Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém

Đặt vấn đề: AMH và AFC tương quan thuận với nhau và với số noãn chọc hút được. Ở một số trường

hợp, có sự bất tương đồng giữa AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém, chúng tôi muốn đánh

giá xem dấu ấn sinh học nào có giá trị hơn.

Mục tiêu: So sánh giá trị dự đoán đáp ứng kém của AMH và AFC ở nhóm bệnh nhân có sự bất tương đồng

giữa AMH và AFC.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mỹ

Đức, Tp.HCM. Đối tượng nghiên cứu là nhóm có sự bất đồng giữa AMH và AFC khi dự đoán đáp ứng buồng

trứng kém. Đáp ứng kém là khi có ≤ 3 noãn, hoặc chọc hút không noãn, hoặc không nang phát triển.

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém

Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 169 
KẾT CỤC THỤ TINH ỐNG NGHIỆM 
CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP CÓ SỰ KHÔNG ĐỒNG BỘ GIỮA AMH VÀ AFC 
TRONG TIÊN LƯỢNG ĐÁP ỨNG KÉM 
Lê Long Hồ1, Hoàng Lê Trung Hiếu1, Phạm Dương Toàn2, Vương Thị Ngọc Lan3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: AMH và AFC tương quan thuận với nhau và với số noãn chọc hút được. Ở một số trường 
hợp, có sự bất tương đồng giữa AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém, chúng tôi muốn đánh 
giá xem dấu ấn sinh học nào có giá trị hơn. 
Mục tiêu: So sánh giá trị dự đoán đáp ứng kém của AMH và AFC ở nhóm bệnh nhân có sự bất tương đồng 
giữa AMH và AFC. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mỹ 
Đức, Tp.HCM. Đối tượng nghiên cứu là nhóm có sự bất đồng giữa AMH và AFC khi dự đoán đáp ứng buồng 
trứng kém. Đáp ứng kém là khi có ≤ 3 noãn, hoặc chọc hút không noãn, hoặc không nang phát triển. 
Kết quả: Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2019, có 1219 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu. Giá trị 
AMH tốt hơn AFC trong dự đoán đáp ứng kém ở mức độ không nang phát triển AUC= 0,76 so với AUC=0,53, 
p <0,001 và không noãn AUC= 0,73 so với AUC= 0,50, p <0,001). 
Kết luận: Ở bệnh nhân có sự bất đồng giữa AMH và AFC, AMH có giá trị tốt hơn AFC để dự đoán không 
nang phát triển và không noãn chọc hút được. 
Từ khoá: đáp ứng kém, AMH, AFC 
ABSTRACT 
IN-VITRO FERTILISATION OUTCOMES OF PATIENTS HAVING A DISCORDANCE 
 BETWEEN AMH AND AFC IN PREDICTING POOR OVARIAN RESPONSE 
Le Long Ho, Hoang Le Trung Hieu, Pham Duong Toan, Vuong Thi Ngoc Lan 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 169 - 173 
Background: Anti-Mullerian Hormone (AMH) correlates well with antral follicle count (AFC) and with 
the number of oocytes retrieved. In some circumstances, there is a discordance between AMH and AFC in 
predicting poor response. We want to investigate which biomarker has better predictive value in predicting poor 
response. 
Objectives: To compare the predictive value of AMH and AFC to predict poor response in patients having a 
discordance between AMH and AFC in predicting poor response. 
Method: A retrospective cohort study was conducted at IVFMD, My Duc Hospital, Ho Chi Minh City. 
Eligible patients had a discordance between AMH and AFC in predicting poor ovarian response. Poor ovarian 
response was defined as ≤3 oocytes retrieved, or no oocyte retrieved or no developing follicle. 
