và 63,5%. 
Bảng 1: Sự phân bố mức độ nặng của triệu chứng 
theo tổng điểm IPSS 
 Số TH Tỉ lệ (%) 
Nhẹ (1-7đ) 220 57.3 
Trung bình (8- 9đ) 131 34.1 
Nặng (≥20đ) 33 8.6 
Tổng số (N) 384 100 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25
Chuyên Đề Ngoại Khoa 
Các triệu chứng sau đi tiểu 
Trong 384 BN tỉ lệ bệnh nhân có các tri
chứng tiểu không hết, nhỏ giọt sau đi ti
Bảng 2: Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng sau đi ti
Triệu chứng sau đi tiểu 
Tiểu không hết (≥1 điểm) 
Nhỏ giọt sau đi tiểu (≥1 điểm) 
Có bất kỳ triệu chứngsau đi tiểu 
Chỉ có triệu chứng sau đi tiểu 
Tương quan giữa nhóm triệu ch
tiểu và các nhóm triệu chứng đường ti
dưới khác. 
Hình 1: Phân bố các triệu chứng của đườ
dưới theo ICS 2002 
Các triệu chứng sau đi tiểu chiế
hơn bất kì triệu chứng đơn lẻ nào c
triệu chứng tống xuất. 
Hình 2: Tỉ lệ các nhóm triệu chứng đườ
dưới theo ICS 2002 
 * Số 1 * 2021 Nghiên c
ệu 
ểu và có 
triệu chứng sau đi tiểu bất kỳ là 50,0%;
60,7%. Chỉ có 5,0% bệnh nhân trong nhóm này 
chỉ có triệu chứng sau đi tiểu độ
ểu theo tuổi (N=384) 
40-49 tuổi 50-59 tuổi ≥60 tu
n % n % n 
15 55,6 47 41,6 130 
11 40,7 44 38,9 97 
18 66,7 67 59,3 148 
4 14,8 7 6,2 8 
ứng sau đi 
ết niệu 
ng tiết niệu 
m tỉ lệ cao 
ủa nhóm 
ng tiết niệu 
Kết quả cho thấy ở các nhóm tri
độc lập nhóm bệnh nhân chỉ có tri
đựng chiếm tỉ lệ cao nhất với 20,6% và 
bệnh nhân chỉ có triệu chứng tố
lệ thấp nhất với 1,9%. Ở nhóm các tri
phối hợp, nhóm bệnh nhân có c
tống xuất, chứa đựng và sau đi ti
cao nhất với 34,0% và nhóm bệ
chứng tống xuất và sau đi tiểu chi
nhất với 3,1%. 
Tương quan giữa triệu chứng sau đi ti
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
Bảng 3: Mức độ hài lòng về chất lư
độ nặng của triệu chứng tiểu không h
Mức độ hài lòng chất 
lượng cuộc sống 
Độ nặng của tri
chứng tiểu không 
hết 
Nhẹ TB 
Không khó chịu 86 5 
Khó chịu mức độ ít 27 28 
Khó chịu mức độ TB 13 20 
Rất khó chịu 1 1 
Tổng 127 54 
TB: Trung bình 
Bảng 4: Mức độ hài lòng về chất lư
độ nặng của triệu chứng nhỏ giọt sau đi ti
Mức độ hài lòng chất 
lượng cuộc sống 
Độ nặng của tri
chứng nhỏ gi
đi tiểu
Nhẹ TB 
Không khó chịu 78 4 
Khó chịu mức độ ít 32 14 
Khó chịu mức độ TB 1 17 
Rất khó chịu 0 0 
Tổng 111 35 
TB: Trung bình 
ứu Y học
203 
 39,6% và 
c lập. 
ổi Tổng 
% n % 
53,3 192 50,0 
39,8 152 39,6 
60,7 233 60,7 
3,3 19 5,0 
ệu chứng 
ệu chứng chứa 
nhóm 
ng xuất chiếm tỉ 
ệu chứng 
ả ba triệu chứng 
ểu chiếm tỉ lệ 
nh nhân có triệu 
ếm tỉ lệ thấp 
ểu và 
ợng cuộc sống với 
ết (n=192) 
ệu 
Tổng 
Nặng n % 
1 92 47,9 
5 60 31,2 
4 37 19,3 
1 3 1,6 
11 192 
ợng cuộc sống với 
ểu (n=156) 
ệu 
ọt sau 
Tổng 
Nặng n % 
1 83 53,2 
2 48 30,8 
6 24 15,4 
1 1 0,6 
10 156 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 204 
Sự cải thiện của triệu chứng tiểu nhỏ giọt sau 
đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo 
tầng sinh môn 
Có 35 TH bệnh nhân tham gia tập vật lý trị 
liệu, trong đó 29 TH bệnh nhân tập được đến 
sau 3 tháng, 6 TH còn lại bệnh nhân bỏ cuộc 
không tập. 
