Kết cục điều trị methotrexate toàn thân kết hợp tại chỗ đối với thai 8 - 14 tuần bám sẹo mổ lấy thai

Đặt vấn đề: Phương pháp Methotrexate (MTX) trong điều trị thai bám sẹo mổ lấy thai (SMLT) từ 8-14

tuần đã được áp dụng tại bệnh viện Từ Dũ. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công và các yếu tố liên quan đến hiệu quả

điều trị của phương pháp này vẫn chưa được nghiên cứu một cách cụ thể.

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thành công của MTX trong điều trị thai bám SMLT từ 8 – 14 tuần tại bệnh viện

Từ Dũ và các yếu tố liên quan.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu loạt ca hồi cứu trên 123 trường hợp thai bám SMLT

từ 8 – 14 tuần được điều trị bằng phương pháp MTX tại bệnh viện Từ Dũ từ năm 1/2016 – 1/2020.

Kết quả: Tỉ lệ thành công khi điều trị thai bám SMLT bằng phương pháp tiêm MTX toàn thân kết hợp tại

chỗ là 50,4%, tỷ lệ bảo tồn tử cung 95%, tác dụng phụ 17,2%. Ngoài ra, các yếu tố tuổi thai lúc can thiệp

(OR=3,99, p <0,05), bề="" dày="" lớp="" cơ="" tử="" cung="" tại="" vị="" trí="" khối="" thai="" trên="" siêu="" âm="">3mm (OR=0,37, p <0,05) và="" chiều="">

khối thai sau hủy thai 1 tuần (OR=1,09, p <0,05) có="" liên="" quan="" đến="" hiệu="" quả="" điều="">

Kết luận: Phương pháp MTX trong điều trị thai bám SMLT từ 8-14 tuần đem đến hiệu quả cao, ít xâm lấn

vì thế nên được xem xét ứng dụng thường quy trong phác đồ điều trị tại các bệnh viện thực hành sản phụ khoa.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Kết cục điều trị methotrexate toàn thân kết hợp tại chỗ đối với thai 8 - 14 tuần bám sẹo mổ lấy thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Kết cục điều trị methotrexate toàn thân kết hợp tại chỗ đối với thai 8 - 14 tuần bám sẹo mổ lấy thai

Kết cục điều trị methotrexate toàn thân kết hợp tại chỗ đối với thai 8 - 14 tuần bám sẹo mổ lấy thai
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 197 
KẾT CỤC ĐIỀU TRỊ METHOTREXATE TOÀN THÂN KẾT HỢP 
TẠI CHỖ ĐỐI VỚI THAI 8 - 14 TUẦN BÁM SẸO MỔ LẤY THAI 
Văn Thị Kim Xuyến1, Bùi Chí Thương2, Văn Phụng Thống1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Phương pháp Methotrexate (MTX) trong điều trị thai bám sẹo mổ lấy thai (SMLT) từ 8-14 
tuần đã được áp dụng tại bệnh viện Từ Dũ. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công và các yếu tố liên quan đến hiệu quả 
điều trị của phương pháp này vẫn chưa được nghiên cứu một cách cụ thể. 
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thành công của MTX trong điều trị thai bám SMLT từ 8 – 14 tuần tại bệnh viện 
Từ Dũ và các yếu tố liên quan. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu loạt ca hồi cứu trên 123 trường hợp thai bám SMLT 
từ 8 – 14 tuần được điều trị bằng phương pháp MTX tại bệnh viện Từ Dũ từ năm 1/2016 – 1/2020. 
Kết quả: Tỉ lệ thành công khi điều trị thai bám SMLT bằng phương pháp tiêm MTX toàn thân kết hợp tại 
chỗ là 50,4%, tỷ lệ bảo tồn tử cung 95%, tác dụng phụ 17,2%. Ngoài ra, các yếu tố tuổi thai lúc can thiệp 
(OR=3,99, p 3mm (OR=0,37, p <0,05) và chiều dài 
khối thai sau hủy thai 1 tuần (OR=1,09, p <0,05) có liên quan đến hiệu quả điều trị. 
Kết luận: Phương pháp MTX trong điều trị thai bám SMLT từ 8-14 tuần đem đến hiệu quả cao, ít xâm lấn 
vì thế nên được xem xét ứng dụng thường quy trong phác đồ điều trị tại các bệnh viện thực hành sản phụ khoa. 