Results: From January 2016 to December 2019, a total of 1219 patients were recruited to the study. 
AMH has a better predictive value as compared to AFC in predicting poor ovarian response, including no 
1Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh 
2Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh 
3Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Lê Long Hồ ĐT: 0356177147 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 170 
developing follicle (AUC = 0.76 versus AUC = 0.53, p <0.001) and no oocyte retrieved (AUC = 0.73 versus 
AUC = 0.50, p <0.001). 
Conclusion: In patients having a discordance between AMH and AFC, AMH has a better predictive value 
than AFC in predicting no developing follicle and no oocyte retrieved. 
Keywords: poor ovarian response, AMH, AFC 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trong điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, có 
nhiều yếu tố được dùng để dự đoán đáp ứng 
buồng trứng như tuổi, FSH cơ bản, AFC và 
AMH(1). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh AMH 
và AFC là 2 dấu ấn sinh học có giá trị dự đoán 
đáp ứng buồng trứng tốt nhất. AMH là một 
phân tử gồm 2 chuỗi glycoprotein, thuộc nhóm 
yếu tố tăng trưởng và biệt hóa TGF-β. Hoạt động 
của AMH được khởi động ngay sau khi nang 
noãn nguyên thủy được chiêu mộ vào nhóm 
phát triển và AMH có nhiều nhất ở các nang tiền 
hốc và có hốc nhỏ. Vì vậy, AMH đại diện cho 
tổng số lượng noãn nguyên thuỷ của phụ nữ ở 
một thời điểm. AFC là số nang thứ cấp được 
đếm vào đầu chu kỳ kinh nguyệt khi các nang 
nguyên thuỷ phát triển đến giai đoạn nang có 
hốc lớn từ 2–10 mm. AFC thường được xem là 
một dấu ấn sinh học trực tiếp của dự trữ buồng 
trứng, nhưng thật ra, AFC không bao gồm các 
nang noãn nguyên thủy, sơ cấp và thứ cấp nhỏ, 
mà AFC chỉ phản ánh số nang noãn thứ cấp có 
khả năng đáp ứng với kích thích của FSH. 
Nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan (2014) cho 
thấy AMH và AFC có giá trị tiên lượng rất tốt và 
AMH tiên lượng tốt hơn AFC trong dự đoán 
đáp ứng buồng trứng(2). Trong thực tế lâm sàng, 
AMH và AFC thường được dùng để định liều 
FSH sử dụng ban đầu trong kích thích buồng 
trứng(1). 
AMH và AFC thường có mối tương quan 
thuận với nhau và với đáp ứng buồng trứng. 
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có sự bất 
tương đồng giữa giá trị của AMH và AFC, nghĩa 
là AMH bình thường nhưng AFC thấp và ngược 
lại. Nghiên cứu của Zhang Y (2019) trên 1121 
bệnh nhân ghi nhận AFC dự đoán đáp ứng kém 
tốt hơn AMH khi có sự bất tương đồng giữa 
AMH và AFC, tức dự đoán chọc hút 3 noãn(3). 
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời 
câu hỏi: “Trong các trường hợp có sự bất đồng 
giữa AMH và AFC, dấu ấn sinh học nào chính 
xác hơn trong dự đoán đáp ứng buồng trứng 
kém ở các mức độ khác nhau: 3 noãn, không 
nang phát triển và không noãn chọc hút được?” 
Mục tiêu 
So sánh độ chính xác của AMH và AFC 
trong dự đoán đáp ứng kém ở 3 mức độ: <3 
noãn, không nang phát triển, không noãn. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Bệnh nhân hiếm muộn điều trị thụ tinh 
trong ống nghiệm có bất đồng kết quả AMH và 
AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém. 
Nghiên cứu được thực hiện tại Đơn vị Hỗ trợ 
sinh sản IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức, Tp. HCM 
từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2019. 
Tiêu chuẩn nhận 
Bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm. 
Kích thích buồng trứng bằng phác đồ GnRH 
antagonist, khởi động trưởng thành noãn bằng 
hCG. 
Có bất đồng giá trị AMH và AFC trong dự 
đoán đáp ứng kém, được chia làm 2 nhóm: 
Nhóm 1 có AMH <1,25 ng/ml và AFC ≥6 nang, 
Nhóm (2) có AMH ≥1,25 ng/ml và AFC <6 nang. 
Tiêu chuẩn loại 
Xin noãn. 
Khởi động trưởng thành noãn bằng GnRH 
agonist. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 171 
Cách chọn mẫu 
Chọn mẫu toàn bộ. 
Toàn bộ các chu kỳ điều trị thụ tinh ống 
nghiệm thoả tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời 
gian nghiên cứu. 
Phương pháp tiến hành 
Định lượng AMH và đếm AFC 
Được thực hiện vào ngày 2 chu kỳ kinh. Xét 
nghiệm AMH được thực hiện bằng kỹ thuật 
AMH tự động hoàn toàn. Đếm AFC được thực 
hiện bằng siêu âm đầu dò âm đạo với tần số 
7,5MHz. 
Kích thích buồng trứng 
Kích thích buồng trứng được thực hiện với 
phác đồ GnRH đối vận. FSH được sử dụng từ 
ngày thứ 2 của chu kỳ kinh. GnRH đối vận 
được bắt đầu tiêm dưới da bụng từ ngày 5 của 
FSH cho đến ngày khởi động trưởng thành 
noãn hay ngừng chu kỳ. Khởi động trưởng 
thành noãn được thực hiện khi có ít nhất 2 
nang noãn đạt 17 mm. 
Chọc hút noãn 
Được tiến hành 36-40 giờ sau tiêm thuốc gây 
trưởng thành noãn bằng hCG. 
Kết cục chính của nghiên cứu 
Đáp ứng buồng trứng kém ở 3 mức độ ≤3 
noãn, không nang phát triển, không noãn chọc 
hút được. 
Quản lý và phân tích số liệu 
Số liệu điều trị được thu thập bằng phần 
mềm quản lý bệnh viện. Phân tích số liệu được 
thực hiện bằng phần mềm R, phiên bản 3.3.3. 
Giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống 
kê. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 08.1/2020/MĐ-HĐĐĐ, 
ngày 6/4/2020. 
KẾT QUẢ 
Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2019, có 1219 
chu kỳ điều trị thụ tinh ống nghiệm được nhận 
vào nghiên cứu. Trong đó, nhóm 1 có 719 chu kỳ 
và nhóm 2 có 500 chu kỳ. Có 11 bệnh nhân hủy 
chu kỳ do không có nang noãn phát triển, chiếm 
tỉ lệ 0,9%. Số bệnh nhân chọc hút không noãn là 
13, chiếm tỷ lệ 1,1%. 
Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong 
nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1. 
Kết quả kích thích buồng trứng được trình 
bày ở Bảng 2. 
So sánh giá trị của AMH và AFC trong dự 
đoán đáp ứng buồng trứng kém được trình bày 
trong Hình 1. 
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu (n = 1219) 
Tuổi ( SD) 34,78 4,90 34,16 4,67 35,69 5,09 <0,001 
BMI ( SD) 21,36 2,50 21,45 2,60 21,24 2,36 0,166 
AMH ( SD) 1,53 1,18 0,90 0,27 2,42 1,39 <0,001 
AFC ( SD) 7,27 3,56 9,53 2,86 4,01 1,04 <0,001 
Thời gian mong con (min, max) 4,00 (2,0-7,0) 4,0 (2,0-7,0) 4,0 (2,0-7,0) 0,919 
Chỉ định TTON 
Chưa rõ nguyên nhân 194 (15,9%) 101 (14,0%) 93 (18,6%) 
<0,001 
Giảm dự trữ buồng trứng 568 (46,6%) 382 (53,1%) 186 (37,2%) 
Khác 60 (4,9%) 37 (5,1%) 23 (4,6%) 
Lạc nội mạc tử cung 36 (3,0%) 9 (1,3%) 27 (5,4%) 
Vô sinh nam 163 (13,4%) 87 (12,1%) 76 (15,2%) 
Rối loạn phóng noãn 13 (1,1%) 3 (0,4%) 10 (2,0%) 
Yếu tố ống dẫn trứng 185 (15,2%) 100 (13,9%) 85 (17,0%) 
Bảng 2: Kết quả kích thích buồng trứng (n=1219) 
Tổng liều FSH 3.129,14 (747,76) 3.047,40 698,68 3.246,68 799,33 <0,001 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 172 
