Huyết áp động mạch tại thời điểm 11-13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển tiền sản giật và giá trị dự báo

Mục tiêu: Kháo sát giá trị HA động mạch tại thời điểm 11 -13 tuần 6

ngày ở các thai phụ phát triển TSG về sau và đánh giá vai trò của HA

động mạch trong dự báo bệnh lý TSG.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 2.998

thai phụ tại thời điểm thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày đến khám sàng

lọc quý I và quản lý thai kỳ tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Trường Đại học

Y dược Huế từ 09/2012 đến 03/2015

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ các rối loạn tăng HA trong thai kỳ chiếm

3,74% so với toàn bộ thai nghén, trong đó TSG có tỷ lệ 2,84%. Bội số

của trung vị MoM của HATT, HATr và HATB ở nhóm thai phụ phát triển

TSG sớm (1,059, 1,136 và 1,147 MoM) và nhóm phát triển TSG muộn

(1,059, 1,136 và 1,136 MoM) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm thai phụ

không phát triển TSG (1,003, 1,050 và 1,051 MoM). Tuy nhiên không

có sự khác biệt các giá trị HA giữa nhóm tăng HA thai nghén và nhóm

chứng. Sàng lọc TSG bằng HATB cho kết quả tốt hơn HATT và HATr.

Phối hợp với yếu tố nguy cơ mẹ và HATB làm cải thiện kết quả diện tích

dưới đường cong ROC trong dự báo TSG sớm và TSG muộn, tương ứng

là 0,811 và 0,712. Tỷ lệ phát hiện TSG sớm, TSG muộn là 63,6%, và

35,1% tương ứng với tỷ lệ dương tính giả 10%.

Kết luận: Sàng lọc TSG bằng HA là một phương pháp rẻ tiền, tính

khả thi cao và cho kết quả chấp nhận được. Nên phối hợp thêm các yếu

tố dự báo khác như các đặc điểm tiền căn mẹ, giá trị siêu âm doppler

động mạch tử cung và các chất chỉ điểm sinh hóa để tăng tỷ lệ dự báo

pdf 7 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Huyết áp động mạch tại thời điểm 11-13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển tiền sản giật và giá trị dự báo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Huyết áp động mạch tại thời điểm 11-13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển tiền sản giật và giá trị dự báo

