Kết cục thai kỳ trên phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang được gây phóng noãn bằng letrozole (Femara®)

Đặt vấn đề: Letrozole được khuyến cáo là thuốc điều trị đầu tay trong gây phóng noãn ở bệnh nhân PCOS

(ESRHE 2018). Chưa có nghiên cứu về các kết cục thai kỳ trên phụ nữ PCOS Việt Nam được gây phóng noãn

bằng letrozole (Femara®) cho đến hiện tại.

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của Letrozole thông qua các kết cục thai kỳ của mẹ và thai ở phụ nữ PCOS

Việt Nam.

Đối tượng - Phương pháp: Báo cáo loạt ca gồm 22 phụ nữ PCOS trong độ tuổi sinh sản, hiếm muộn không

do nguyên nhân khác, được gây phóng noãn bằng Femara® và giao hợp tự nhiên. Với liều khởi đầu 5mg/ngày

vào ngày 2 chu kì kinh, trong 5 ngày. Sau đó, cho phóng noãn bằng hCG 10.000UI khi có nang noãn d ≥18 mm

trên siêu âm. Nếu thất bại, chu kỳ sau dùng liều 7.5 mg/ngày đến khi có thai và theo dõi kết cục.

Kết quả: 22 phụ nữ có độ tuổi trung bình 28,55 ± 2,59 tuổi; BMI trung bình 21,73 ± 2,49 kg/m2; thời gian

vô sinh trung bình 28,33 ± 12,01 tháng và AMH 7,70 ± 4,05 ng/mL. Về phía thai, 3 ca (13,64%) sẩy thai sớm, 19

thai tiến triển: 17 (89,47%) trẻ đủ tháng và 2 (10,53%) trẻ non tháng, tỉ lệ sinh sống 86.36% và không có trẻ

nằm dưỡng nhi. Các xét nghiệm tầm soát lệch bội bình thường, trẻ nặng trung bình 2878,95 ± 442,28 grams và

không có trường hợp tử vong khi theo dõi. Có 1 (5,3%) trẻ dị tật bẩm sinh: Thoát vị màng tủy, hiện tại bé khoẻ

mạnh. Về phía mẹ, không trường hợp tiền sản giật, 8/19 mắc đái tháo đường thai kì, 68% mổ lấy thai.

Kết luận: Tỉ lệ sẩy thai cũng như dị tật bẩm sinh cao hơn những nghiên cứu khác, có lẽ do cỡ mẫu nhỏ

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết cục thai kỳ trên phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang được gây phóng noãn bằng letrozole (Femara®)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết cục thai kỳ trên phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang được gây phóng noãn bằng letrozole (Femara®)