Bảng 5: Sự cải thiện triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu 
sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn 
Hiệu quả N Tỉ lệ % 
Không còn TC 10 34,5 
Cải thiện TC 15 51,7 
Không cải thiện 4 13,8 
Tổng số 29 100% 
BÀN LUẬN 
Chúng tôi thu thập được 384 TH bệnh nhân 
có triệu chứng đường tiết niệu dưới theo tiêu 
chuẩn ICS 2002 (điểm số IPSS ≥1). Phân chia mức 
độ nặng theo điểm IPSS tỉ lệ mắc TCĐTND ở các 
mức độ nhẹ (1-7đ), trung bình (8-19đ) và nặng 
(≥20đ) lần lượt là 57,3%; 34,1% và 8,6%. Đa số 
bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới ở 
mức độ nhẹ với tỉ lệ 57,3%. 
Đặc điểm chung của triệu chứng sau đi tiểu 
Các triệu chứng sau đi tiểu đã được khảo sát 
trong nghiên cứu là tiểu không hết và nhỏ giọt 
sau đi tiểu với giá trị ≥1 điểm được xác định là có 
triệu chứng. 
Tỉ lệ bệnh nhân có các triệu chứng tiểu 
không hết và nhỏ giọt sau đi tiểu lần lượt là 50% 
và 36,9%; trong đó triệu chứng tiểu không hết 
chiếm tỉ lệ cao hơn. Chỉ có 5,4% BN chỉ có triệu 
chứng sau đi tiểu độc lập không kèm theo các 
triệu chứng khác. 
Theo nghiên cứu tác giả Lê Đình Khánh(3): 
cảm giác tiểu không hết chiếm 82,4% cao hơn 
của chúng tôi, nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu 
chiếm tỉ lệ 22,5%. Theo Chapple C(4), có 26% cảm 
giác tiểu không hết và 7% nhỏ giọt nước tiểu sau 
đi tiểu. Theo Coyne K(5) nghiên cứu cũng báo cáo 
tỷ lệ hiện mắc của tiểu không hết và nhỏ giọt sau 
khi đi tiểu trong cộng đồng nam giới. Tỷ lệ hiện 
mắc của tiểu không hết là 22,7%. Nhỏ giọt sau 
khi đi tiểu cũng thường thấy ở nam giới và có tỉ 
lệ 29,7%. 
Triệu chứng tiểu không hết 
Cảm giác tiểu không hết được mô tả ngay 
trong câu hỏi đầu tiên của IPSS, đây là cảm giác 
chủ quan của bệnh nhân sau khi đi kết thúc việc 
đi tiểu. Cảm giác tiểu không hết cần phân biệt rõ 
ràng có phải là do lượng nước tiểu tồn lưu sau đi 
tiểu còn lại cao (bằng cách siêu âm hoặc đặt 
thông niệu đạo để đo lượng nước tiểu trong 
bàng quang sau khi đi tiểu). Có một số trường 
hợp bệnh nhân cảm thấy cảm giác tiểu không 
hết mặc dù lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng 
quang sau đi tiểu rất thấp, thường có kèm theo 
các triệu chứng của TCĐTND. Nghiên cứu của 
chúng tôi, triệu chứng tiểu không hết đứng thứ 
ba trong số các TCĐTND, và tỉ lệ triệu chứng 
này cao hơn các nghiên cứu khác, và sự khác biệt 
của triệu chứng này ở các nhóm tuổi khác nhau 
không có ý nghĩa thống kê. 
Triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu 
So sánh với tác giả Trần Lê Linh Phương(6) 
30% BN có triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi 
tiểu. So với kết quả của chúng tôi cao hơn, có thể 
vì đối tượng BN chúng tôi có độ tuổi cao hơn và 
BN khám tại phòng khám tiết niệu. So sánh với 
các tác giả khác, nghiên cứu dựa trên thực hành 
với hơn 1.500 nam giới ≥18 tuổi ở Đông Nam Á, 
tỷ lệ hiện mắc là 55,0%(7). Tác giả Kobayashi 
K(8)nghiên cứu về TCĐTND tại Nhật Bản cho 
thấy tần suất nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu lần 
lượt là 13,6%, 39%, 44,2% và 41,2 % trong các 
khoảng tuổi 40, 50, 60, 70 của đàn ông. Tác giả 
Jeong HC(9) nghiên cứu trên 2134 BN tại Hàn 
quốc, trong đó tỉ lệ triệu chứng nhỏ giọt nước 
tiểu sau đi tiểu là 51%. Tỉ lệ triệu chứng nhỏ giọt 
nước tiểu sau đi tiểu trong nghiên cứu của 
chúng tôi thấp hơn tại Hàn quốc và gần bằng các 
tác giả ở Nhật bản, châu Âu. Triệu chứng nhỏ 
giọt nước tiểu sau đi tiểu chiếm hơn một phần 
ba tổng số bệnh nhân có TCĐTND. Điều này cho 
thấy nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu cũng là một 
trong những triệu chứng khá phổ biến, đặc biệt 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 205 
trong bệnh cảnh bệnh nhân có những triệu 
chứng của đường tiết niệu dưới. 