Huyết áp động mạch tại thời điểm 11-13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển tiền sản giật và giá trị dự báo
TRƯƠNG QUANG VINH, CAO NGỌC THÀNH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, NGUYỄN VIẾT NHÂN, TRẦN MẠNH LINH 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
30
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trương Quang Vinh, Cao Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Quốc Huy, Võ Văn Đức, Nguyễn Viết Nhân, Trần Mạnh Linh 
Trường Đại học Y Dược Huế
HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH TẠI THỜI ĐIỂM
11 – 13 TUẦN 6 NGÀY Ở CÁC THAI PHỤ
PHÁT TRIỂN TIỀN SẢN GIẬT VÀ GIÁ TRỊ DỰ BÁO
Tóm tắt
Mục tiêu: Kháo sát giá trị HA động mạch tại thời điểm 11 -13 tuần 6 
ngày ở các thai phụ phát triển TSG về sau và đánh giá vai trò của HA 
động mạch trong dự báo bệnh lý TSG.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 2.998 
thai phụ tại thời điểm thai 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày đến khám sàng 
lọc quý I và quản lý thai kỳ tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Trường Đại học 
Y dược Huế từ 09/2012 đến 03/2015
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ các rối loạn tăng HA trong thai kỳ chiếm 
3,74% so với toàn bộ thai nghén, trong đó TSG có tỷ lệ 2,84%. Bội số 
của trung vị MoM của HATT, HATr và HATB ở nhóm thai phụ phát triển 
TSG sớm (1,059, 1,136 và 1,147 MoM) và nhóm phát triển TSG muộn 
(1,059, 1,136 và 1,136 MoM) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm thai phụ 
không phát triển TSG (1,003, 1,050 và 1,051 MoM). Tuy nhiên không 
có sự khác biệt các giá trị HA giữa nhóm tăng HA thai nghén và nhóm 
chứng. Sàng lọc TSG bằng HATB cho kết quả tốt hơn HATT và HATr. 
Phối hợp với yếu tố nguy cơ mẹ và HATB làm cải thiện kết quả diện tích 
dưới đường cong ROC trong dự báo TSG sớm và TSG muộn, tương ứng 
là 0,811 và 0,712. Tỷ lệ phát hiện TSG sớm, TSG muộn là 63,6%, và 
35,1% tương ứng với tỷ lệ dương tính giả 10%.
Kết luận: Sàng lọc TSG bằng HA là một phương pháp rẻ tiền, tính 
khả thi cao và cho kết quả chấp nhận được. Nên phối hợp thêm các yếu 
tố dự báo khác như các đặc điểm tiền căn mẹ, giá trị siêu âm doppler 
động mạch tử cung và các chất chỉ điểm sinh hóa để tăng tỷ lệ dự báo.
Abstract 
PREDICTION OF PREECLAMPSIA BY ARTERIAL 
PRESSURE AT 11+0 TO 13+6 WEEKS’ GESTATION
Objective: To assess the performance of screening for (PE) by 
systolic blood pressure (BP), diastolic BP, and mean arterial pressure 
(MAP) at 11+0 to 13+6 weeks’ gestation.
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Trần Mạnh Linh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 05/04/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 25/04/2016
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 30 - 36, 2016
31
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Rối loạn tăng huyết áp (HA) trong thai kỳ nói 
chung và Tiền sản giật – Sản giật (TSG-SG) nói 
riêng là một trong những biến chứng thai sản 
thường gặp, có tỷ lệ khoảng 5 – 10%. Tỷ lệ TSG 
tăng đáng kể trong vòng 10 năm qua, ước tính 
tăng khoảng 25% song hành cùng với tăng tỷ 
lệ béo phì, đái đường, tuổi mang thai và can 
thiệp hỗ trợ sinh sản [5]. TSG là sự phát triển của 
tăng huyết áp sau tuần thứ 20 thai kỳ ở những 
phụ nữ có huyết áp trước đó bình thường, kèm 
theo xuất hiện protein niệu hoặc xuất hiện các 
triệu chứng liên quan về thần kinh trung ương/
thị giác, đau tăng liên tục hạ sườn phải, thượng 
vị không đáp ứng với điều trị, phù phổi và các 
kết quả xét nghiệm bất thường bao gồm giảm 
tiểu cầu, suy thận, và tăng các men gan trên mức 
gấp đôi ngưỡng trên giá trị bình thường [1]. Cho 
đến hiện này, TSG-SG vẫn còn là một trong ba 
nguyên nhân gây tử vong mẹ và tử vong chu sinh 
hàng đầu liên quan đến thai kỳ [12]. Ngoài ra, 
