Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém
Đặt vấn đề: AMH và AFC tương quan thuận với nhau và với số noãn chọc hút được. Ở một số trường
hợp, có sự bất tương đồng giữa AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém, chúng tôi muốn đánh
giá xem dấu ấn sinh học nào có giá trị hơn.
Mục tiêu: So sánh giá trị dự đoán đáp ứng kém của AMH và AFC ở nhóm bệnh nhân có sự bất tương đồng
giữa AMH và AFC.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mỹ
Đức, Tp.HCM. Đối tượng nghiên cứu là nhóm có sự bất đồng giữa AMH và AFC khi dự đoán đáp ứng buồng
trứng kém. Đáp ứng kém là khi có ≤ 3 noãn, hoặc chọc hút không noãn, hoặc không nang phát triển.
Bạn đang xem tài liệu "Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết cục thụ tinh ống nghiệm của các trường hợp có sự không đồng bộ giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 169 KẾT CỤC THỤ TINH ỐNG NGHIỆM CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP CÓ SỰ KHÔNG ĐỒNG BỘ GIỮA AMH VÀ AFC TRONG TIÊN LƯỢNG ĐÁP ỨNG KÉM Lê Long Hồ1, Hoàng Lê Trung Hiếu1, Phạm Dương Toàn2, Vương Thị Ngọc Lan3 TÓM TẮT Đặt vấn đề: AMH và AFC tương quan thuận với nhau và với số noãn chọc hút được. Ở một số trường hợp, có sự bất tương đồng giữa AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém, chúng tôi muốn đánh giá xem dấu ấn sinh học nào có giá trị hơn. Mục tiêu: So sánh giá trị dự đoán đáp ứng kém của AMH và AFC ở nhóm bệnh nhân có sự bất tương đồng giữa AMH và AFC. Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu được thực hiện tại Bệnh viện Mỹ Đức, Tp.HCM. Đối tượng nghiên cứu là nhóm có sự bất đồng giữa AMH và AFC khi dự đoán đáp ứng buồng trứng kém. Đáp ứng kém là khi có ≤ 3 noãn, hoặc chọc hút không noãn, hoặc không nang phát triển. Kết quả: Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2019, có 1219 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu. Giá trị AMH tốt hơn AFC trong dự đoán đáp ứng kém ở mức độ không nang phát triển AUC= 0,76 so với AUC=0,53, p <0,001 và không noãn AUC= 0,73 so với AUC= 0,50, p <0,001). Kết luận: Ở bệnh nhân có sự bất đồng giữa AMH và AFC, AMH có giá trị tốt hơn AFC để dự đoán không nang phát triển và không noãn chọc hút được. Từ khoá: đáp ứng kém, AMH, AFC ABSTRACT IN-VITRO FERTILISATION OUTCOMES OF PATIENTS HAVING A DISCORDANCE BETWEEN AMH AND AFC IN PREDICTING POOR OVARIAN RESPONSE Le Long Ho, Hoang Le Trung Hieu, Pham Duong Toan, Vuong Thi Ngoc Lan * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 169 - 173 Background: Anti-Mullerian Hormone (AMH) correlates well with antral follicle count (AFC) and with the number of oocytes retrieved. In some circumstances, there is a discordance between AMH and AFC in predicting poor response. We want to investigate which biomarker has better predictive value in predicting poor response. Objectives: To compare the predictive value of AMH and AFC to predict poor response in patients having a discordance between AMH and AFC in predicting poor response. Method: A retrospective cohort study was conducted at IVFMD, My Duc Hospital, Ho Chi Minh City. Eligible patients had a discordance between AMH and AFC in predicting poor ovarian response. Poor ovarian response was defined as ≤3 oocytes