Về cơ chế của nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu 
mặc dù chưa được biết rõ, nhiều tác giả cho rằng 
vì còn sót nước tiểu trong niệu đạo tuyến tiền liệt 
và niệu đạo hành sau khi đi tiểu, tuy nhiên sinh 
lý bệnh của việc đọng nước tiểu vẫn chưa được 
hiểu rõ. Một số giả thuyết cho rằng do sự yếu 
của cơ sàn chậu, điều này dẫn tới không tống 
xuất được hết nước tiểu. Chúng tôi cho rằng, BN 
lớn tuổi có thể tích tuyến tiền liệt tăng, dẫn đến 
kéo dài niệu đạo tuyến tiền liệt, kèm theo sự suy 
yếu của cơ sàn chậu; cả hai yếu tố này cùng xảy 
ra trên bệnh nhân lớn tuổi dẫn đến xuất hiện 
triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu nhiều hơn ở 
người trẻ trong nghiên cứu của chúng tôi. 
Mối liên quan của các triệu chứng sau đi tiểu 
và các triệu chứng chứa đựng, tống xuất 
Dựa vào kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy 
rằng nhóm triệu chứng chứa đựng chiếm tỉ lệ 
cao nhất trong các nhóm triệu chứng của đường 
tiết niệu dưới. Tỉ lệ bệnh nhân có 2 nhóm triệu 
chứng phối hợp dao động từ 49,4 đến 56%. Số 
lượng bệnh nhân có cả 3 nhóm triệu chứng phối 
hợp chiếm tỉ lệ cao nhất đến 63,1%. Đối với các 
triệu chứng đường tiết niệu dưới, ta có thể thấy 
rằng các triệu chứng ít khi nào xuất hiện độc lập 
riêng lẻ, các nhóm triệu chứng thường đi kèm 
với nhau. Mặc dù các triệu chứng được khai thác 
chủ quan, nhưng sự biểu hiện nhiều triệu chứng 
cùng một lúc có thể phản ảnh được tình trạng 
bất thường của đường tiết niệu dưới. Chính vì 
vậy khi xét đến triệu chứng trên mỗi cá thể 
người bệnh, bác sĩ cần đánh giá đầy đủ và chính 
xác nhằm tránh bỏ sót các triệu chứng kèm theo 
mà chỉ chú ý một vài triệu chứng nổi bật làm 
bệnh nhân đến phòng khám tiết niệu. Bên cạnh 
đó, việc điều trị cũng nên đặt trong một bức 
tranh chung nhằm phối hợp điều trị cho kết quả 
cao nhất. Đặc biệt chú trọng đến nhóm triệu 
chứng sau đi tiểu. 
Nhóm triệu chứng sau đi tiểu và chất lượng 
cuộc sống 
Theo tác giả Maserejian NN(10) triệu chứng 
tiểu không hết là một trong những yếu tố ảnh 
hưởng nhiều lên tinh thần và thể chất của bệnh 
nhân có TCĐTND. Tuy nhiên việc các triệu 
chứng phối hợp với nhau cũng gây chồng lấp 
kết quả và làm tăng gánh nặng cho BN. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi trên một nửa BN thấy 
phiền lòng với các triệu chứng sau đi tiểu, và 
một phần ba trong số đó cảm thấy khó chịu ở 
mức độ trên trung bình. 
Điều trị triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn 
chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn 
Điều trị triệu chứng tiểu không hết sau đi 
tiểu cần phải tìm nguyên nhân rõ ràng (tăng sinh 
tuyến tiền liệt, hẹp niệu đạo, hay là các nguyên 
nhân khác như bàng quang thần kinh, bàng 
quang giảm trương lực,). Điều trị có thể bằng 
cách đặt thông tiểu nếu có bế tắc nhiều, hoặc 
dùng thuốc bethanechol chloride, hoặc các 
phương pháp kích thích thần kinh cùng cụt. 