dư hậu quả của TSG – SG còn kéo dài dai dẳng 
sau khi sinh, ở các lần sinh tiếp theo, các thế hệ 
kế tiếp và là yếu tố nguy cơ liên quan đến các 
bệnh lý tim mạch [13]. 
Song song với tiếp cận trong chẩn đoán và xữ 
trí, thì các chiến lược dự báo và dự phòng cũng 
đã được nghiên cứu tích cực. Ngoài phương 
pháp tiếp cận truyền thống dựa vào các yếu tố 
tiền sử, bệnh lý và gia đình [11] thì các nghiên 
cứu về các chất chỉ điểm sinh hóa máu mẹ [6], 
khảo sát ành ảnh doppler động mạch tử cung [2] 
và một trong những yếu tố liên quan trực tiếp đến 
triệu chứng TSG là HA động mạch đã được thực 
hiện. Một số nghiên cứu cho thấy kết quả khả 
quan khi sử dụng giá trị HA động mạch để sàng 
lọc TSG. Sử dụng HATB tại thời điểm 11 – 13 
tuần cho tỷ lệ phát hiện TSG sớm, trung gian và 
muộn là 74,3%, 62,9% và 49,3%, khi phối hợp 
thêm giá trị HATB ở thời điểm 20 – 24 tuần cho 
tỷ lệ phát hiện TSG sớm, trung gian, và muộn lên 
đến 84,3%, 65,7% và 52,5%, với tỷ lệ dương tính 
giả 10% [4]. Một tổng quan hệ thống thực hiện 
trên 34 nghiên cứu đã cho thấy phối hợp với các 
yếu tố nguy cơ mẹ, HATB cho kết quả dự báo 
TSG muộn và trung bình tương ứng là 62,0% và 
70,3%, tỷ đương tính giả là 10% [3].
Với kết quả khả quan như vậy, và nhận thấy 
đây là một trong những phương pháp có tính khả 
thi cao, không đòi hỏi chi phí cao chúng tôi thực 
hiện đề tài vơi mục tiêu:
1. Kháo sát giá trị HA động mạch tại thời điểm 
11 -13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển TSG 
về sau.
Materials and methods: Prospective screening study for preeclampsia in pregnant attending their 
first hospital visit. The systolic BP, diastolic BP and MAP were measured and expressed as multiple 
of the median (MoM). The performance of screening for PE by maternal characteristics and systolic 
BP, diastolic BP, and MAP MoM at at 11+0 to 13+6 weeks’ gestation.
Results: The performance of screening for PE in 2.998 singleton pregnancies, there were 3.74% 
of hypertension disorder, and 2.84% cases of pre-eclampsia including 0.43% with early PE (requiring 
delivery < 34 weeks’ gestation) and 2.40% with late PE (delivering < 37 weeks’ gestation). The 
multiple of the median of systolic BP, diastolic BP, and MAP were significantly higher in early-PE and 
late-PE than in the controls. The best performance in screening was provided by MAP. In screening 
by maternal characteristics and MAP, at a false-positive rate of 10%, the detection rates of early-PE 
and late-PE were 63.5% and 35.1%, respectively.
Conclusion: The BP should be expressed as multiple of the median (MoM) after adjustment for 
related factors. The measurement of BP can be combined with the maternal factor to provide effective 
first-trimester screening for PE.
Key word: preeclampsia; gestational hypertension; screening; MAP.
TRƯƠNG QUANG VINH, CAO NGỌC THÀNH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, NGUYỄN VIẾT NHÂN, TRẦN MẠNH LINH 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
32
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
2. Đánh giá hiệu quả dự báo bệnh lý TSG bằng 
HA động mạch.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả thai phụ đơn thai có tuổi thai từ 11 tuần 
đến 13 tuần 6 ngày đến khám sàng lọc và quản lý 
thai ngén tại Khoa Phụ Sản - Bệnh viện Trường Đại 
học Y Dược Huế.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu trên lâm sàng trên 2.998 
thai phụ đến sàng lọc và quản lý thai nghén từ 
tháng 11 năm 2011 đến tháng 3 năm 2015. 
2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu.
Khám và thu thập thông tin sàng lọc quý I 
thai kỳ:
- Thu thập các thông tin về số lần mang thai, 
tiền sử mang thai bị TSG, tiền sử sản khoa, tiền 
sử bệnh lý (tăng HA mãn, tiểu đường, hội chứng 
kháng phospholipid, rối loạn đông máu, tiền 