Từ khóa: thai bám sẹo mổ lấy thai, bề dày cơ tử cung tại sẹo mổ lấy thai 
ABSTRACT 
THE EFFECTIVENESS OF LOCAL COMBINED SYSTEMIC METHOTREXATE IN EIGHT-TO-
FOURTEEN WEEK CESAREAN SCAR PREGNANCY TREATMENT 
Van Thi Kim Xuyen, Bui Chi Thuong, Van Phung Thong 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 197 - 203 
Background: The local combined systemic methotrexate has been utilized for eight-to-fourteen weeks 
Cesarean scar pregnancy treatment at Tu Du hospital, however the effectiveness and correlated fators have not 
been elaborated specifically. 
Objectives: To identify the successful rate and correlated factors of local combined systemic methotrexate in 
Cesarean scar pregnancy treatment. 
Methods: A retrospective case series study of 123 eight-to-fourteen weeks Cesarean scar pregnancy cases 
was treated at Tu Du hospital during January 2016 - January 2020. 
Result: The success, uterine sparing rate and side effect of treatment are 50.4%, 95%, and 17.2% 
respectively. Additionally, other factors relating treatment failure with statistical significance included gestational 
age (OR=3.99); residual myometrial thickness >3 mm (OR=0.37), the post-procedure gestational mass diameter 
(OR=1.09). 
Conclusion: The local combined systemic methotrexate in eight-to-fourteen weeks cesarean scar pregnancy 
treatment is effective and minimally invasive therefore it should be utilized routinely. 
Keywords: cesarean scar pregnancy, residual myometrial thickness 
1Bệnh viện Từ Dũ 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Văn Thị Kim Xuyến ĐT: 0904932946 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 198 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Số lượng thai bám sẹo mổ lấy thai (SMLT) 
ngày càng tăng dần, tỷ lệ thuận với tỷ lệ mổ lấy 
thai ngày càng tăng cao trong dân số. Bệnh viện 
Từ Dũ là bệnh viện tuyến cuối về sản phụ khoa 
tại miền nam Việt Nam cho nên số lượng thai 
bám tăng đột biến qua các năm, năm 2011 có 192 
trường hợp, năm 2014 là 875 trường hợp, và liên 
tiếp trong 3 năm 2017, 2018 và 2019, ghi nhận số 
ca tăng dần từ 1380 – 1431 - 1561 trường hợp(1,2). 
Số lượng các trường hợp thai bám tăng cao qua 
từng năm do đó số trường hợp thai bám SMLT 
>8 tuần cũng tăng dần, dẫn đến vấn đề nan giải 
do khối thai đã lớn, tăng sinh mạch máu nhiều, 
tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai biến trong điều trị. 
Methotrexate một chất đối vận folate, là 
lựa chọn hàng đầu trong điều trị bảo tồn vòi 
trứng ở các bệnh nhân có thai ngoài tử cung 
chính vì thế các nghiên cứu cũng đã áp dụng 
MTX cho các trường hợp thai bám SMLT(3). 
Trong thai bám ở SMLT, túi thai được bao 
quanh bởi lớp mô xơ vì thế việc sử dụng MTX 
đường toàn thân có thể không đạt hiệu quả tối 
ưu nếu so với việc dùng MTX tại chỗ. Trên thế 
giới đã có một số báo cáo sử dụng 25 mg MTX 
tiêm trực tiếp vào tim thai, 25 mg MTX vào 
bánh nhau dưới sự hướng dẫn của siêu âm 
ngả bụng hoặc ngả âm đạo, kết hợp với 25 mg 
MTX tiêm bắp đường toàn thân đem lại hiệu 
quả khả quan. Báo cáo loạt ca của tác giả Bùi 
Đỗ Hiếu và Trương Diễm Phượng tại bệnh 
viện Từ Dũ, tổng quan 34 trường hợp thai bám 
SMLT của Katherine, báo cáo 18 ca của Cok và 
58 ca thai bám của Kim đều được điều trị bằng 
phương pháp MTX toàn thân kết hợp tại chỗ 
với tỷ lệ thành công từ 50% đến 76%. Trong 
tổng quan của SMFM, tỷ lệ thành công của 
phương pháp hủy thai tại chỗ kèm MTX toàn 
thân là rất cao 73,9% nếu chỉ sử dụng liệu trình 
1 liều MTX tại chỗ, tăng lên đến 88,3% nếu sử 
dụng liệu trình 2 liều bao gồm 2 liều MTX tại 
chỗ hoặc 1 liều MTX tại chỗ kết hợp 1 liều 
MTX toàn thân, và nhấn mạnh rằng 
βhCG>100000 mUI/mL là yếu tố nguy cơ cao 
liên quan đến thất bại điều trị. Từ những điều 
trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu báo cáo 
loạt ca hồi cứu trong vòng 4 năm tại bệnh viện 
Từ Dũ với mục tiêu xác định tỉ lệ thành công 
của MTX toàn thân kết hợp tại chỗ trong điều 
trị thai bám seo mổ lấy thai từ 8 -14 tuần, tỉ lệ 
điều trị MTX kết hợp nong nạo, phẫu thuật và 
tỉ lệ biến chứng, tác dụng phụ của MTX trong 
quá trình điều trị tại bệnh viện Từ Dũ. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên những 
bệnh nhân được chẩn đoán xác định có thai bám 
SMLT từ 8 – 14 tuần nhập viện điều trị bằng 
phương pháp MTX toàn thân kết hợp tại chỗ, tại 
khoa Phụ - Nội Soi bệnh viện Từ Dũ trong 
khoảng thời gian 1/2016 - 1/2020. 