Kết cục thai kỳ trên phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang được gây phóng noãn bằng letrozole (Femara®)
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 204 
KẾT CỤC THAI KỲ TRÊN PHỤ NỮ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG 
ĐƯỢC GÂY PHÓNG NOÃN BẰNG LETROZOLE (FEMARA®) 
Thân Trọng Thạch1, Nguyễn Hà Ngọc Thiên Thanh2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Letrozole được khuyến cáo là thuốc điều trị đầu tay trong gây phóng noãn ở bệnh nhân PCOS 
(ESRHE 2018). Chưa có nghiên cứu về các kết cục thai kỳ trên phụ nữ PCOS Việt Nam được gây phóng noãn 
bằng letrozole (Femara®) cho đến hiện tại. 
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của Letrozole thông qua các kết cục thai kỳ của mẹ và thai ở phụ nữ PCOS 
Việt Nam. 
Đối tượng - Phương pháp: Báo cáo loạt ca gồm 22 phụ nữ PCOS trong độ tuổi sinh sản, hiếm muộn không 
do nguyên nhân khác, được gây phóng noãn bằng Femara® và giao hợp tự nhiên. Với liều khởi đầu 5mg/ngày 
vào ngày 2 chu kì kinh, trong 5 ngày. Sau đó, cho phóng noãn bằng hCG 10.000UI khi có nang noãn d ≥18 mm 
trên siêu âm. Nếu thất bại, chu kỳ sau dùng liều 7.5 mg/ngày đến khi có thai và theo dõi kết cục. 
Kết quả: 22 phụ nữ có độ tuổi trung bình 28,55 ± 2,59 tuổi; BMI trung bình 21,73 ± 2,49 kg/m2; thời gian 
vô sinh trung bình 28,33 ± 12,01 tháng và AMH 7,70 ± 4,05 ng/mL. Về phía thai, 3 ca (13,64%) sẩy thai sớm, 19 
thai tiến triển: 17 (89,47%) trẻ đủ tháng và 2 (10,53%) trẻ non tháng, tỉ lệ sinh sống 86.36% và không có trẻ 
nằm dưỡng nhi. Các xét nghiệm tầm soát lệch bội bình thường, trẻ nặng trung bình 2878,95 ± 442,28 grams và 
không có trường hợp tử vong khi theo dõi. Có 1 (5,3%) trẻ dị tật bẩm sinh: Thoát vị màng tủy, hiện tại bé khoẻ 
mạnh. Về phía mẹ, không trường hợp tiền sản giật, 8/19 mắc đái tháo đường thai kì, 68% mổ lấy thai. 
Kết luận: Tỉ lệ sẩy thai cũng như dị tật bẩm sinh cao hơn những nghiên cứu khác, có lẽ do cỡ mẫu nhỏ. 
Từ khoá: gây phóng noãn, hội chứng buồng trứng đa nang, tỷ lệ trẻ sinh sống 
ABSTRACT 
PREGNANCY OUTCOMES FOLLOWING OVULATION INDUCTION 
WITH LETROZOLE (FEMARA®) IN WOMEN WITH POLYCYSTIC OVARY SYNDROME 
Than Trong Thach, Nguyen Ha Ngoc Thien Thanh 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 204 - 210 
Background: Letrozole is recommended as first line pharmacological treatment for ovulation induction in 
women with PCOS (ESRHE 2018). To date, there is no data about pregnancy outcomes of Vietnamese PCOS 
following ovulation induction by letrozole (Femara®). 
Objectives: To assess the effects of Letrozole to the fetus and the mother through pregnancy outcomes. 
Methods: This case series includes 22 PCOS women (Rotterdam 2003 criteria) in reproductive age, infertile 
not due to other causes, normal semen test, were performed ovulation induction with Femara® and natural 
intercourse. Regimen used starting dose 5mg/day on day 2 of menstrual cycle for 5 days. Thereafter, follow-up 
sonography was performed and hCG injection was administered when the dominant follicle had a mean 
diameter ≥18 mm with 10,000 IU. If it failed, next cycle would be conducted with increased dose 7.5mg/day 
until pregnancy was achieved; subsequently, the outcomes would be monitored. 
Results: A total of 22 women had mean age 28.55 ± 2.59 years old; mean BMI 21.73 ± 2.49 kg/m2; mean 
1Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bộ môn Phụ Sản, Đại học Tân Tạo 
Tác giả liên lạc: BS. Thân Trọng Thạch ĐT: 0908400040 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 205 
infertile time 28.33 ± 12.01 months and mean AMH 7.70 ± 4.05 ng/mL. Data regarding fetal outcomes showed 
that there were 3 (13.64%) early miscarriages and 19 live births including 17 (89.47%) term deliveries and 2 