retrieved, or no oocyte retrieved or no developing follicle. Results: From January 2016 to December 2019, a total of 1219 patients were recruited to the study. AMH has a better predictive value as compared to AFC in predicting poor ovarian response, including no 1Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh 2Trung tâm nghiên cứu HOPE, Bệnh viện Mỹ Đức, TP. Hồ Chí Minh 3Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: BS. Lê Long Hồ ĐT: 0356177147 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 170 developing follicle (AUC = 0.76 versus AUC = 0.53, p <0.001) and no oocyte retrieved (AUC = 0.73 versus AUC = 0.50, p <0.001). Conclusion: In patients having a discordance between AMH and AFC, AMH has a better predictive value than AFC in predicting no developing follicle and no oocyte retrieved. Keywords: poor ovarian response, AMH, AFC ĐẶT VẤN ĐỀ Trong điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, có nhiều yếu tố được dùng để dự đoán đáp ứng buồng trứng như tuổi, FSH cơ bản, AFC và AMH(1). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh AMH và AFC là 2 dấu ấn sinh học có giá trị dự đoán đáp ứng buồng trứng tốt nhất. AMH là một phân tử gồm 2 chuỗi glycoprotein, thuộc nhóm yếu tố tăng trưởng và biệt hóa TGF-β. Hoạt động của AMH được khởi động ngay sau khi nang noãn nguyên thủy được chiêu mộ vào nhóm phát triển và AMH có nhiều nhất ở các nang tiền hốc và có hốc nhỏ. Vì vậy, AMH đại diện cho tổng số lượng noãn nguyên thuỷ của phụ nữ ở một thời điểm. AFC là số nang thứ cấp được đếm vào đầu chu kỳ kinh nguyệt khi các nang nguyên thuỷ phát triển đến giai đoạn nang có hốc lớn từ 2–10 mm. AFC thường được xem là một dấu ấn sinh học trực tiếp của dự trữ buồng trứng, nhưng thật ra, AFC không bao gồm các nang noãn nguyên thủy, sơ cấp và thứ cấp nhỏ, mà AFC chỉ phản ánh số nang noãn thứ cấp có khả năng đáp ứng với kích thích của FSH. Nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan (2014) cho thấy AMH và AFC có giá trị tiên lượng rất tốt và AMH tiên lượng tốt hơn AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng(2). Trong thực tế lâm sàng, AMH và AFC thường được dùng để định liều FSH sử dụng ban đầu trong kích thích buồng trứng(1). AMH và AFC thường có mối tương quan thuận với nhau và với đáp ứng buồng trứng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có sự bất tương đồng giữa giá trị của AMH và AFC, nghĩa là AMH bình thường nhưng AFC thấp và ngược lại. Nghiên cứu của Zhang Y (2019) trên 1121 bệnh nhân ghi nhận AFC dự đoán đáp ứng kém tốt hơn AMH khi có sự bất tương đồng giữa AMH và AFC, tức dự đoán chọc hút 3 noãn(3). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: “Trong các trường hợp có sự bất đồng giữa AMH và AFC, dấu ấn sinh học nào chính xác hơn trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém ở các mức độ khác nhau: 3 noãn, không nang phát triển và không noãn chọc hút được?” Mục tiêu So sánh độ chính xác của AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng kém ở 3 mức độ: <3 noãn, không nang phát triển, không noãn. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhân hiếm muộn điều trị thụ tinh trong ống nghiệm có bất đồng kết quả AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém. Nghiên cứu được thực hiện tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức, Tp. HCM từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2019. Tiêu chuẩn nhận Bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm. Kích thích buồng trứng bằng phác đồ GnRH antagonist, khởi động trưởng thành noãn bằng hCG. Có bất đồng giá trị AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng kém, được chia làm 2 nhóm: Nhóm 1 có AMH <1,25 ng/ml và AFC ≥6 nang, Nhóm (2) có AMH ≥1,25 ng/ml và AFC <6 nang. Tiêu chuẩn loại Xin noãn. Khởi động trưởng thành noãn bằng GnRH agonist. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 171 Cách chọn mẫu Chọn mẫu toàn bộ. Toàn bộ các chu kỳ điều trị thụ tinh ống nghiệm thoả tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu. Phương pháp tiến hành Định lượng AMH và đếm AFC Được thực hiện vào ngày 2 chu kỳ kinh. Xét nghiệm AMH được thực hiện bằng kỹ thuật AMH tự động hoàn toàn. Đếm AFC được thực hiện bằng siêu âm đầu dò âm đạo với tần số 7,5MHz. Kích thích buồng trứng Kích thích buồng trứng được thực hiện với phác đồ GnRH đối vận. FSH được sử dụng từ ngày thứ 2 của chu kỳ kinh. GnRH đối vận được bắt đầu tiêm dưới da bụng từ ngày 5 của FSH cho đến ngày khởi động trưởng thành noãn hay ngừng chu kỳ. Khởi động trưởng thành noãn được thực hiện khi có ít nhất 2 nang noãn đạt 17 mm. Chọc hút noãn Được tiến hành 36-40 giờ sau tiêm thuốc gây trưởng thành noãn bằng hCG. Kết cục chính của nghiên cứu Đáp ứng buồng trứng kém ở 3 mức độ ≤3 noãn, không nang phát triển, không noãn chọc hút được. Quản lý và phân tích số liệu Số liệu điều trị được thu thập bằng phần mềm quản lý bệnh viện. Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm R, phiên bản 3.3.3. Giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số 08.1/2020/MĐ-HĐĐĐ, ngày 6/4/2020. KẾT QUẢ Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2019, có 1219 chu kỳ điều trị thụ tinh ống nghiệm được nhận vào nghiên cứu. Trong đó, nhóm 1 có 719 chu kỳ và nhóm 2 có 500 chu kỳ. Có 11 bệnh nhân hủy chu kỳ do không có nang noãn phát triển, chiếm tỉ lệ 0,9%. Số bệnh nhân chọc hút không noãn là 13, chiếm tỷ lệ 1,1%. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1. Kết quả kích thích buồng trứng được trình bày ở Bảng 2. So sánh giá trị của AMH và AFC trong dự đoán đáp ứng buồng trứng kém được trình bày trong Hình 1. Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu (n = 1219) Tuổi ( SD) 34,78 4,90 34,16 4,67 35,69 5,09 <0,001 BMI ( SD) 21,36 2,50 21,45 2,60 21,24 2,36 0,166 AMH ( SD) 1,53 1,18 0,90 0,27 2,42 1,39 <0,001 AFC ( SD) 7,27 3,56 9,53 2,86 4,01 1,04 <0,001 Thời gian mong con (min, max) 4,00 (2,0-7,0) 4,0 (2,0-7,0) 4,0 (2,0-7,0) 0,919 Chỉ định TTON Chưa rõ nguyên nhân 194 (15,9%) 101 (14,0%) 93 (18,6%) <0,001 Giảm dự trữ buồng trứng 568 (46,6%) 382 (53,1%) 186 (37,2%) Khác 60 (4,9%) 37 (5,1%) 23 (4,6%) Lạc nội mạc tử cung 36 (3,0%) 9 (1,3%) 27 (5,4%) Vô sinh nam 163 (13,4%) 87 (12,1%) 76 (15,2%) Rối loạn phóng noãn 13 (1,1%) 3 (0,4%) 10 (2,0%) Yếu tố ống dẫn trứng 185 (15,2%) 100 (13,9%) 85 (17,0%) Bảng 2: Kết quả kích thích buồng trứng (n=1219) Tổng liều FSH 3.129,14 (747,76) 3.047,40 698,68 3.246,68 799,33 <0,001 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 