sử bệnh lý tim mạch, bệnh thận mãn tính. Tiền 
sử gia đình có người mang thai TSG, có người 
tăng HA.
- Khám lâm sàng: Xác định tuổi mẹ, dân tộc, 
tuổi thai, khám các dấu hiệu thai nghén bất thường, 
chỉ số khối cơ thể (BMI), phương pháp thụ thai. 
Đo HA động mạch: 
- Sử dụng máy đo HA tự động OMIRON, Nhật 
Bản, với kích cở băng quấn dành cho người lớn. 
Thai phụ sau khi nghỉ tại chổ 5 phút, tư thế ngồi 
hai chân để lỏng, vị trí cánh tay mang băng quấn 
đo HA ngang mức tâm nhĩ phải. Đo HA hai tay, đo 
hai lần cách nhau 5 phút, xả hết khí trong dải băng 
quấn trước mỗi lần đo. 
- Ghi kết quả hiển thị HATT, HATr và HATB mỗi 
lần đo. HATB được chọn dựa dựa trên kết quả HA 
trung bình cao nhất các lần đo [9].
Tính nguy cơ phát triển TSG:
- Các giá trị HA được hiệu chỉnh theo yếu tố liên 
quan và biểu diễn kết quả theo bội số của trung vị 
MoM. Trong đó giá trị HA kỳ vọng được hiệu chỉnh 
theo các yếu tố phụ thuộc đã được chứng minh 
gồm chủng tộc (chúng tôi tham chiếu giá trị người 
Trung Quốc), BMI, tuổi mẹ, tình trạng hút thuốc [9].
- Xác định nguy cơ cho TSG sớm, TSG muộn 
và tăng HA thai kỳ dựa vào phối hợp nguy cơ tiền 
đinh mẹ [11] và giá trị HA (MoM) theo công thức 
Odds/(1+ odds); Odds = eY. Giá trị Y dựa trên 
phân tích hồi quy đa biến các đặc điểm mẹ, yếu tố 
tiền sử, bệnh lý áp dụng theo cong thức [9]:
- TSG sớm: Y = -1,836 + 1,720 × log (Nguy cơ 
mẹ cho TSG sớm) + 24,169 × log HATB MoM; (R2 
= 0.209, p < 0,0001).
- TSG muộn: Y = - 0,287 + 2,307 × log (Nguy 
cơ mẹ cho TSG muộn) + 20,209 × log HATB MoM; 
(R2 = 0,191, p < 0,0001).
Theo dõi:
- Thai phụ được theo dõi đến hết thời gian hậu 
sản (6 tuần sau sinh). Xác định nhóm TSG–SG 
thông qua hồ sơ bệnh án theo dõi, ghi nhận tình 
trạng bệnh lý, diễn biến, các biến chứng và kết 
quả kết thúc thai kỳ khi thai phụ đến quản lý thai 
nghén, theo dõi chuyển dạ. 
- TSG được định nghĩa xác định theo tiêu chuẩn 
chẩn đoán ACOG [1]. Và được chia thành 2 nhóm 
TSG sớm (trước 34 tuần), TSG muộn (sau 34 tuần).
2.4. Xữ lý số liệu
- Sự xuất hiện TSG là biến số phụ thuộc của 
nghiên cứu và cũng là tiêu chuẩn đánh giá giá trị 
dự báo của HA. So sánh với nhóm thai phụ theo 
dõi không bị TSG để đánh giá vai trò cụ thể các 
thông số HATT, HATr và HATB. Tính diện tích dưới 
đường cong ROC, đánh giá khă năng dự báo TSG, 
xác định tỷ lệ phát hiện ứng với tỷ lệ dương tính giả 
5% và 10%.
- Xử lý số liệu theo phần mềm Medcalc 13.3.3.0.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc điểm chung của nhóm 
nghiên cứu
Có sự khác biệt về trung bình tuổi mẹ, BMI giữa 
nhóm có các rối loạn tăng HA và nhóm không có 
rối loạn tăng HA. 
Tỷ lệ mang thai con rạ có tiền sử mang thai bị 
TSG trong nhóm có rối loạn tăng HA (19,64%) cao 
hơn có ý nghĩa so với nhóm không có rối loại tăng 
HA (0,66%), p <0,0001. 
Cũng có sự khác biệt về tỷ lệ gia đình có người 
mang thai bị TSG (20,54% và 2,29%), gia đình có 
người bị tăng HA (11,61% và 3,57%), có tiếp xúc 
với thuốc là trong thai kỳ giữa hai nhóm (6,25% và 
2,49%) và tỷ lệ sử dụng thuốc kích thích rụng trứng 
(3,57% và 0,42%). 
Bội số của trung vị MoM của HATT, HATr và 
HATB ở nhóm thai phụ phát triển TSG sớm (1,059, 
1,136, 1,147 ) và nhóm phát triển TSG muộn 
(1,059, 1,136, 1,136) cao hơn có ý nghĩa thống 
kê so với nhóm thai phụ không phát triển TSG 
(1,003, 1,050, 1,051), p < 0,005.
Tuy nhiên, không có sự khác biệt về cả ba giá trị 
HATT, HATr và HATB ở nhóm tăng HA thai nghén 
(0,970, 0,1,051, 1,066) so với nhóm không phát 
triển TSG (1,003, 1,050, 1,051), p > 0,05.
3.4. Kết quả sàng lọc TSG bằng HA 
động mạch.
Diện tích dưới đường cong ROC trong dự báo 
TSG sớm, TSG muộn dựa vào duy nhất giá trị HATB 
MoM cho kết quả khá tốt là 0,769 (0,753–0,785) 
và 0,715 (0,699–0,733). 
Diện tích dưới đường cong ROC dự báo TSG 