Đối với triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi 
tiểu mát xa niệu đạo và tập sàn chậu được cho sẽ 
làm giảm triệu chứng. Cả hai phương pháp này 
có thể áp dụng riêng biệt hoặc kết hợp. Tập cơ 
sàn chậu đặc biệt tập trung vào cơ hành hang, cơ 
chậu cụt(11). Động tác này giúp tạo áp lực lên 
niệu đạo hành và tống xuất hết nước tiểu còn 
đọng lại. Khi cơ sàn chậu càng yếu thì việc tập 
càng tỏ ra có hiệu quả. Tập cơ sàn chậu không có 
kết quả ngay lập tức, sau khoảng 3 đến 6 tháng 
mới có thể có hiệu quả(11). Bên cạnh đó việc 
hướng dẫn để tập đúng và duy trì tập luyện 
trong thời gian dài cũng là một khó khăn, tốt 
nhất là BN được hướng dẫn tập tại khoa Vật lý 
trị liệu, và sau đó tiếp tục tập lâu dài tại nhà. 
KẾT LUẬN 
Nghiên cứu cho thấy các triệu chứng sau đi 
tiểu chiếm tỉ lệ cao trong các TCĐTND, cao hơn 
nhóm triệu chứng tống xuất và thường phối hợp 
với các nhóm triệu chứng khác gây ảnh hưởng 
đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Vật lý 
trị liệu tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng 
sinh môn là phương pháp không xâm lấn giúp 
giảm triệu chứng nhỏ giọt sau đi tiểu. Tuy nhiên 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 206 
nghiên cứu còn điểm hạn chế chưa khảo sát các 
nguyên nhân của triệu chứng (bằng siêu âm, các 
phép đo niệu động học) để có thể đánh giá sâu 
hơn về các triệu chứng tiểu không hết và nhỏ 
giọt nước tiểu sau đi tiểu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Abrams P, Cardozo L, Fall M, et al (2003). The standardisation 
of terminology in lower urinary tract function: report from the 
standardisation sub-committee of the International Continence 
Society. Urology, 61(1):37-49. 
2. Irwin DE, Milsom I, Kopp Z (2009). Prevalence, severity, and 
symptom bother of lower urinary tract symptoms among men 
in the EPIC study: impact of overactive bladder. Eur Urol, 
56(1):14-20. 
3. Lê Đình Khánh (2018). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm 
sàng và khảo sát nguyên nhân của các triệu chứng đường tiết 
niệu dưới. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):159-165. 
4. Chapple C, Castro-Diaz D, Chuang YC, et al (2017). Prevalence 
of Lower Urinary Tract Symptoms in China, Taiwan, and South 
Korea: Results from a Cross-Sectional, Population-Based Study. 
Adv Ther, 34(8):1953-1965. 
5. Coyne K, Coyne KS, Sexton CC, Thompson CL, et al (2009). The 
prevalence of lower urinary tract symptoms in the USA, the UK 
and Sweden: results from the Epidemiology of LUTS (EpiLUTs) 
study. BJU Int, 104(3):352-360. 
6. Trần Lê Linh Phương, Huỳnh Đắc Nhất (2016). Đặc điểm về 
triệu chứng, mức độ than phiền và độ hài lòng của nam giới có 
triệu chứng đường tiết niệu dưới tại BVĐHYD TP. HCM.Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):101-104. 
7. Ho LY, Chu PS, Consigliere DT, et al (2018). Symptom 
prevalence, bother, and treatment satisfaction in men with 
lower urinary tract symptoms in Southeast Asia: a 
multinational, cross-sectional survey. World J Urol, 36(1):79-86. 
8. Kobayashi K, Fukuta F, Masumori N (2019). Prevalence of post-
micturition dribble in Japanese men and its relationship with 
benign prostatic hyperplasia/lower urinary tract symptoms. Low 
Urinary Tract Symptoms, 11(2):38-41. 
9. Jeong HC, Ko KT, Yang DY, et al (2019). Development and 
validation of a symptom assessment tool for postmicturition 
dribble: A prospective, multicenter, observational study in 
Korea. PLoS One, 14(10):e0223734. 
10. Maserejian NN, Kupelian V, McVary KT, Doshi M, Link CL, 
McKinlay JB (2011). Prevalence of post-micturition symptoms in 
association with lower urinary tract symptoms and health-
related quality of life in men and women. BJU International, 
108(9):1452-1458. 
11. Dorey G (2002). Prevalence, Aetiology and Treatment of Post-
Micturition Dribble in Men: Literature review. Physiotherapy, 
88(4):225-234. 
Ngày nhận bài báo: 04/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_qua_ban_dau_chan_doan_va_xu_tri_nhom_trieu_chung_sau_di.pdf