Nồng độ E2 ngày tiêm hCG 2.859,76 (3.383,03) 2.675,85 3.307,03 3.125,44 3.476,16 0,024 
Nồng độ P4 ngày tiêm hCG 0,95 (1,49) 0,90 1,65 1,01 1,22 0,231 
Nang > 12mm 7,0 (5,0-9,0) 7,0 (5,0-9,0) 6,0 (4,0-9,0) 0,005 
Nang > 14mm 5,0 (3,0-7,0) 5,0 (4,0-7,0) 5,0 (3,0-7,0) 0,008 
Số noãn 7,0 (4,0-9,0) 7,0 (5,0-9,0) 6,0 (4,0-9,0) 0,219 
Tỷ lệ chọc hút 3 noãn (n, %) 195 (16,0) 102 (14,2) 93 (18,6) 0,047 
Không nang (n, %) 11 (0,9) 9 (1,3%) 2 (0,4%) 0,215 
Không noãn (n, %) 13 (1,1) 10 (1,4%) 3 (0,6%) 0,299 
Số noãn trưởng thành 5,0 (3,0-8,0) 5,0 (3,0-8,0) 5,0 (3,0-8,0) 0,147 
Số noãn thụ tinh 4,0 (2,0-6,0) 4,0 (2,0-6,0) 3,0 (2,0-6,0) 0,083 
Số phôi 3,0 (2,0-5,0) 3,0 (2,0-5,0) 3,0 (2,0-5,0) 0,495 
Số phôi tốt 2,0 (1,0, 3,0) 2,0 (1,0-3,0) 2,0 (1,0-3,0) 0,529 
Hình 1: So sánh diện tích dưới đường cong ROC (AUC) của AMH và AFC trong dự đoán 3 noãn, không 
nang phát triển và không noãn chọc hút được 
BÀN LUẬN 
AMH tương quan tốt với AFC trong dự 
đoán dự trữ buồng trứng và tiên lượng đáp ứng 
buồng trứng. Sự tương đồng này được ghi nhận 
trong rất nhiều nghiên cứu. Thực tế, có những 
trường hợp có sự bất tương đồng giữa hai dấu 
ấn sinh học trên. Nghiên cứu của Zhang Y (2019) 
ghi nhận tỷ lệ bất tương đồng là 18,11%(3). 
Về đặc điểm bệnh nhân, tương tự như 
nghiên cứu của Zhang Y, nghiên cứu của chúng 
tôi ghi nhận nhóm bệnh nhân có AMH bình 
thường nhưng AFC thấp có tuổi lớn hơn nhóm 
ngược lại. Điều này có thể lý giải do hiện tượng 
chiêu mộ ban đầu từ giai đoạn nang nguyên 
thủy đến nang thứ cấp nhỏ không hiệu quả ở 
nhóm bệnh nhân lớn tuổi, dù số lượng nang 
noãn nguyên thủy dự trữ vẫn còn. Về đặc điểm 
kích thích buồng trứng, nhóm có AMH bình 
thường nhưng AFC thấp dùng nhiều thuốc FSH 
hơn nhóm có AMH thấp và AFC bình thường. 
Điều này có thể do tác động của tuổi lớn trong 
việc đáp ứng buồng trứng cũng như bác sĩ lâm 
sàng thường có khuynh hướng điều chỉnh liều 
thuốc cao hơn cho bệnh nhân lớn tuổi hơn, dù 
cùng đáp ứng kém như nhau. 
Về đáp ứng buồng trứng, nghiên cứu này 
ghi nhận tỷ lệ đáp ứng kém ≤3 noãn là 16%, hơi 
cao hơn nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan và 
Võ Minh Tuấn (2014) là 13,8%(Error! Reference source not 
found.) và thấp hơn nghiên cứu của Zhang Y (2019) 
là 34,4%(3). Tỷ lệ không nang phát triển của 
nghiên cứu này là 0,9% so với Zhang Y (2019) là 
3,4%(3). 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 
để dự đoán 3 noãn chọc hút được, AMH và 
AFC có giá trị tiên lượng kém giống nhau với 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 173 
diện tích dưới đường cong lần lượt là 0,47 và 
0,40. Khác với nghiên cứu này, nghiên cứu của 
Zhang Y lại cho thấy AFC có giá trị tiên lượng 
tốt hơn AMH(3). Sự khác biệt có thể do tiêu 
chuẩn dùng để định nghĩa tiên lượng đáp ứng 
kém khác nhau. Điểm đặc biệt trong nghiên cứu 
của chúng tôi là có phân tích thêm tiên lượng 
đáp ứng kém trầm trọng ở mức độ không nang 
phát triển và không noãn chọc hút được. Điều 
này có giá trị ứng dụng lâm sàng tốt vì có thể tư 
vấn trước kích thích buồng trứng cho các bệnh 
nhân này để họ cân nhắc xin noãn hơn là cố 
gắng kích thích buồng trứng, giúp giảm gánh 
nặng chi phí điều trị và gánh nặng tâm lý. Kết 
quả nghiên cứu này ghi nhận AMH có giá trị 