sớm, TSG muộn của giá trị HATT MoM và HATr 
MoM đơn độc cho kết quả không cao, từ 0,6 – 
0,7. HA động mạch không có giá trị dự báo tăng 
HA thai nghén, diện tích dưới đường cong ROC từ 
0,534 đến 0,597.
Khi phối hợp với yếu tố nguy cơ mẹ và HATB 
MoM, cải thiện kết quả diện tích dưới đường cong 
ROC trong dự báo TSG sớm, TSG muộn tương ứng 
là 0,811 (0,796–0,825) và 0,712 (0,695–0,729).
Phối hợp với yếu tố nguy cơ mẹ, HATT, HATr và 
HATB cải thiện tỷ lệ phát hiện TSG sớm và TSG muộn. 
3.2. Các rối loạn tăng huyết áp trong 
thai kỳ.
Có 112 trường hợp xuất hiện các rối loạn tăng 
HA trong thai kỳ, chiếm tỷ lệ 3,74%. Trong đó, có 
85 trường hợp phát triển TSG, chiếm tỷ lệ 2,84%, 
trong đó 13 trường hợp TSG sớm và 72 trường hợp 
TSG muộn). 
3.3. Giá trị HA tại thời điểm 11-13 
tuần 6 ngày trong nhóm phát triển TSG 
về sau
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 30 - 36, 2016
33
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Các đặc điểm Thai kỳ bình thường Nhóm có rối loạn tăng HA p
Tuổi mẹ trung bình (năm, trung vị) 28,0 (25,0–31,0) 32,2 (27,0–37,0) <0,0001
BMI (kg/m2, trung vị) 19,5 (18,2–21,0) 21,1 (19,8–23,1) <0,0001
CRL (mm, trung vị) 61,0 (55,0–68,0) 58,8 (53,7–65,0) -
Độ mờ da gáy (mm, trung vị) 1,6 (1,3–1,9) 1,5 (1,3–1,9) -
Tuổi thai (ngày, trung vị) 88 (85–91) 87 (84–91) -
Số lần mang thai:
− Con so (n,%)
− Con rạ mang thai bị TSG (n,%)
− Con rạ mang thai không bị TSG (n,%)
1.610 (55,79)
19 (0,66)
1.257 (43,56)
49 (43,75)
22 (19,64)
41 (36,61)
0,0156
<0,0001
-
Tiền sử sản khoa:
− Tiền sử sẩy thai (n,%)
− Tiền sử sinh non (n,%)
− Tiền sử mang thai dị dạng (n,%)
− Tiền sử thai chậm phát triển (n,%)
344 (11,92)
30 (1,04)
21 (0,73)
17 (0,59)
18 (16,08)
2 (1,79)
1 (0,89)
2 (1,79)
-
-
-
-
Phương pháp có thai:
− Mang thai tự nhiên (n,%)
− Dùng thuốc kích thích rụng trứng (n,%)
Có tiếp xúc thuốc lá trong thai kỳ (n,%)
Các bệnh lý liên quan* (n,%)
2.872 (99,51)
12 (0,42)
72 (2,49)
13 (0,45)
108 (96,43)
4 (3,57)
7 (6,25)
2 (1,79)
0,0005
0,0001
0,0325
-
Tiền sử gia đình:
− Mẹ, chị có mang thai bị TSG (n,%)
− Gia đình có người bị tăng HA (n,%)
66 (2,29)
103 (3,57)
23 (20,54)
13 (11,61)
<0,0001
<0,0001
Bảng 1. Một số đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu.
Bội số của trung vị MoM (KTC 95%)
HATT HATr HATB
TSG sớm 1,059 (0,995–1,112)** 1,136 (1,044–1,211)** 1,147 (1,086–1,173)*
TSG muộn 1,059 (1,007–1,147)* 1,136 (1,061–1,212)* 1,136 (1,064–1,170)*
Tăng HA thai nghén 0,970 (0920 –1,115) 1,051 (1,001–1,104) 1,066 (1,017–1,151)
Nhóm chứng 1,003 (0,954–1,056) 1,050 (0,977–1,117) 1,051 (0,999–1,100)
** p < 0,05; * p < 0,0001
Bảng 3. Giá trị bội số trung vị của HA động mạch theo kết quả thai kỳ
AUC (KTC 95%)
TSG sớm TSG muộn Tăng HA thai nghén
HATT 0,664 (0.646–0,681) 0,670 (0,652–0,687) 0,534 (0,515–0,553)
HATr 0,686 (0,668–0,703) 0,709 (0,692–0,726) 0,505 (0,486–0,523)
HATB 0,769 (0,753–0,785) 0,715 (0,699–0,733) 0,597 (0,579–0,616)
Nguy cơ mẹ và:
− HATT
− HATr
− HATB
0,740 (0,724–0,757)
0,749 (0,723–0,765)
0,811 (0,796–0,825)
0,674 (0,657–0,692)
0,724 (0,707–0,740)
0,712 (0,695–0,729)
0,598 (0,579–0,616)
0,614 (0,596–0,632)
0,673 (0,655–0,690)
Bảng 4. Diện tích dưới đường cong ROC dự báo TSG bằng duy nhất HA động mạch và phối 
hợp HA động mạch với nguy cơ mẹ.
Các rối loạn tăng HA trong thai kỳ Số lượng Tỷ lệ (%)
Không có rối loạn HA trong thai kỳ 2.886 96,26
Rối loạn tăng HA trong thai kỳ:
- Tăng HA thai nghén
- TSG
- Tăng HA mãn
- TSG chồng chất
112
15
85
5
7
3,74
0,50
2,84
0,17
0,23
Phân loại TSG (n=85)
- TSG sớm
- TSG muộn
13
72
0,43
2,40
Tổng 2.998 100,00
Bảng 2. Các rối loạn tăng HA trong thai kỳ
Tỷ lệ phát hiện (%) với tỷ lệ dương tính giả 10% (KTC 95%)
TSG sớm TSG muộn Tăng HA thai nghén
HATT 36,4 (11,2–69,1) 33,3 (21,4–47,1) -
HATr 36,4 (11,2–69,1) 28,1 (17,0–41,5) -