Tiêu chuẩn nhận vào 
Bệnh nhân huyết động học ổn định, được 
chẩn đoán xác định thai bám SMLT bằng các 
tiêu chuẩn chẩn đoán trên siêu âm doppler. Xác 
định tuổi thai 8 - 14 tuần dựa vào chiều dài đầu 
mông (HADLOCK). 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Tổng trạng không thích hợp cho can thiệp, 
chống chỉ định điều trị MTX: bệnh lý nội khoa 
trầm trọng, đái tháo đường type II biến chứng cơ 
quan đích, tăng huyết áp mạn biến chứng cơ 
quan đích, bệnh lý tuyến giáp, hen suyễn, viêm 
gan cấp tính, xơ gan, bệnh lý lao đang tiến triển, 
viêm loét dạ dày tá tràng, dị ứng với MTX. 
Phương pháp nghên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp 
báo cáo loạt ca hồi cứu. 
Cỡ mẫu 
Chọn mẫu toàn bộ những trường hợp thai 
bám SMLT 8 – 14 tuần nhập viện. 
Tiêu chuẩn đánh giá 
Tiêu chuẩn điều trị thành công: sau điều trị 
MTX toàn thân kết hợp tại chỗ, nồng độ β hCG 
về bằng âm tính (<5 UI) và siêu âm không còn 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 199 
khối nhau hay nhau thai ở vết mổ cũ và không 
cần can thiệp phẫu thuật. 
Tiêu chuẩn điều trị thất bại, bao gồm: 
- Sau điều trị MTX toàn thân kết hợp tại 
chỗ: tác dụng phụ nặng nề của MTX, xuất 
huyết âm đạo ồ ạt, kích thước khối thai tăng >7 
cm hoặc kích thước >5 cm nhưng bệnh nhân 
mong muốn điều trị phẫu thuật sau khi đã 
được tư vấn lợi ích, nguy cơ của phương pháp 
theo dõi thoái triển và phẫu thuật. 
- Bắt buộc phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu 
hay chương trình qua ngã âm đạo hoặc nội soi ổ 
bụng hay mổ hở. 
Phân tích và quản lý số liệu 
Lưu trữ và phân tích số liệu bằng phần mềm 
SPSS 22.0. Phân tích mô tả từng biến số, sau đó 
phân tích đơn biến so sánh mối liên quan, phân 
tích đa biến khử nhiễu. Các phép kiểm được 
thực hiện với độ tin cậy 95%. 
Y đức 
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng 
Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh số: 556/ĐHYD-HĐĐĐ 
ngày 28/10/2019. 
KẾT QUẢ 
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2016 
đến 1/2020, có 5290 ca nhập viện do thai bám 
SMLT, đa phần trong số đó là các ca bệnh được 
phát hiện sớm, có tuổi thai dưới 8 tuần tuổi. Có 
577 bệnh nhân nhập viện có tuổi thai 8 - 14 tuần 
và trong số đó có 358 ca bệnh được chỉ định điều 
trị bằng phương pháp tiêm MTX. Qua hồi cứu, 
ghi nhận 123 trường hợp thai bám SMLT có tuổi 
thai 8-14 tuần được điều trị bằng phương pháp 
tiêm MTX hủy thai, kết quả có 62 trường hợp 
được điều trị thành công với tiêm MTX đơn 
thuần, chiếm 50,4%, 61 trường hợp thất bại cần 
phải can thiệp thêm một biện pháp khác, chiếm 
49,6%. Tất cả bệnh nhân này đều tuân thủ tái 
khám sau hủy thai bám SMLT đúng lịch, hồ sơ 
bệnh án có đầy đủ thông tin cần thiết phục vụ 
nghiên cứu, đồng thời khoảng thời gian theo dõi 
đã đủ theo quy trình và đã chấm dứt theo dõi 
cho đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu. 