preterm labors. The survival rate was 86.36% and no case was administered to NICU. All prenatal tests were 
normal. Mean birthweight was 2878,95 ± 442,28 grams. There was no neonatal death. One case of meningocele 
was reported (5.3%) and follow-up monitoring revealed no associated complications. About the mother, 
gestational diabetes was diagnosed in 8 cases and no case of preeclampsia was reported. The C-section delivery 
rate was 68%. 
Conclusions: The rate of spontaneous abortion and congenital anomalies was higher than other researches, 
which may be attributed to small sample size. 
Keywords: ovarian induction, polycystic ovary syndrome, live birth rates 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS: 
polycystic ovarian syndrome) là bệnh lý nội tiết 
phổ biến nhất ở nữ giới với tỉ lệ khoảng 8-13% 
dân số trong độ tuổi sinh sản. Mặc dù là nguyên 
nhân hàng đầu gây hiếm muộn và những kết 
cục sản khoa xấu, 70% phụ nữ PCOS vẫn chưa 
được chẩn đoán(1). Phổ biến nhất hiện nay là tiêu 
chuẩn Rotterdam khi hiện diện ít nhất 2/3 bất 
thường sau bao gồm 1) rối loạn phóng noãn, 2) 
cường androgen trên lâm sàng hoặc cận lâm 
sàng và 3) hình ảnh buồng trứng đa nang trên 
siêu âm ngã âm đạo(2). 
Trong quản lý PCOS có tình trạng hiếm 
muộn, đã có nhiều phương án gây phóng noãn 
được nghiên cứu trên lâm sàng, trong đó sử 
dụng ức chế men thơm hoá aromatase (AI: 
aromatase inhibitor) cụ thể là biệt dược 
Letrozole với tên thương mại trên thị trường 
Femara® của hãng dược phẩm Novartis cho 
mục đích gây phóng noãn được đẩy mạnh 
nghiên cứu và đã có được những kết quả khả 
quan. Vì điều này, hướng dẫn lâm sàng về quản 
lý phụ nữ PCOS của Hiệp hội sinh sản và phôi 
học châu Âu (ESHRE - The European Society of 
Human Reproduction and Embryology) năm 
2018 nhấn mạnh việc sử dụng Letrozole như 
một thuốc điều trị đầu tay cho gây phóng noãn ở 
phụ nữ có PCOS(1). 
Letrozole đã được sử dụng để gây phóng 
noãn và tỏ ra hiệu quả vào cuối những năm 
1990(3), tuy nhiên một nghiên cứu của Biljan MM 
tại hội nghị ASRM năm 2007 khi so sánh 130 thai 
kì letrozole (20 thai kì đa thai) với 36.000 thai kì 
tự nhiên nguy cơ thấp, tuy ghi nhận không có sự 
khác biệt có ý nghĩa trong tỉ lệ chung của bất 
thường lớn, nhưng nhóm tác giả có nhấn mạnh 
letrozole làm tăng nguy cơ bất thường xương và 
tim ở trẻ. Có nhiều điểm chưa thoả đáng cần lưu 
ý ở nghiên cứu (NC) này: đầu tiên là không có 
sự đồng nhất giữa 2 nhóm nghiên cứu: nhóm 
nghiên cứu là nhóm dân số vô sinh có nguy cơ 
cao sinh con dị tật bẩm sinh dù thụ thai tự nhiên 
hay có điều trị vô sinh so sánh với nhóm dân số 
nguy cơ thấp thụ thai tự nhiên. Thứ hai, tuổi 
trung bình của nhóm chứng (30,5 tuổi) thấp hơn 
nhóm letrozole (35,2 tuổi). Thứ ba, cỡ mẫu của 
hai nhóm nghiên cứu chênh lệch quá lớn (130 và 
36.000)(4). Có thể thấy rằng, những lý do trên có 
thể khiến tỉ lệ dị tật thai nhi tăng cao ở nhóm 
letrozole. Sau đó, nhiều nghiên cứu RCT đã 
được tiến hành. Đối với phụ nữ PCOS, Legro RS 
năm 2014 ghi nhận không có sự khác biệt về tỉ lệ 
dị tật bẩm sinh (DTBS), thai lưu và tử vong sơ 
sinh khi dùng Letrozole hay CC để gây phóng 
noãn(5). Tương tự, khi so sánh tỷ lệ dị tật bẩm 
sinh khi gây phóng noãn trên 900 phụ nữ hiếm 
muộn không rõ nguyên nhân giữa 3 nhóm: 
Letrozole, CC và Gonadotropin cũng không ghi 
nhận sự khác biệt về tỷ lệ này. Và một tổng quan 
hệ thống và phân tích gộp trên nhóm dân số rối 
loạn phóng noãn do PCOS và không rõ nguyên 
nhân (WHO II) cũng cho rằng sử dụng letrozole 
không làm tăng tỷ lệ DTBS(6). 
Trong sự hiểu biết của chúng tôi, chưa có 
nhiều nghiên cứu đánh giá một cách chi tiết và 
đầy đủ về các kết cục thai kỳ ở những đối tượng 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 206 
PCOS được điều trị với Letrozole. Tại Việt Nam 
cũng như nhiều nước khác trên thế giới, 
Letrozole vẫn chưa được chính thức dán nhãn 