HATB 54,6 (23,5–83,1) 31,6 (19,9–45,2) -
Phối hợp với nguy cơ mẹ:
− HATT
− HATr
− HATB
45,5 (16,9–76,5)
45,5 (16,9–76,5)
63,6 (30,9–88,8)
40,4 (27,6–54,2)
35,1 (22,9–48,9)
35,1 (22,9–48,9)
-
18,2 (2,8–51,8)
27,3 (6,3–60,9)
Bảng 5. Tỷ lệ phát hiện TSG khi sàng lọc bằng HA
TRƯƠNG QUANG VINH, CAO NGỌC THÀNH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, NGUYỄN VIẾT NHÂN, TRẦN MẠNH LINH 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
34
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Phối hợp với các yếu tố nguy cơ mẹ, HATB cho 
tỷ lệ phát hiện TSG sớm, TSG muộn tăng từ 54,6% 
lên 63,6%, và 31,6% lên 35,1%, với tỷ lệ dương 
tính giả 10%.
4. Bàn luận
4.1. Giá trị HA tại thời điểm 11-13 
tuần 6 ngày trong nhóm phát triển TSG 
về sau.
Tăng HA là dấu hiệu thứ phát của TSG nhưng 
là một dấu hiệu rất quan trọng quyết định theo 
dõi và chỉ định điều trị. Đo huyết áp đúng là một 
trong nhưng yếu tố quan trọng để đáng giá kết 
quả sàng lọc. Giá trị HA đo lần đầu thường cao 
hơn các lần đo sau, do đo các khuyến cáo nên 
được thực hiện nhiều lần. Có bằng chứng cho 
thấy AUC dự báo TSG bằng HATB thực hiện theo 
khuyến cáo của NHFA [7] cao hơn so với AUC 
dự báo TSG bằng thực hiện 1 lần, 2 lần, 3 lần và 
4 lần một tay, phải hoặc trái. Tuy nhiên, AUC dự 
báo TSG theo khuyến cáo NHFA lại không khác 
biệt so với AUC dự báo TSG bằng HATB hai tay 
đo 1 lần (0,766), 2 lần (0,771), 3 lần (0,773) và 
4 lần (0,765) [9]. Như vây, có thể thực hiện sàng 
lọc TSG bằng lấy HATB của 2 lần đo 2 tay, vừa 
hạn chế được sai số giá trị HA lần đầu vừa phù 
hợp áp dụng lâm sàng hơn so với việc đo 3 lần 
hay 4 lần trên hai tay. Trong nghiên cứu chúng 
tôi, các chỉ số HA được tính dựa vào do 2 tay, 
mỗi tay được đo 2 lần cách nhau mỗi 5 phút theo 
hướng dẫn của FMF [9]. Đồng thời, cứu chúng tôi 
sử dụng máy đo HA tự động với băng quấn phù 
hợp để đo HA để hạn chế được sai số quan sát 
người đo khi nghe bằng ống nghe và xu hướng 
làm tròn trị số HA và nhanh chóng có được giá 
trị HATB các lần đo mà không cần phải tính toán 
như đo bằng máy đo HA thủy ngân. 
Trong thai kỳ, HA trong quí I đã chứng minh 
bị ảnh hưởng bởi trong lượng mẹ, chiều cao, 
tuổi, chủng tộc, hút thuốc lá, tiền sử gia đình bị 
TSG, tăng HA mãn tính [8], trong nghiên cứu, 
chúng tôi hiệu chỉnh các yếu tố liên quan đến 
giá trị HA và biểu diễn các chỉ số HA dưới dạng 
bội số trung vị MoM. 
Có bằng chứng chứng minh HA tăng đáng 
kể ở phụ nữ sau đó phát triển TSG quan sát 
thấy trong quí I và II thai kỳ. Theo Poon, bội số 
của trung vị MoM của giá trị HATT, HATr và 
HATB cở nhóm phát triển TSG sớm (1,13 MoM–
128mmHg, 1,14 MoM–79mmHg, 1,14 MoM–
94,5mmHg), TSG muộn (1,07 MoM–125mmHg, 
1,10MoM–78mmHg, 1,09MoM–93,8mmHg) 
cao hơn nhóm chứng (1,0 MoM–114,5mmHg, 
1,0MoM–69mmHg, 1,0 MoM–84,3mmHg) [8]. 
Tương tự, theo tác giả Dahiana Gallo, giá trị 
HATB trong các thai phụ phát triển TSG (1,055 
MoM–92,5mmHg) cao hơn so với các thai phụ 
bình thường (0,995 MoM–84,7mmHg) [4]. Kết 
quả nghiên cứu chúng tôi không mâu thuẩn 
với các nghiên cứu trươc đó, có sự khác biệt 
có ý nghĩa bội số của trung vị MoM của giá 
trị HATT, HATr và HATB ở nhóm thai phụ phát 
triển TSG sớm (1,059; 1,136; 1,147 MoM), đặc 
biệt nhóm phát triển TSG muộn (1,059, 1,136, 
1,136 MoM, p < 0,0001), so với nhóm thai phụ 
không phát triển TSG (1,003, 1,050, 1,051 
MoM). Tuy nhiên, không có sự khác biệt về cả 
ba giá trị HATT, HATr và HATB ở nhóm tăng HA 
thai nghén (0,970, 1,051, 1,066 MoM) so với 
nhóm chứng, không phát triển TSG, p > 0,05.
4.2. Vai trò sàng lọc bệnh lý TSG dựa 
vào HA động mạch.
Trong thai kỳ, tiếp cận truyền thống là lựa 
chọn HATr hơn là HATT như là yếu tố dự báo các 
kết quả thai kỳ bất lợi do các rối loạn tăng HA 
trong thai kỳ. Cụ thể, WHO khuyến cáo trong 
phân loại TSG nên dựa vào HATr, sử dụng HATB 