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng 
các trường hợp thai bám SMLT (N=123) 
Đặc điểm Tần số Tỉ lệ (%) 
Tuổi 
<35 tuổi 66 53,7 
≥35 tuổi 57 46,3 
Số lần mổ lấy thai 
1 lần 51 41,5 
≥2 lần 72 58,5 
Triệu chứng cơ năng 
Không triệu chứng 48 39,0 
Đau bụng đơn thuần 14 11,4 
Ra huyết âm đạo đơn thuần 37 30,1 
Đau bụng kèm ra huyết âm đạo 24 19,5 
Tuổi thai can thiệp 
8-≤9 tuần 74 60,2 
9-≤10 tuần 22 17,9 
10-≤11 tuần 16 13,0 
11-≤12 tuần 7 5,7 
12-≤13 tuần 3 2,4 
13-≤14 tuần 1 0,8 
Hoạt động tim thai 
Không 0 0 
Có 123 100 
Bề dày lớp cơ ở sẹo mổ lấy thai 
≤3mm 114 92,7 
>3mm 9 7,3 
Tăng sinh mạch máu tại sẹo mổ lấy thai 
Không có 5 4,1 
Ít 15 12,2 
Trung bình 64 52 
Nhiều 39 31,7 
Chiều dài lớn nhất của khối thai 
≤5cm 84 68,3 
>5cm 39 31,7 
Nồng độ β hCG (mUI/mL) 
≤100000 35 28,5 
>100000 88 71,5 
Đặc điểm chung và tiền căn của BN, đặc 
điểm lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm triệu 
chứng cơ năng, phân loại thai bám SMLT, tuổi 
thai, tăng sinh mạch máu tại SMLT, nồng độ 
βhCG được trình bày trong Bảng 1. 
Sau khi phân tích hồi quy đơn biến các biến 
số liên quan đến hiệu quả điều trị, chúng tôi tiến 
hành phân tích hồi quy đa biến nhằm tìm mối 
quan hệ thật sự của các biến số yếu tố lâm sàng, 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 200 
cận lâm sàng với hiệu quả điều trị. Các biến số 
bao gồm biến số định tính lẫn các biến số định 
lượng. Một số yếu tố có liên quan đến kết quả 
điều trị thai bám SMLT bằng phương pháp tiêm 
MTX hủy thai có ý nghĩa thống kê như tuổi thai 
lúc can thiệp, bề dày cơ tử cung lúc can thiệp và 
chiều dài khối thai sau tiêm. Cụ thể, tuổi thai lúc 
can thiệp hủy thai càng lớn thì nguy cơ thất bại 
càng cao, với tăng dần 1 tuần tuổi thai sẽ tăng 
nguy cơ thất lại lên khoảng 4 lần (OR=3,99, 
p <0,05). Bề dày lớp cơ tử cung tại vị trí khối thai 
trên siêu âm >3mm giảm nguy cơ thất bại điều 
trị 67,2% (OR=0,368, p <0,05). Chiều dài khối thai 
sau hủy thai 1 tuần càng lớn càng tăng nguy cơ 
thất bại điều trị, với tăng 1mm chiều dài tăng 
nguy cơ thất bại lên gấp 1,09 lần (OR=1,088, p 
<0,05). Ngoài ra, các biến số khác như tuổi bệnh 
nhân, số lần sanh, số lần mổ lấy thai, triệu chứng 
lâm sàng, nồng độ βhCG, hình ảnh siêu âm 
COS khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p 
>0,05) giữa nhóm thành công và nhóm thất bại 
điều trị (Bảng 2, 3). 