cho điều trị gây phóng noãn do nguyên nhân rối 
loạn phóng noãn, cũng như những thông tin về 
kết cục thai kỳ trên những phụ nữ PCOS được 
gây phóng noãn bằng Letrozole tại Việt Nam 
vẫn chưa được thể hiện đầy đủ. Do đó, chúng tôi 
tiến hành báo cáo loạt ca này để đánh giá hiệu 
quả của Letrozole thông qua khảo sát chi tiết các 
kết cục thai kỳ của mẹ và thai. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
22 phụ nữ đến khám tại Phòng khám (PK) 
Sản phụ khoa – Hiếm muộn Mẹ & Bé (Quận 6, 
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam) từ tháng 
01/2017 – 01/2020. 
Các đối tượng đều ký đồng thuận tham gia 
nghiên cứu. 
Tiêu chí nhận 
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (từ 18 đến 40 
tuổi); mắc hội chứng buồng trứng đa nang 
(PCOS) đã được chẩn đoán theo tiêu chuẩn 
Rotterdam 2003; hiếm muộn với các khảo sát 
hiếm muộn bình thường, tinh dịch đồ bình 
thường (theo tiêu chuẩn WHO 2010) và hình 
ảnh trên phim hSG bình thường; được gây 
phóng noãn bằng Femara® và mang thai (có 
dấu hiệu thai sinh hóa và thai lâm sàng) nhờ 
giao hợp tự nhiên. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Tiêu chí loại trừ gồm những phụ nữ hiếm 
muộn PCOS đã được dùng Femara® nhưng 
không mang thai sau giao hợp tự nhiên hoặc 
những ca bị mất liên lạc. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Báo cáo loạt ca tiến cứu. 
Phương pháp tiến hành 
Femara® dùng gây phóng noãn trong báo cáo 
được dùng liều khởi đầu 5mg/ngày vào ngày 2 
của chu kì kinh và dùng trong 5 ngày. Sau đó, 
đến ngày 8 của chu kì, những phụ nữ này sẽ 
được siêu âm kiểm tra noãn, khi nang noãn có 
đường kính lớn hơn hoặc bằng 12 mm thì bắt 
đầu siêu âm cách 2, 3 ngày cho đến khi nang trội 
đạt kích thước d ≥18 mm thì được cho rụng 
trứng bằng hCG 10,000UI. Nếu không thấy nang 
trội thì chu kì đó sẽ bị hủy và tiếp tục chu kì sau 
với liều Femera® tăng lên 7,5 mg/ngày. Sau khi 
được gây phóng noãn, những phụ nữ này sẽ 
thực hiện giao hợp tự nhiên. 
Kết cục nghiên cứu 
Về phía thai 
(1) Sẩy thai sớm: bệnh nhân có triệu chứng 
và dấu hiệu của sẩy thai ≤12 tuần. 
(2) Trẻ sinh non: Trẻ sinh ra ở tuổi thai <37 
tuần. 
(3) Trẻ sinh đủ tháng: Trẻ sinh ra ở tuổi thai 
≥37 tuần. 
(4) Trẻ sinh sống: Trẻ sinh ra còn sống. 
(5) Trẻ sinh sống sau 1 năm: Trẻ sinh ra còn 
sống sau 1 năm. 
(6) Cân nặng trẻ lúc sinh: Cân nặng của trẻ lúc 
sinh. 
(7) Trẻ bất thường di truyền: Trẻ có bất 
thường di truyền thông qua đánh giá trước sinh 
bằng combined test và xét nghiệm chẩn đoán 
trước sinh không xâm lấn (Noninvasive prenatal 
testing-NIPT). 
(8) Trẻ sinh sống mắc dị tật bẩm sinh: Trẻ 
sinh ra sống mắc dị tật bẩm sinh. 
Về phía mẹ 
(9) Đái tháo đường thai kì: xác định bằng test 
dung nạp 75g glucose đường uống – OGTT 24-
28 tuần tuổi thai. 
(10) Tiền sản giật: tiêu chuẩn ACOG 2016. 
(11) Mổ lấy thai: Sản phụ được mổ lấy thai. 
Phương pháp thống kê 
Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được tổng 
hợp và nhập, phân tích thông qua phần mềm 
Microsoft Excel. 
Phương pháp tính tần số, tính tỉ lệ được sử 
dụng để mô tả các biến định tính. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 207 
Phương pháp tính số trung bình được sử 
dụng để mô tả các biến định lượng. 
KẾT QUẢ 
Những phụ nữ trong báo cáo có độ tuổi 
trung bình 28,55 ± 2,59 tuổi; BMI trung bình là 
21,73 ± 2,49 kg/m2; có thời gian hiếm muộn trung 
bình là 28,33 ± 12,01 tháng và AMH trước khi 
dùng Femara® là 7,70 ± 4,05 ng/mL (Bảng 1). 
Bảng 1: Giá trị trung bình về tuổi, BMI, thời gian vô 
sinh và AMH trước khi dùng Femara® của người mẹ 
 Mean ± SD 
Tuổi 28,55 ± 2,59 
BMI (kg/m2) 21,73 ± 2,49 
Thời gian vô sinh (tháng) 28,33 ± 12,01 
AMH trước khi dùng thuốc (ng/mL) 7,70 ± 4,05 
BMI: body mass index AMH: anti-müllerian hormone 
SD: standard deviation 
Bảng 2: Kết quả báo cáo loạt ca 