172 Nồng độ E2 ngày tiêm hCG 2.859,76 (3.383,03) 2.675,85 3.307,03 3.125,44 3.476,16 0,024 Nồng độ P4 ngày tiêm hCG 0,95 (1,49) 0,90 1,65 1,01 1,22 0,231 Nang > 12mm 7,0 (5,0-9,0) 7,0 (5,0-9,0) 6,0 (4,0-9,0) 0,005 Nang > 14mm 5,0 (3,0-7,0) 5,0 (4,0-7,0) 5,0 (3,0-7,0) 0,008 Số noãn 7,0 (4,0-9,0) 7,0 (5,0-9,0) 6,0 (4,0-9,0) 0,219 Tỷ lệ chọc hút 3 noãn (n, %) 195 (16,0) 102 (14,2) 93 (18,6) 0,047 Không nang (n, %) 11 (0,9) 9 (1,3%) 2 (0,4%) 0,215 Không noãn (n, %) 13 (1,1) 10 (1,4%) 3 (0,6%) 0,299 Số noãn trưởng thành 5,0 (3,0-8,0) 5,0 (3,0-8,0) 5,0 (3,0-8,0) 0,147 Số noãn thụ tinh 4,0 (2,0-6,0) 4,0 (2,0-6,0) 3,0 (2,0-6,0) 0,083 Số phôi 3,0 (2,0-5,0) 3,0 (2,0-5,0) 3,0 (2,0-5,0) 0,495 Số phôi tốt 2,0 (1,0, 3,0) 2,0 (1,0-3,0) 2,0 (1,0-3,0) 0,529 Hình 1: So sánh diện tích dưới đường cong ROC (AUC) của AMH và AFC trong dự đoán 3 noãn, không nang phát triển và không noãn chọc hút được BÀN LUẬN AMH tương quan tốt với AFC trong dự đoán dự trữ buồng trứng và tiên lượng đáp ứng buồng trứng. Sự tương đồng này được ghi nhận trong rất nhiều nghiên cứu. Thực tế, có những trường hợp có sự bất tương đồng giữa hai dấu ấn sinh học trên. Nghiên cứu của Zhang Y (2019) ghi nhận tỷ lệ bất tương đồng là 18,11%(3). Về đặc điểm bệnh nhân, tương tự như nghiên cứu của Zhang Y, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nhóm bệnh nhân có AMH bình thường nhưng AFC thấp có tuổi lớn hơn nhóm ngược lại. Điều này có thể lý giải do hiện tượng chiêu mộ ban đầu từ giai đoạn nang nguyên thủy đến nang thứ cấp nhỏ không hiệu quả ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi, dù số lượng nang noãn nguyên thủy dự trữ vẫn còn. Về đặc điểm kích thích buồng trứng, nhóm có AMH bình thường nhưng AFC thấp dùng nhiều thuốc FSH hơn nhóm có AMH thấp và AFC bình thường. Điều này có thể do tác động của tuổi lớn trong việc đáp ứng buồng trứng cũng như bác sĩ lâm sàng thường có khuynh hướng điều chỉnh liều thuốc cao hơn cho bệnh nhân lớn tuổi hơn, dù cùng đáp ứng kém như nhau. Về đáp ứng buồng trứng, nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ đáp ứng kém ≤3 noãn là 16%, hơi cao hơn nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan và Võ Minh Tuấn (2014) là 13,8%(Error! Reference source not found.) và thấp hơn nghiên cứu của Zhang Y (2019) là 34,4%(3). Tỷ lệ không nang phát triển của nghiên cứu này là 0,9% so với Zhang Y (2019) là 3,4%(3). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy để dự đoán 3 noãn chọc hút được, AMH và AFC có giá trị tiên lượng kém giống nhau với Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 173 diện tích dưới đường cong lần lượt là 0,47 và 0,40. Khác với nghiên cứu này, nghiên cứu của Zhang Y lại cho thấy AFC có giá trị tiên lượng tốt hơn AMH(3). Sự khác biệt có thể do tiêu chuẩn dùng để định nghĩa tiên lượng đáp ứng kém khác nhau. Điểm đặc biệt trong nghiên cứu của chúng tôi là có phân tích thêm tiên lượng đáp ứng kém trầm trọng ở mức độ không nang phát triển và không noãn chọc hút được. Điều này có giá trị ứng dụng lâm sàng tốt vì có thể tư vấn trước kích thích buồng trứng cho các bệnh nhân này để họ cân nhắc xin noãn hơn là cố gắng kích thích buồng trứng, giúp giảm gánh nặng chi phí điều trị và gánh nặng tâm lý. Kết quả nghiên cứu này ghi nhận AMH có giá trị tiên lượng tốt hơn AFC đối với tình trạng không nang phát triển và không noãn chọc hút được. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Vương Thị Ngọc Lan và Võ Minh Tuấn (2014), có thể do đối tượng nghiên cứu của 2 nghiên cứu có đặc điểm tương đồng(4). Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu Điểm mạnh của nghiên cứu này là cỡ mẫu lớn với trên 1219 chu kỳ được phân tích. Ngoài ra, giá trị ứng dụng vào thực tế lâm sàng của nghiên cứu tốt do có phân tích khả năng tiên lượng đáp ứng kém ở các tình trạng ≤3 noãn và các tình trạng đáp ứng kém trầm trọng hơn như không nang phát triển và không noãn chọc hút được. Với mục tiêu so sánh độ chính xác của AMH và AFC trong chẩn đoán các trường hợp đáp ứng kém ở các mức độ 3 noãn, không nang phát triển và không noãn chọc hút được, thiết kế đoàn hệ hồi cứu và chọn toàn bộ mẫu trong thời gian nghiên cứu, tổng cộng 1219 chu kỳ điều trị thụ tinh ống nghiệm thỏa tiêu chuẩn nhận bệnh được nhận vào nghiên cứu. Với diện tích dưới đường cong trong dự đoán đáp ứng buồng trứng giữa AMH và AFC lần lượt là: nhóm ≤3 noãn (0,47 so với 0,40), nhóm không nang phát triển (0,76 so với 0,53), nhóm không noãn chọc hút (0,73 so với 0,50), trong đó, sai lầm loại 1 là 0,05, như vậy lực cỡ mẫu cho so sánh diện tích dưới đường cong giữa hai dấu ấn sinh học AMH và AFC lần lượt là: nhóm ≤3 noãn 31%, nhóm không nang phát triển 70%, nhóm không noãn chọc hút 89%. Do đó, mẫu của nghiên cứu chưa đủ lực để so sánh độ chính xác của AMH và AFC để chẩn đoán mức độ đáp ứng kém ≤3 noãn trong tình huống có sự bất đồng giữa 2 xét nghiệm này. Hạn chế của nghiên cứu Thiết kế hồi cứu nên không kiểm soát được yếu tố gây nhiễu chính lên đáp ứng buồng trứng là liều thuốc kích thích buồng trứng. Tuy nhiên, ở tất cả bệnh nhân, cả AMH và AFC đều được thực hiện, do đó, tác động của yếu tố gây nhiễu này chỉ ảnh hưởng lên tỉ lệ đáp ứng kém chứ không lên mục tiêu của nghiên cứu là so sánh giá trị dự đoán của AMH và AFC. KẾT LUẬN Ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có sự bất đồng giữa AMH và AFC trong tiên lượng đáp ứng kém, AMH có giá trị tốt hơn AFC để dự đoán tình trạng đáp ứng kém trầm trọng là không nang phát triển và không noãn chọc hút được. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nelson SM (2013). Biomarkers of ovarian response: current and future applications. Fertility and sterility, 99(4):963-969. 2. Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn (2014a). Giá trị của AMH, FSH và AFC trong dự đoán đáp ứng kém với kích thích buồng trứng thụ tinh trong ống nghiệm. Nghiên cứu Y học, 87(2):15-20. 3. Zhang Y, Xu Y, Xue Q, Shang J, Yang X, Shan X, Kuai Y, Wang S, Zeng C (2019). Discordance between antral follicle counts and anti-Müllerian hormone levels in women undergoing in vitro fertilization. Reproductive Biology and Endocrinology, 17(1):51. 4. Vương Thị Ngọc Lan, Võ Minh Tuấn (2014). So sánh giá trị dự đoán của AMH, FSH và AFC đối với đáp ứng kém và huỷ chu kỳ do không nang phát triển ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm. Phụ Sản, 12(1):28-33. Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
ket_cuc_thu_tinh_ong_nghiem_cua_cac_truong_hop_co_su_khong_d.pdf