Bảng 2: Can thiệp bổ trợ sau tiêm MTX (N=54) 
 Tần số Tỉ lệ (%) 
Can thiệp bổ trợ trước đó 
MTX 30 55,6 
Hút nạo 3 5,5 
Không có can thiệp bổ trợ 21 38,9 
Phương pháp can thiệp 
Mở bụng 37 68,5 
Nội soi 17 31,5 
Cách mổ 
Bảo tồn tử cung 48 88,9 
Cắt tử cung 6 11,1 
Biến chứng 
Truyền máu 19 35,2 
Tổn thương cơ quan khác 4 7,4 
Nhiễm trùng hậu phẫu 2 3,7 
Bảng 3: Phân tích hồi quy đa biến một số yếu tố liên 
quan với kết quả điều trị (N=123) 
Đặc điểm Tần Số OR* 95%CI P* 
Tuổi thai lúc can 
thiệp 
 3,991 1,332–11,955 0,013 
Bề dày cơ tử cung 
≤3mm 114 1 
>3mm 9 0,368 0,162–0,836 0,017 
Đặc điểm Tần Số OR* 95%CI P* 
Chiều dài khối thai 
sau tiêm 
 1,088 1,00–1,181 0,043 
BÀN LUẬN 
Về kết quả điều trị 
Trong tổng số 123 ca được ghi nhận trong 
nghiên cứu, có 62 ca điều trị thành công chỉ 
với phương pháp tiêm MTX hủy thai, chiếm 
50,4% số trường hợp. Tỷ lệ thành công thấp 
hơn khi so sánh với 2 nghiên cứu tổng hợp 34 
trường hợp thai bám SMLT của tác giả 
Katherine là 76,5%. Sự khác biệt này có thể 
được giải thích là do tuổi thai trong nghiên 
cứu của chúng tôi lớn hơn nhiều so với 2 
nghiên cứu tổng hợp của Katherine 9,3 tuần so 
với 6,8 tuần, cho nên kích thước trung bình 
khối thai các yếu tố khác như tăng sinh mạch 
máu hay βhCG cao hơn nhiều so với 2 nghiên 
cứu đó dẫn đến nguy cơ thất bại với phương 
pháp MTX toàn thân kết hợp tại chỗ. Thêm 
vào đó, 2 nghiên cứu trên có cỡ mẫu rất hạn 
chế và không thật sự đồng nhất như trong 
nghiên cứu của chúng tôi. Trong tổng quan 
khuyến cáo của SMFM, tỷ lệ thành công của 
phương pháp hủy thai tại chỗ kèm MTX toàn 
thân là rất cao 73,9% nếu chỉ sử dụng liệu trình 
1 liều MTX tại chỗ, tăng lên đến 88,3% nếu sử 
dụng liệu trình 2 liều bao gồm 2 liều MTX tại 
chỗ hoặc 1 liều MTX tại chỗ kết hợp 1 liều 
MTX toàn thân, và nhấn mạnh rằng 
βhCG>100000 mUI/mL là yếu tố nguy cơ cao 
liên quan đến thất bại điều trị. Từ khả năng 
thành công cao của điều trị SMFM đã đưa ra 
khuyến cáo nên xem phương pháp MTX tại 
chỗ kết hợp toàn thân là điều trị đầu tay cho 
các trường hợp thai bám SMLT. 
Tổng quan của Glenn T(4), tổng hợp hiệu 
quả điều trị của nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ 
lệ thành công của hủy thai tại chỗ kết hợp 
MTX toàn thân dao động từ 50% - 66% hay báo 
cáo 18 ca của Gonzalez N cho thấy tỷ lệ thành 
công 61,1% tương đương nghiên cứu của 
chúng tôi(5). Trong khi đó, báo cáo 58 ca thai 
bám của Kim SY cho thấy tỷ lệ thành công 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 201 
thấp hơn với chỉ 41,3% so với của chúng tôi 
50,4% mặc dù tuổi thai trung bình trong 
nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn nhiều 9,3 
tuần so với 6,5 tuần(6). Như vậy, tỷ lệ thành 
công của phương pháp hủy thai tại chỗ kết 
hợp MTX toàn thân trong điều trị thai bám 
SMLT thay đổi rất nhiều tùy vào các đặc điểm 
của dân số nghiên cứu như: tuổi bệnh nhân, 
chủng tộc, số lần mổ lấy thai trước đó, nồng độ 
βhCG, kích thước khối thai, sự hiện diện của 
tim thai. 
Tỷ lệ thành công không thật sự ấn tượng 
trong nghiên cứu của chúng tôi có lẻ một phần là 
do tuổi thai trung bình lớn, tăng sinh mạch máu 
quanh túi thai nhiều và kích thước thai lớn hơn 
so với nhiều nghiên cứu khác. Thêm vào đó, khá 
nhiều trường hợp chỉ định phẫu thuật vì lý do 
bệnh nhân không đủ kiên nhẫn theo dõi diễn 
tiến βhCG và siêu âm mặc dù kích thước khối 
thai không quá lớn chỉ từ 5-7 cm. Chính việc 
theo dõi dài hạn, điều kiện địa lý xa xôi cũng 
như chi phí kinh tế mất đi do ảnh hưởng công 
việc và nhu nhập trong quá trình theo dõi đã 
khiến không ít người bệnh mong muốn được 
phẫu thuật triệt để sớm để quay trở về cuộc sống 
bình thường. 