 Giá trị 
Về phía thai: 
Sẩy thai sớm 13,64% 
Bất thường di truyền 0% 
Sinh đủ tháng 89,47% 
Sinh non tháng 10,53% 
Cân nặng trung bình lúc sinh 2878,95 ± 442,28 grams 
Nằm dưỡng nhi 0% 
Tỷ lệ trẻ sinh sống 86,36% 
Sinh sống sau 1 năm (tại thời 
điểm báo cáo) 
63,16% 
Trẻ mắc dị tật lúc sinh 5,3% 
Về phía mẹ: 
Đái tháo đường thai kì 42,11% 
Tiền sản giật 0% 
Mổ lấy thai 68% 
Về phía thai, trong 22 ca báo cáo, có 3 ca 
(13,64%) sẩy thai sớm, còn lại 19 ca tiếp tục theo 
dõi cho đến lúc sinh: có 17/19 (89,47%) trẻ sinh 
đủ tháng và 2/19 (10,53%) trẻ sinh non tháng với 
tỉ lệ trẻ sinh sống nói chung là 86,36% và không 
có trẻ nào phải nằm dưỡng nhi. Trong xét 
nghiệm tầm soát trước sinh, không có ca nào bất 
thường di truyền. Cân nặng trung bình của trẻ 
lúc sinh là 2878,95 ± 442,28 grams. Tại thời điểm 
báo cáo, có 12/19 (63,16%) trẻ sinh sống sau 1 
năm (các trẻ còn lại chưa đủ 1 năm tuổi). Có 1 
(5,3%) trường hợp trẻ mắc dị tật bẩm sinh: Thoát 
vị màng tủy: siêu âm 4D bình thường, phát hiện 
thoát vị màng tủy qua siêu âm lúc thai 28 tuần, 
bé sinh non tháng lúc 36 tuần 4 ngày, đuợc mổ 
lấy thai do vỡ ối sớm, sau mổ thấy bé có khối 
thoát vị tủy bị vỡ, sau sinh bé được theo dõi tại 
khoa sơ sinh, được phẫu thuật lúc 1 ngày tuổi, 
hậu phẫu bình thường, tái khám định kì và hiện 
bé ổn (Bảng 2). 
Về phía mẹ, có 8/19 (42,11%) thai phụ mắc 
đái tháo đường thai kì, điều trị bằng phương 
pháp ăn tiết chế, đường huyết kiểm soát tốt và 
không có thai phụ nào mắc tiền sản giật. 68% 
thai phụ được mổ lấy thai (Bảng 2). 
BÀN LUẬN 
Sau thực hiện thay đổi lối sống là điều trị 
không can thiệp hàng đầu, gây phóng noãn bằng 
thuốc là một trong những lựa chọn điều trị bằng 
thuốc cho phụ nữ PCOS có rối loạn phóng noãn. 
Dù đã từng là thuốc điều trị đầu tay trong gây 
phóng noãn ở phụ nữ rối loạn phóng noãn do 
PCOS, nhưng hiện nay CC đã không còn là lựa 
chọn phù hợp mang lại nhiều lợi ích cho nhóm 
đối tượng này từ khi có letrozole(7). Dù đã được 
Hướng dẫn quốc tế dựa trên bằng chứng trong 
tiếp cận và quản lý PCOS khuyến cáo xem xét 
letrozole là thuốc đầu tay trong gây phóng noãn 
nhưng hiện tại kết quả các nghiên cứu còn chưa 
nhất quán nên tính hiệu quả và an toàn của 
letrozole còn cần phải được đánh giá thêm(7). 
Kết quả nghiên cứu 
Trong báo cáo về 22 trường hợp PCOS gây 
phóng noãn bằng letrozole của chúng tôi, có 3 
trường hợp (13,64%) sẩy thai và 2 trường hợp 
(5,3%) trẻ mắc dị tật bẩm sinh: 1 trẻ có thoát vị 
màng tuỷ. 
Về kết cục sẩy thai, kết quả nhiều nghiên cứu 
cho thấy tỉ lệ sẩy thai ở nhóm letrozole và CC 
không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê(8,9,10). 
Nghiên cứu của Legro RS thực hiện trên 750 phụ 
nữ PCOS được gây phóng noãn với letrozole (2,5 
mg/ngày, tối đa 7,5 mg/ngày) hoặc CC từ ngày 
3-5 của chu kì trong khoảng 5 chu kì sau đó giao 
hợp tự nhiên cho kết quả tỉ lệ sẩy thai ở nhóm 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 208 
letrozole ở những phụ nữ có thai là 29,1% với tỉ 
lệ sẩy thai 3 tháng đầu là 28,2%(8). Ở nghiên cứu 
của Guang HJ trên 136 phụ nữ PCOS hiếm 
muộn với cách tiến hành tương tự, tỉ lệ sẩy thai 
sớm ghi nhận ở nhóm letrozole là 5,9%(9). Một 
nghiên cứu khác của Roy KK trên 204 phụ nữ 
PCOS thực hiện tương tự các nghiên cứu trên 
nhưng liều tối đa chỉ 5 mg/ngày cho thấy tỉ lệ 
sẩy thai là 4,08%(10). Hầu hết các nghiên cứu 
dùng letrozole liều từ 2,5-7,5 mg(8,9,10). Trong báo 
cáo loạt ca này, chúng tôi dùng liều khởi đầu 
letrozole 5 mg/ngày, tối đa 7,5 mg/ngày từ ngày 
2-6 của chu kì kinh, ghi nhận được tỉ lệ sẩy thai 
trong 22 trường hợp là 13,64%. Sự khác nhau về 
tỉ lệ sẩy thai ở nhóm letrozole trong các nghiên 
cứu có thể do sự khác biệt về liều dùng và thời 
điểm dùng. Vì letrozole là chất ức chế men 
aromatase, ức chế tổng hợp estrogen từ 