sẽ không chỉ làm tăng khả năng sai sót cộng dồn 
do sai số khi xác dịnh HATT và HATr. Tuy nhiên, 
những kết quả của nghiên cứu gầy đây không 
chỉ chứng minh giá trị HA tại thời điểm 11 – 13 
tuần tăng trong những thai kỳ sau đó phát triển 
tăng HA thai nghén, đặc biệt tăng rõ ràng trong 
TSG, mà còn cho thấy sàng lọc TSG bằng sử 
dụng chỉ số HATB có vẻ tốt hơn so với HATT và 
HATr [3], [11]. 
Cụ thể, trong một tổng quan hệ thống do 
Jeltsje S Cnossen và cộng sự thực hiện gồm 34 
nghiên cứu trên 60.599 thai phụ, trong đó có 
3.341 trường hợp TSG, dữ liệu được thu thập từ 
Medline, Embase, thư viện Cochrane và Medion 
(đến năm 2007). Nhóm tác giả kết luận chỉ số 
HATB có giá trị cao hơn HATT, HATr và sự biến 
thiên HA trong dự báo TSG [3]. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 30 - 36, 2016
35
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Trong nghiên cứu, chúng tôi đánh giá giá trị 
dự báo của ba thông số, HATB, HATT và HATr. 
Kết quả nghiên cứu chúng tôi cũng cho thấy 
giá trị dự báo TSG dựa vào HATB tốt hơn so 
với HATT và HATr, AUC dự báo TSG sớm, TSG 
muộn dựa vào duy nhất giá trị HATB MoM cho 
kết quả khá tốt, tương ứng là 0,769 (0,753–
0,785) và 0,715 (0,699–0,733). Tuy nhiên, 
AUC dự báo TSG sớm, TSG muộn của giá trị 
HATT MoM và HATr MoM đơn độc cho kết quả 
không cao, nằm trong khoảng từ 0,6 – 0,7. 
Chúng tôi nhận thấy, HA động mạch không 
có giá trị dự báo tăng HA thai nghén, AUC 
dự báo tăng HA thai nghén của HATT, HATr 
và HATB đều cho kêt quả từ 0,534 đến 0,597. 
Kết quả cũng cho thấy khi phối hợp với yếu 
tố nguy cơ mẹ, HATT, HATr và HATB cải thiện 
tỷ lệ phát hiện TSG sớm và TSG muộn. Đối với 
HATB, phối hợp với yếu tố nguy cơ mẹ làm cải 
thiện kết quả AUC trong dự báo TSG sớm, TSG 
muộn tương ứng là 0,811 và 0,712, tỷ lệ phát 
hiện TSG sớm, TSG muộn tăng từ 54,6% lên 
63,6%, và 31,6% lên 35,1%, với tỷ lệ dương 
tính giả 10%. Đối với HATr và HATT cho tỷ lệ 
phát hiện TSG thấp hơn, tỷ lệ phát hiện TSG 
sớm đều 45,5%, tỷ lệ phát hiện TSG muộn là 
35,1% và 40,4%. Tỷ lệ phát hiện TSG trong 
nghiên cứu chúng tôi tương đương với nghiên 
cứu của Leona Poon và công sự công bố năm 
2011, nghiên cứu giá trị dự báo TSG của 
HATB, HATr và HATT tại cùng thời điểm sàng 
lọc với nghiên cứu chúng tôi. AUC phát hiện 
TSG sớm, muộn và tăng HA thai nghén khi 
sàng lọc bằng HATT (0,881, 0,836, 0,774), 
HATr (0,886, 0,853, 0,773) và HATB (0,898, 
0,854, 0,782). Tỷ lệ phát hiện đối với TSG 
sớm, muộn và tăng HA thai nghén khi sàng lọc 
bằng các đặc điểm mẹ thứ tự là 47%, 41%, và 
31%, Khi kết hớp với HATB tỷ lệ phát hiện lên 
thứ tự là 76%, 52%, và 48%. với tỷ lệ dương 
tính giả 10% [8]. Tương tự, công trình nghiên 
cứu của Dahiana Dallo và công sự năm 2014 
về vai trò dự báo TSG – SG bằng HA động 
mạch tại thời điểm 11 – 13 tuần và 20 – 24 
tuần trên 17.383 trường hợp, trong đó 537 
trường hợp phát triển TSG. Kết quả cho thấy 
sàng lọc TSG bằng HATB tại thời điểm 11 – 13 
tuần cho tỷ lệ phát hiện TSG trước 34 tuần và 
trước 37 tuần thứ tự là 74,3% và 62,9%, tỷ lệ 
dương tính giả 10%. Trong tổng quan hệ thống 
của Cnossen đã nêu trên, phối hợp với các yếu 
tố nguy cơ mẹ, HATB cho kết quả dự báo TSG 
muộn và trung bình tương ứng là 62,0% và 
70,3%, tỷ đương tính giả là 10% [3].
5. Kết luận
Đặc điểm HA động mạch tại thời điểm 11 
-13 tuần 6 ngày ở các thai phụ phát triển TSG 
về sau.
- Bội số của trung vị MoM của HATT, HATr 
và HATB ở nhóm thai phụ phát triển TSG sớm 
(1,059, 1,136 và 1,147 MoM) và nhóm phát 
triển TSG muộn (1,059, 1,136 và 1,136 MoM) 
cao hơn so với nhóm thai phụ không phát triển 
TSG (1,003, 1,050 và 1,051 MoM). 
- Không có sự khác biệt các giá trị HA giữa 
nhóm tăng HA thai nghén và nhóm chứng.
Hiệu quả dự báo bệnh lý TSG bằng HA 
động mạch.
- Diện tích dưới đường cong ROC dự báo 