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của 
phương pháp điều trị này đã được chứng minh 
qua nhiều các báo cáo. Nồng độ βhCG <100000, 
bề dày lớp cơ tử cung >2 mm, kích thước khối 
thai nhỏ hơn 5 cm, thai bám SMLT tuýp I theo 
Vial là những yếu tố góp phần tiên lượng thành 
công của điều trị(7,8,9,10,11,12). Sau khi phân tích hồi 
quy đa biến nhằm tìm các yếu tố ảnh hưởng đến 
kết quả điều trị, nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy, tuổi thai khi can thiệp càng lớn (OR=4,0), 
chiều dài khối thai sau khi hủy thai 1 tuần 
(OR=1,1) là các yếu tố tăng nguy cơ thất bại. 
Trong khi đó, chiều dài cơ tử cung càng dày là 
yếu tố tăng khả năng thành công của điều trị 
(OR=0,368) với điều trị thai bám SMLT bằng 
phương pháp hủy thai tại chỗ kết hợp MTX toàn 
thân với p <0,05. Nghiên cứu của chúng tôi 
tương đồng với tác giả Timor-Tritsch IE(13), khi 
trong nghiên cứu này kích thước khối thai >5 cm 
là yếu tố nguy cơ thất bại điều trị, bên cạnh đó 
báo cáo của Shao cũng tương đồng với chúng 
tôi, khi bề dày cơ tử cung >2 mm là yếu tố tiên 
lượng thành công của điều trị. Như đã nói ở 
trên, khi kích thước khối thai càng lớn, tuổi thai 
càng cao thì nguy cơ thất bại cao do vị trí khuyết 
sẹo căng mỏng, nhiều mô xơ sẹo dẫn đến khả 
năng gây thoái hóa của khối thai khi tiêm MTX 
bị ảnh hưởng, đồng thời càng làm dãn mỏng lớp 
cơ tử cung tại vị trí SMLT dẫn đến dễ thất bại do 
vỡ cơ tử cung tại vị trí đó, hơn thế nữa tăng khả 
năng băng huyết, chảy máu sau khi tiêm MTX 
tại chỗ kết hợp toàn thân vì sau khi chích MTX 
có hiện tượng thoái hóa, viêm hoại tử khối thai 
dẫn đến tăng kích thước thoáng qua sau khi điều 
trị. Bề dày cơ tử cung tại vị trí khối thai càng cao 
thể hiện tổ chức cơ tử cung tại vị trí đó còn chức 
năng tốt, ít bị xơ sẹo, mạch máu thông thương 
giúp MTX từ đường toàn thân hỗ trợ đến được 
vị trí khối thai làm tăng tác dụng của thuốc dẫn 
đến tăng khả năng thành công của điều trị. Bên 
cạnh đó, bề dày cao giúp hạn chế nguy cơ vỡ tử 
cung hay khi khối thai sảy cơ tử cung có thể co 
hồi tốt hơn để cầm máu tại vị trí nhau bám tránh 
nguy cơ băng huyết phải mổ cấp cứu. Trong 123 
trường hợp được điều trị bằng MTX, tỷ lệ biến 
chứng cắt tử cung chỉ có 6/123 trường hợp 
(chiếm 4%). Phương pháp phẫu thuật bao gồm 
mở bụng và phẫu thuật nội soi, với tỉ lệ lần lượt 
là 68,5% và 31,5% trong tổng số 54 trường hợp. 
Do phần lớn bệnh nhân trong độ tuổi sinh sản, 
nhóm tuổi dưới 35 chiếm đa số nên việc giữ lại 
tử cung khi phẫu thuật có ý nghĩa rất quan trọng 
không chỉ với tương lai sản khoa mà còn đối với 
sức khỏe, tâm lý của bệnh nhân. Tỉ lệ được bảo 
tồn tử cung là 88,9%, có 6 ca phải cắt tử cung, 
chiếm 11,1% trong số 54 trường hợp thất bại. Tỷ 
lệ phải phẫu thuật cắt tử cung của chúng tôi 
thấp hơn hẳn so với các nghiên cứu khác, báo 
cáo của Timor-Tritsch IE các năm 2012, 2015, 
2019 lần lượt là 15%, 19% và 10,8%(7,12,13). 