adrostenedione và testosterone, với liều 2,5-5 
mg/ngày, letrozole được chứng minh là ức chế 
tối ưu nồng độ estrogen huyết thanh. Điều này 
có liên quan đến nội mạc tử cung mỏng ở 15-
50% bệnh nhân, do thụ thể estrogen ở nội mạc tử 
cung không tiếp nhận được estrogen(10). Nghiên 
cứu của Legro RS ghi nhận được nồng độ 
estradiol thấp và progesterone cao trong suốt 
pha hoàng thể ở nhóm letrozole dẫn đến nội 
mạc tử cung mỏng(8). Sự phát triển không phù 
hợp của nội mạc tử cung như vậy có thể dẫn đến 
tỉ lệ làm tổ thấp và sẩy thai sớm do thiếu hụt 
estrogen trong pha hoàng thể(10). Ngoài ra, cỡ 
mẫu của từng nghiên cứu không giống nhau 
cũng có thể dẫn đến sự khác nhau về tỉ lệ của các 
kết cục, không chỉ riêng về kết cục sẩy thai. 
Về kết cục thai sống, ghi nhận được tỉ lệ thai 
sống ở nghiên cứu của Legro RS, Guang HJ, Roy 
KK lần lượt là 27,5%, 29,4%, 39,7%(8,9,10), trong khi 
đó, tỉ lệ này trong báo cáo của chúng tôi là 
86,36%. Tỉ lệ thai sống khá cao trong các nghiên 
cứu có thể do sử dụng letrozole có liên quan đến 
tăng biểu hiện integrin đáng kể ở nội mạc tử 
cung. Việc thiếu biểu hiện integrin ở nội mạc tử 
cung có liên quan đến tỉ lệ tiếp nhận của nội mạc 
tử cung thấp, có thể dẫn đến thất bại làm tổ. Do 
đó, dường như letrozole có thể làm tăng biểu 
hiện integrin, từ đó làm giảm tỉ lệ sẩy thai, cải 
thiện tỉ lệ mang thai cũng như tỉ lệ thai sống(11). 
Hơn nữa, tất cả thai kì trong báo cáo này đều là 
đơn thai, còn trong nghiên cứu của Guang HJ có 
10% là đa thai, nghiên cứu của Legro RS thì ít 
hơn, chỉ có 3,9% là đa thai(8,9). Tỉ lệ đa thai trong 
nghiên cứu của Tulandi và cộng sự trên 514 trẻ 
được sinh ra từ mẹ hiếm muộn có dùng letrozole 
(5 mg) mỗi ngày trong 5 ngày từ ngày 3-7 trong 
chu kì, sau đó thụ thai tự nhiên hay giao hợp 
hẹn giờ hoặc bơm tinh trùng vào buồng tử cung 
(intrauterine insemination – IUI) là 13,6%(12), 
trong nghiên cứu của Sharma S trên 623 trẻ với 
cách làm tương tự chỉ chiếm 4,5%(3). Có thể thấy, 
tỉ lệ các thai kì đa thai ở nhóm letrozole không 
cao có thể được giải thích do đặc điểm giúp phát 
triển và phóng đơn noãn của letrozole. Bên cạnh 
đó, trong báo cáo loạt ca của chúng tôi, có 68% 
trẻ được mổ lấy thai, trong số trẻ được sinh ra có 
89,47% trẻ đủ tháng và 10,53% trẻ non tháng, tuy 
nhiên trong 3 nghiên cứu trên không đề cập đến 
kết cục này(8,9,10). So sánh tỉ lệ này trong báo cáo 
của chúng tôi với nghiên cứu của Akbarisene SA 
trên 2009 bệnh nhân vô sinh gây phóng noãn với 
letrozole (772 bệnh nhân), sau đó thực hiện IUI, 
có 16,25% trẻ non tháng và 83,75% trẻ đủ 
tháng(13). 
Về cân nặng của trẻ, trong nghiên cứu của 
Legro RS, Guang HJ và Tulandi T, ở nhóm 
letrozole, các trẻ sinh ra đều có cân nặng từ 3200 
gram trở lên(8,9,12). Ở nghiên cứu của Sharma S, trẻ 
trong nhóm letrozole sinh ra ghi nhận nặng 
khoảng 2590 gram(3). Còn trong báo cáo của 
chúng tôi, cân nặng trung bình của số trẻ sinh ra 
là khoảng 2879 gram. Sự khác nhau giữa cân 
nặng lúc sinh trung bình của trẻ có thể do sự 
khác biệt về chủng tộc, điều kiện kinh tế - xã hội 
- chính trị ở quốc gia thực hiện nghiên cứu(14). 
Ngoài ra, so với kết quả của một số nghiên cứu 
thực hiện trước đây với cân nặng lúc sinh trung 
bình của trẻ Việt Nam giai đoạn 2002 và 2005 -
2012 từ 3000-3100 gram(14,15), kết quả của chúng 
tôi thấp hơn khoảng 200-300 gram. Tuy nhiên, vì 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 209 
có sự khác nhau về đặc điểm của đối tượng 
tham gia (ở bài báo cáo của chúng tôi là trên phụ 
nữ PCOS vô sinh do rối loạn phóng noãn), 
những phụ nữ này phải thực hiện chế độ ăn tiết 
chế ngay từ đầu thai kì, ngoài ra có thể kết hợp 
yếu tố di truyền nên cân nặng của thai có thể bị 
ảnh hưởng. 
Về kết cục trẻ DTBS, trong nghiên cứu của 
Roy KK, kết quả không có bất thường bẩm sinh 
nào trong nhóm letrozole(10), trong khi đó có 1,5% 