tiên lượng tốt hơn AFC đối với tình trạng không 
nang phát triển và không noãn chọc hút được. 
Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của 
Vương Thị Ngọc Lan và Võ Minh Tuấn (2014), 
có thể do đối tượng nghiên cứu của 2 nghiên cứu 
có đặc điểm tương đồng(4). 
Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 
Điểm mạnh của nghiên cứu này là cỡ mẫu 
lớn với trên 1219 chu kỳ được phân tích. Ngoài 
ra, giá trị ứng dụng vào thực tế lâm sàng của 
nghiên cứu tốt do có phân tích khả năng tiên 
lượng đáp ứng kém ở các tình trạng ≤3 noãn 
và các tình trạng đáp ứng kém trầm trọng hơn 
như không nang phát triển và không noãn 
chọc hút được. 
Với mục tiêu so sánh độ chính xác của AMH 
và AFC trong chẩn đoán các trường hợp đáp 
ứng kém ở các mức độ 3 noãn, không nang 
phát triển và không noãn chọc hút được, thiết kế 
đoàn hệ hồi cứu và chọn toàn bộ mẫu trong thời 
gian nghiên cứu, tổng cộng 1219 chu kỳ điều trị 
thụ tinh ống nghiệm thỏa tiêu chuẩn nhận bệnh 
được nhận vào nghiên cứu. Với diện tích dưới 
đường cong trong dự đoán đáp ứng buồng 
trứng giữa AMH và AFC lần lượt là: nhóm ≤3 
noãn (0,47 so với 0,40), nhóm không nang phát 
triển (0,76 so với 0,53), nhóm không noãn chọc 
hút (0,73 so với 0,50), trong đó, sai lầm loại 1 là 
0,05, như vậy lực cỡ mẫu cho so sánh diện tích 
dưới đường cong giữa hai dấu ấn sinh học AMH 
và AFC lần lượt là: nhóm ≤3 noãn 31%, nhóm 
không nang phát triển 70%, nhóm không noãn 
chọc hút 89%. Do đó, mẫu của nghiên cứu chưa 
đủ lực để so sánh độ chính xác của AMH và 
AFC để chẩn đoán mức độ đáp ứng kém ≤3 
noãn trong tình huống có sự bất đồng giữa 2 xét 
nghiệm này. 
Hạn chế của nghiên cứu 
Thiết kế hồi cứu nên không kiểm soát được 
yếu tố gây nhiễu chính lên đáp ứng buồng trứng 
là liều thuốc kích thích buồng trứng. Tuy nhiên, 
ở tất cả bệnh nhân, cả AMH và AFC đều được 
thực hiện, do đó, tác động của yếu tố gây nhiễu 
này chỉ ảnh hưởng lên tỉ lệ đáp ứng kém chứ 
không lên mục tiêu của nghiên cứu là so sánh 
giá trị dự đoán của AMH và AFC. 
KẾT LUẬN 
Ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có 
sự bất đồng giữa AMH và AFC trong tiên 
lượng đáp ứng kém, AMH có giá trị tốt hơn 
AFC để dự đoán tình trạng đáp ứng kém trầm 
trọng là không nang phát triển và không noãn 
chọc hút được. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nelson SM (2013). Biomarkers of ovarian response: current and 
future applications. Fertility and sterility, 99(4):963-969. 
2. Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn (2014a). Giá trị của AMH, 
FSH và AFC trong dự đoán đáp ứng kém với kích thích buồng 
trứng thụ tinh trong ống nghiệm. Nghiên cứu Y học, 87(2):15-20. 
3. Zhang Y, Xu Y, Xue Q, Shang J, Yang X, Shan X, Kuai Y, Wang 
S, Zeng C (2019). Discordance between antral follicle counts and 
anti-Müllerian hormone levels in women undergoing in vitro 
fertilization. Reproductive Biology and Endocrinology, 17(1):51. 
4. Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn (2014). So sánh giá trị dự 
đoán của AMH, FSH và AFC đối với đáp ứng kém và huỷ chu 
kỳ do không nang phát triển ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm. 
Phụ Sản, 12(1):28-33. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_cuc_thu_tinh_ong_nghiem_cua_cac_truong_hop_co_su_khong_d.pdf