Phẫu thuật thai bám SMLT là một phẫu 
thuật phức tạp, do đó không tránh khỏi có thể 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 202 
gây ra các biến chứng cho bệnh nhân. Các 
trường hợp phải phẫu thuật đa phần đều có tăng 
sinh mạch máu ở mức độ trung bình hoặc nhiều, 
điều đó gây nguy cơ mất máu trong cuộc mổ, có 
thể phải truyền máu. Thực tế trong nghiên cứu 
của chúng tôi ghi nhận có đến 19 trường hợp, 
chiếm 35,2%, mất máu cần phải truyền máu. Mất 
máu nhiều còn gây nguy cơ nhiễm trùng hậu 
phẫu tăng lên. Trong nghiên cứu của chúng tôi 
có 2 trường hợp nhiễm trùng, chiếm tỉ lệ 3,7% 
trong tổng số các trường hợp cần can thiệp phẫu 
thuật. Nguyên nhân tỷ lệ truyền máu của chúng 
tôi cao hơn các nghiên cứu khác là vì tỷ lệ bảo 
tồn tử cung cao hơn, ekip phẫu thuật và hồi sức 
tích cực luôn cố gắng bảo tồn chức năng sinh sản 
cho người bệnh dẫn đến thời gian phẫu thuật 
lâu hơn, cắt lọc cơ tử cung nhằm tránh thai bám 
SMLT tái phát cho nên đó là lý do giải thích tại 
sao tỷ lệ truyền máu của trong báo cáo này 
nhiều hơn các nghiên cứu trong y văn thế giới. 
Phẫu thuật trên trường hợp đã có tiền căn 
ngoại khoa trước đó có nguy cơ gây tổn thương 
cơ quan lân cận vì khả năng sẹo mổ cũ dính. 
Hơn nữa ở trường hợp thai bám SMLT có bề dày 
lớp cơ tử cung tại sẹo quá mỏng còn có nguy cơ 
tổn thương bàng quang trong quá trình phẫu 
thuật. Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận có 4 
trường hợp tổn thương các cơ quan khác như 
ruột, bàng quang, chiếm 7,4% số ca có can thiệp 
phẫu thuật. Tỷ lệ tai biến phẫu thuật trong 
nghiên cứu thấp trong khi thai bám SMLT là 
bệnh lý khó, đòi hỏi phẫu thuật viên có kỹ năng 
tốt và kinh nghiệm dày dặn đã cho thấy ngoài 
tác dụng thành công hơn 50% thì hủy thai bám 
SMLT cho dù thất bại cũng góp phần rất nhiều 
trong việc hạn chế sự tăng sinh mạch máu ở vị 
trí khối thai, hạn chế sự xâm lấn của nhau thai 
vào cơ tử cung và bàng quang để tạo thuận lợi 
cho cuộc phẫu thuật tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai 
biến trở nên đơn giản hơn, thành công cao hơn, 
giảm tối đa nguy cơ tai biến. Thêm vào đó, trong 
4 trường hợp có tổn thương các cơ quan lân cận 
như bàng quang, niệu quản, ruột tất cả đều được 
hội chẩn liên chuyên khoa với các bác sĩ ngoại 
tiêu hóa và ngoại tiết niệu ngay khi phát hiện tai 
biến trong lúc phẫu thuật, bệnh nhân được can 
thiệp sớm, không có bất kỳ trường hợp nào phải 
phẫu thuật thì hai và quan trọng hơn cả không 
có trường hợp tử vong nào trong nghiên cứu. 
Điểm mới và tính ứng dụng 
Nghiên cứu đưa đến cái nhìn tổng quan về 
kết quả điều trị thai bám SMLT ở tuổi thai 8 – 14 
tuần tại bệnh viện Từ Dũ trong khoảng thời gian 
4 năm, từ 2016-2020. Với tuổi thai trên 8 – 14 
tuần hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu được 
thực hiện. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi 
được tiến hành đem đến một điểm mới, một cái 
nhìn tổng quan hơn về các trường hợp thai bám 
ở tuổi thai trên 8-14 tuần. Đồng thời, phương 
pháp điều trị bằng MTX là một trong những 
phương pháp điều trị bảo tồn, xâm lấn tối thiểu 
lên bệnh nhân. 
Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận nếu 
chỉ điều trị đơn thuần bằng phương pháp tiêm 
MTX, tỉ lệ thành công chỉ chiếm 50,4%. Tuy 
nhiên, khi kết hợp các biện pháp điều trị bổ sung 
sau đó, tỉ lệ thành công lên đến hơn 90%. Đối với 
các trường hợp thành công, thời gian để khối 
thai biến mất và nồng độ β-hCG về âm tính từ 
12-18 tuần. Do đó, có thể đề xuất ứng dụng lâm 
sàng kết hợp điều trị MTX nhằm thu nhỏ khối 
thai và kèm theo 1 phương pháp điều trị bổ sung 
như hút nạo hoặc phẫu thuật nội soi để nâng cao 
tỉ lệ thành công so với điều trị bằng MTX đơn 
thuần, đồng thời có thể giảm thời gian chờ đợi 
theo dõi cho bệnh nhân. 