thai dị tật bẩm sinh trong nhóm letrozole ở 
nghiên cứu của Guang HJ(9). Tương tự, tỉ lệ này 
lần lượt là 2,4% (dị tật bẩm sinh và bất thường 
nhiễm sắc thể với 1,2% bất thường bẩm sinh lớn) 
trong nghiên cứu của Tulandi T(12), 2,5% trong 
nghiên cứu của Sharma S(3), 3,9% trong nghiên 
cứu của Legro RS(8), và trong nghiên của Tatsumi 
T thực hiện IVF, tỉ lệ dị tật bẩm sinh chung ở 
nhóm letrozole chỉ chiếm 2,2%(11). Tỉ lệ dị tật thai 
nhi cao nhất trong nghiên cứu của Akbarisene 
SA với 4,76% trẻ dị tật bẩm sinh trong nhóm 
letrozol(13). Hầu hết các bất thường bẩm sinh này 
là dị tật lớn, ngoài ra, trong nghiên cứu của 
Tatsumi T có 0,3% là dị tật nhỏ(11). Trong bài cáo 
cáo của chúng tôi, tỉ lệ dị tật bẩm sinh trên thai 
nhi ở 22 trường hợp gây phóng noãn bằng 
letrozole là 5,3 (1 trường hợp), tương đương với 
các NC trên. Ngoài ra, trong báo cáo của chúng 
tôi còn theo dõi cả kết cục của mẹ trong thai kì, 
cụ thể là 42,11% sản phụ mắc đái tháo đường 
thai kì và không có sản phụ nào mắc tiền sản 
giật. Trong một nghiên cứu của Nguyễn Công 
Luật trên hơn 2000 sản phụ tại Việt Nam, tỉ lệ 
sản phụ mắc đái tháo đường thai kì sau khi thực 
hiện nghiệm pháp dung nạp 75 g đường thực 
hiện từ 24-28 tuần thai kì là 6,4% theo tiêu chuẩn 
Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (America 
Diabetes Association - ADA)(16), trong khi đó, tỉ 
lệ này trong báo cáo của chúng tôi cao hơn 
nhiều, có thể do đối tượng trong báo cáo của 
chúng tôi là về phụ nữ mắc PCOS và hơn nữa, 
phụ nữ PCOS ở Đông Á và Nam Á có xu hướng 
bị đái tháo đường và các hội chứng chuyển hoá 
nhiều hơn(17). 
Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 
Bài cáo cáo loạt ca của chúng tôi có một số 
ưu điểm sau đây. Trước hết, đây là bài báo cáo 
loạt ca đầu tiên về kết cục thai kì trên những phụ 
nữ PCOS hiếm muộn do rối loạn phóng noãn 
được gây phóng noãn bằng letrozole tại Việt 
Nam theo dõi về kết cục của mẹ và thai, trong đó 
có nguy cơ dị tật bẩm sinh cho thai khi sử dụng 
letrozole. Các sản phụ đều được theo dõi kĩ càng 
từ trước khi gây phóng noãn cho đến khi sinh, 
thai cũng được theo dõi kĩ từ đầu thai kì cho đến 
khi trẻ 1 tuổi và phương pháp sinh. Tuy nhiên, 
báo cáo của chúng tôi còn tồn tại nhiều hạn chế. 
Đầu tiên là về thiết kế nghiên cứu, đây chỉ là 
nghiên cứu mô tả báo cáo loạt ca nên không thể 
kết luận được có mối liên hệ nhân quả nào 
không giữa letrozole và tỉ lệ dị tật bẩm sinh trên 
thai nhi. Thứ hai, báo cáo này có cỡ mẫu nhỏ, chỉ 
gồm 22 trường hợp, chưa thể đưa ra chính xác 
về tỉ lệ các kết cục mà báo cáo quan tâm. Ngoài 
ra, kết quả báo cáo của chúng tôi chưa toàn diện 
vì chưa đề cập đến tác dụng phụ do letrozole 
trên mẹ. Do đó, trong tương lai còn cần nhiều 
nghiên cứu về letrozole trên nhóm đối tượng 
này hơn nữa, với thiết kế nghiên cứu tối ưu hơn 
và tránh những hạn chế đã nêu trong bài báo cáo 
này. 
KẾT LUẬN 
Hiện tại, letrzole vẫn chưa được dán nhãn 
cho điều trị gây phóng noãn tại Việt Nam. Gây 
phóng noãn bằng letrozole trên phụ nữ PCOS 
hiếm muộn do rối loạn phóng noãn được giao 
hợp tự nhiên sau đó cho thấy hiệu quả và an 
toàn. Cần thêm các nghiên cứu lâm sàng ngẫu 
nhiên có đối chứng trong tương lai trên dân số 
Việt Nam để kiểm chứng các kết quả này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Helena T, Marie M, Michael C, Anuja D, Joop L and Lisa PTM 
(2018). International evidence-based guideline for the 
assessment and management of polycystic ovary syndrome. 
URL: 
https://www.monash.edu/__data/assets/pdf_file/0004/1412644/P
COS_Evidence-Based-Guidelines_20181009.pdf. 
2. Rotterdam E and Asrm-Sponsored Pcos Consensus Workshop 
Group (2004). Revised 2003 consensus on diagnostic criteria and 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 210 
long-term health risks related to polycystic ovary syndrome. 