TSG sớm, TSG muộn của giá trị HATT MoM và 
HATr MoM đơn độc cho kết quả không cao, từ 
0,6 – 0,7.
- Diện tích dưới đường cong ROC dự báo TSG 
sớm, TSG muộn của HATB là 0,769 và 0,715. 
- Phối hợp với yếu tố nguy cơ mẹ và HATB 
làm cải thiện kết quả diện tích dưới đường cong 
ROC trong dự báo TSG sớm và TSG muộn, 
tương ứng là 0,811 và 0,712. Tỷ lệ phát hiện 
TSG sớm, TSG muộn là 63,6%, và 35,1% tương 
ứng với tỷ lệ dương tính giả 10%.
6. Kiến nghị
Sàng lọc bằng HA động mạch là phương 
pháp thực hiện rẻ tiền và tính khả thi cao. Đo HA 
đúng phương pháp và các giá trị HA nên được 
hiệu chỉnh các yếu tố liên quan và biểu diễn 
dưới dạng bộ số của trung vị MoM khi đánh giá. 
Nên phối hợp thêm các yếu tố dự báo khác 
như các đặc điểm tiền căn mẹ, giá trị siêu âm 
doppler động mạch tử cung và các chất chỉ điểm 
sinh hóa để hiệu quả dự báo TSG.
TRƯƠNG QUANG VINH, CAO NGỌC THÀNH, NGUYỄN VŨ QUỐC HUY, VÕ VĂN ĐỨC, NGUYỄN VIẾT NHÂN, TRẦN MẠNH LINH 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
36
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. American College of Obstetricians and Gynecologists (2013), “Chapter 1: 
Classification of Hypertensive Disorders”, Hypertension in Pregnancy, p. 13-17.
2. Anthony C. Sciscione, Edward J. Hayes (2009), “Uterine artery 
Doppler flow studies in obstetric practice”, American Journal of Obstetrics 
& Gynecology August 2009. P.121-126.
3. Cnossen Jeltsje S., Vollebregt Karlijn C., Nynke de Vrieze, Gerben 
Ter Riet, Ben W.J. Mol, Arie Franx, Khalid S Khan, Joris A M van der 
Post (2008), “Accuracy of mean arterial pressure and blood pressure 
measurements in predicting pre-eclampsia: systematic review and meta-
analysis”, BMJ, 336: p.1117. 
4. Gallo D., Poon L.C., Fernandez M., Wright D., Nicolaides K.H. (2014), 
“Prediction of preeclampsia by mean arterial pressure at 11-13 and 20-24 
weeks’ gestation”, Fetal Diagn Ther 36(1): p. 28-37. 63.
5. Hind N. Moussa, Sara E. Arian Mehr, Baha M. Sibai (2014), 
“Management of Hypertensive Disorders in Pregnancy”, Women’s Health, 
10(4): p. 385-404.
6. Lakshmi T.P., Rosy C., Ratnakar K.S., Vijayalakshmi K., Sritharan V. 
(2013), “Biomarkers for the management of pre-eclampsia in pregnant 
women”, Indian J Med Res. Jul 2013; 138(1): p. 60-67.6
7. National Heart Foundation of Australia (2008), “Guide to management 
of hypertension 2008”, 
8. Poon L.C.Y., Kametas N.A., Valencia V., Chelemen T., Nicolaides 
Nicolaides K.H. (2011), “Hypertensive Disorders in Pregnancy: Screening 
by Systolic Diastolic and Mean Arterial Pressure at 11–13 Weeks”, 
Hypertension in Pregnancy, 30: p. 93-107.
9. Poon L.C.Y., Zymeri N.A., Zamprakou A., Syngelaki A., Nicolaides 
K.H. (2012), “Protocol for measurement of mean arterial pressure at 11-
13 weeks’ estation”, Fetal Diagnosis and Therapy, 31(1): pp. 42-48.
10. Poon L.C.Y., Kametas N.A., Chelemen T., Leal A., Nicolaides K.H. 
(2010), “Maternal risk factors for hypertensive disorders in pregnancy: a 
corvariate approach”. J Hum Hypertens 2010 Feb, 24 (2): p. 104-110.
11. Ryuhiko Iwasaki, Akihide Ohkuchi, Itsuko Furuta, Toshiyuki Ojima, 
Shigeki Matsubara, Ikuo Sato, Hisanori Minakami (2002), “Relationship 
between blood pressure level in early pregnancy and subsequent changes 
in blood pressure during pregnancy”, Acta Obstetricia et Gynecologica 
Scandinavica, 81(10): p. 918-925.
12. Say L et al (2014), “Global causes of maternal death: a WHO 
systematic analysis”, Lancet Glob Health 2014; 2: e323–33.
13. Wietske Hermes et al (2010), “10-Year cardiovascular event risks for 
women who experienced hypertensive disorders in late pregnancy: the 
HyRAS study”. BMC Pregnancy and Childbirth, 10: p. 28.

File đính kèm:

  • pdfhuyet_ap_dong_mach_tai_thoi_diem_11_13_tuan_6_ngay_o_cac_tha.pdf