Hạn chế đề tài 
Nghiên cứu mô tả tỷ lệ thành công điều trị 
thai bám SMLT 8-14 tuần bằng phương pháp 
MTX toàn thân kết hợp tại chỗ nhưng chưa so 
sánh hiệu quả của phương pháp điều trị này với 
các phương pháp điều trị khác. 
KẾT LUẬN 
Tỉ lệ thành công khi điều trị thai bám SMLT 
bằng phương pháp tiêm MTX toàn thân kết hợp 
tại chỗ là 50,4%, tỷ lệ bảo tồn tử cung 95%, tác 
dụng phụ 17,2%. Các yếu tố tuổi thai lúc can 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 203 
thiệp (OR=3,99, p <0,05), bề dày lớp cơ tử cung 
tại vị trí khối thai trên siêu âm >3mm (OR=0,368, 
p <0,05) và chiều dài khối thai sau hủy thai 1 
tuần (OR=1,088, p <0,05) có liên quan đến hiệu 
quả điều trị. Từ đó đưa ra kiến nghị nên xem xét 
ứng dụng thường quy phương pháp MTX trong 
điều trị thai bám SMLT từ 8-14 tuần, tại các bệnh 
viện thực hành sản phụ khoa. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Đinh Thế Hoàng (2019). Khảo sát mối liên quan của hình ảnh 
siêu âm COS và kết quả điều trị thai ≤8 tuần bám sẹo mổ lấy 
thai bằng phương pháp đặt Foley kết hợp hút thai. Luận văn 
Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. 
2. Văn Phụng Thống (2018). Phẫu Thuật Nội Soi Trong Thai Bám 
Sẹo Mổ Lấy Thai. Báo cáo Hội nghị Sản phụ khoa Việt - Pháp – 
Châu Á – Thái Bình Dương 2018. 
3. Maymon R, Halperin R (2004). Etopic pregnancies in a 
caesarean scar: review of the medical approach to an iatrogenic 
complication. Hum Report Update, 10:515-523. 
4. Glenn TL, Bembry J, Findley AD, et al (2018). Cesarean Scar 
Ectopic Pregnancy: Current Management Strategies. Obstet 
Gynecol Surv, 73(5):293-302. 
5. Gonzalez N, Tulandi T (2017). Cesarean Scar Pregnancy: A 
Systematic Review. J Minim Invasive Gynecol, 24(5):731-738. 
6. Kim SY, Yoon SR, Kim MJ, et al (2018). Cesarean scar 
pregnancy; Diagnosis and management between 2003 and 2015 
in a single center. Taiwan J Obstet Gynecol, 57(5):688-691. 
7. Timor-Tritsch IE, Khatib N, Monteagudo A (2015). Cesarean 
scar pregnancies: experience of 60 cases. J Ultrasound Med, 
34(4):601-610. 
8. Miller R, Timor-Tritsch IE, Gyamfi-Bannerman C (2020). Society 
for Maternal-Fetal Medicine (SMFM) Consult Series #49: 
Cesarean scar pregnancy. Am J Obstet Gynecol, 222(5):B2-B14. 
9. Pedraszewski P, Wlazlak E, Panek W, et al (2018). Cesarean scar 
pregnancy - a new challenge for obstetricians. J Ultrason, 
18(72):56-62. 
10. Shao MJ, Hu MX, Xu XJ, et al (2013). Management of caesarean 
scar pregnancies using an intrauterine or abdominal approach 
based on the myometrial thickness between the gestational 
mass and the bladder wall. Gynecol Obstet Invest, 76(3):151-157. 
11. Wang M, Yang Z, Li Y (2015). Conservative management of 
cesarean scar pregnancies: a prospective randomized controlled 
trial at a single center. International Journal of Clinical and 
Experimental Medicine, 8(10):18972-18980. 
12. Timor-Tritsch IE, Monteagudo A (2012). The diagnosis, 
treatment, and follow-up of cesarean scar pregnancy. Am J 
Obstet Gynecol, 13:207-244. 
13. Timor-Tritsch IE, Monteagudo A, Cali G, et al (2019). Cesarean 
Scar Pregnancy: Patient Counseling and Management. Obstet 
Gynecol Clin North Am, 46(4):813-828. 
Ngày nhận bài báo: 16/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfket_cuc_dieu_tri_methotrexate_toan_than_ket_hop_tai_cho_doi.pdf