Fertility and sterility, 81(1):19. 
3. Sharma S, Ghosh S, Singh S, Chakravarty A, Ganesh A, Rajani S 
and Chakravarty BN (2014). Congenital malformations among 
babies born following letrozole or clomiphene for infertility 
treatment. PLoS One, 9(10):e108219. 
4. Biljan MM, Hemmings R and Brassard N (2005). The Outcome 
of 150 Babies Following the Treatment With Letrozole or 
Letrozole and Gonadotropins. Fertility and Sterility, 84:S95. 
5. Legro RS, Brzyski RG, Diamond MP, Coutifaris C, Schlaff WD, 
Casson P, Christman GM, Huang H, Yan Q and Alvero R 
(2014). Letrozole versus clomiphene for infertility in the 
polycystic ovary syndrome. New England Journal of Medicine, 
371(2):119-129. 
6. Wang R, Kim BV, Van Wely M, Johnson NP, Costello MF, 
Zhang H, Ng EHY, Legro RS, Bhattacharya S and Norman RJ 
(2017). Treatment strategies for women with WHO group II 
anovulation: systematic review and network meta-analysis. 
BMJ, pp.356. 
7. Univerity M (2018). International evidence-based guideline for 
the assessment and management of polycystic ovary syndrome 
(PCOS). 
8. Legro RS, Brzyski RG, Diamond MP, Coutifaris C, Schlaff WD, 
Casson P, Christman GM, Huang H, Yan Q, Alvero R, 
Haisenleder DJ, Barnhart KT, Bates GW, Usadi R, Lucidi S, 
Baker V, Trussell JC, Krawetz SA, Snyder P, Ohl D, Santoro N, 
Eisenberg E, Zhang H and Network NRM (2014). Letrozole 
versus clomiphene for infertility in the polycystic ovary 
syndrome. N Engl J Med, 371(2):119-129. 
9. Guang HJ, Li F and Shi J (2018). Letrozole for patients with 
polycystic ovary syndrome: A retrospective study. Medicine, 
97(44):e13038. 
10. Roy KK, Baruah J, Singla S, Sharma JB, Singh N, Jain SK and 
Goyal M (2012). A prospective randomized trial comparing the 
efficacy of Letrozole and Clomiphene citrate in induction of 
ovulation in polycystic ovarian syndrome. J Hum Reprod Sci, 
5(1):20-25. 
11. Tatsumi T, Jwa SC, Kuwahara A, Irahara M, Kubota T and Saito 
H (2017). No increased risk of major congenital anomalies or 
adverse pregnancy or neonatal outcomes following letrozole 
use in assisted reproductive technology. Hum Reprod, 32(1):125-
132. 
12. Tulandi T, Martin J, Al-Fadhli R, Kabli N, Forman R, Hitkari J, 
Librach C, Greenblatt E and Casper RF (2006). Congenital 
malformations among 911 newborns conceived after infertility 
treatment with letrozole or clomiphene citrate. Fertil Steril, 
85(6):1761-1765. 
13. Akbari SA, Ghorbani S and Ashrafi M (2018). Comparison of 
the pregnancy outcomes and the incidence of fetal congenital 
abnormalities in infertile women treated with letrozole and 
clomiphene citrate. J Obstet Gynaecol Res, 44(6):1036-1041. 
14. Lee HY, Oh J, Perkins JM, Heo J and Subramanian SV (2019). 
Associations between maternal social capital and infant birth 
weight in three developing countries: a cross-sectional 
multilevel analysis of Young Lives data. BMJ Open, 
9(10):e024769. 
15. Duong Minh Duc, Nguyen Anh Duy, Nguyen Canh Chuong, 
Le Thi Vui, Hoang Ngoc Son and Bui Thi Thu Ha (2017). A 
Secular Trend in Birth Weight and Delivery Practices in 
Periurban Vietnam During 2005-2012. Asia Pac J Public Health, 
29(5):18S-24S. 
16. Nguyen Cong Luat, Lee AH, Pham Ngoc Minh, Phung Thi 
Hoang Nguyen, Vo Van Ha Anh, Chu Khac Tan, Duong Van 
Dat, Duong Thi Hong and Binns CW (2019). Prevalence and 
pregnancy outcomes of gestational diabetes mellitus by 
different international diagnostic criteria: a prospective cohort 
study in Vietnam. J Matern Fetal Neonatal Med, pp.1-7. 
17. Kim JJ and Choi YM (2019). Phenotype and genotype of 
polycystic ovary syndrome in Asia: Ethnic differences. J Obstet 
Gynaecol Res, 45(12):2330-2337. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_cuc_thai_ky_tren_phu_nu_hoi_chung_buong_trung_da_nang_du.pdf