Hướng dẫn thực hành: Theophylline và khuyến cáo sử dụng
Theophylline là thuốc dãn phế quản được sử trong nhóm bệnh lý tắc nghẽn đường dẫn khí. Ngoài tác động
dãn phế quản, Theophylline còn được nghiên cứu ở vai trò kháng viêm khác biệt với corticoisteroids.
Thông qua cơ chế hồi phục hoạt động của Histone deacetylase – 2, Theophylline làm đảo ngược tình trạng
kháng corticosteroids, đặc biệt là ở bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn
nặng. Cho đến nay, việc sử dụng Theophylline như một điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân hen chưa kiểm soát
bằng corticosteroid dạng hít có hay không kết hợp LABA hay bệnh nhân BPTNMT (COPD) giai đoạn nặng
chưa ổn định khi điều trị thuốc dãn phế quản. Hiệu quả điều trị của Theophylline phụ thuộc vào nồng độ
thuốc, được quyết định chủ yếu bởi sự chuyển hoá qua gan. Tác dụng phụ của thuốc cũng liên quan đến
nồng độ thuốc, như nôn ói, đau đầu do ức chế PDE, rối loạn nhịp tim, co giật do thuốc đối kháng thụ thể
Adenosine A1. Do đó, sử dụng liều thấp Theophylline kéo dài có thể hữu dụng nhằm giảm tình trạng đề
kháng corticosteroid và giảm nguy cơ độc tính của thuốc.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hướng dẫn thực hành: Theophylline và khuyến cáo sử dụng
Hướng dẫn tHực HànH 71 Hô hấp số 17/2018 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Bên cạnh Caffeine và Theobromine trong cùng nhóm Methylxanthine, Theophylline (dimethylxanthine) là thuốc dãn phế quản được sử dụng rộng rãi hơn 80 năm nay, lần đầu tiên được giới thiệu trong điều trị hen phế quản từ năm 1922. Ngoài tác dụng dãn phế quản, thuốc còn được dùng như một chất kích thích hô hấp trong hội chứng ngưng thở ở trẻ sơ sinh. Theophylline thường được sử dụng đường uống (dạng viên phóng thích nhanh hoặc chậm) hoặc dưới dạng hoà tan, aminophylline (dạng muối của ethylenediamine) sử dụng đường uống hoặc tiêm truyền tĩnh mạch. 2. CƠ CHẾ TÁC DỤNG Nhiều cơ chế tác dụng của Theophylline đã được ghi nhận khi sử dụng liều cao, có thể tóm tắt như sau: - Theophylline ức chế không chọn lọc Phosphodiesterase (PDE), làm tăng nồng độ cAMP và 3’,5’ guanosine monophosphate nội bào. Ngoài tác động chủ yếu và trực tiếp PDE, thuốc còn hạn chế sự phóng thích các hoá chất trung gian từ đại thực bào phế nang và tác dụng hiệp đồng với b-agonist gây dãn cơ trơn đường thở (hình 1). - Theophylline kích thích thụ thể Adenosine (A1 và A2) gây dãn cơ trơn ở liều điều trị. Adenosine gây co thắt đường thở ở bệnh nhân hen phế quản do tăng phóng thích histamin và leukotrienes từ các tế bào viêm. - Theophylline làm gia tăng Histone deacetylase 2 (HDAC2) thông qua sự ức chế phosphoinositide 3-kinase-d. Tác dụng này được ghi nhận ngay cả ở liều thấp (khoảng 5 mg/L), làm phục hồi hoạt động HDAC và giảm sự đề kháng corticosteroid trong tế bào ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. 3. DƯỢC ĐỘNG HỌC Theophylline được hấp thu nhanh và hoàn toàn, được chuyển hoá qua gan bởi hệ thống enzyme THEOPHyLLINE VÀ KHuyẾN CÁO SỬ DỤNG TS. BS. Võ PHẠM MINH THƯ Bộ môn Nội, Đại học Y Dược Cần Thơ Tóm tắt Theophylline là thuốc dãn phế quản được sử trong nhóm bệnh lý tắc nghẽn đường dẫn khí. Ngoài tác động dãn phế quản, Theophylline còn được nghiên cứu ở vai trò kháng viêm khác biệt với corticoisteroids. Thông qua cơ chế hồi phục hoạt động của Histone deacetylase – 2, Theophylline làm đảo ngược tình trạng kháng corticosteroids, đặc biệt là ở bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn nặng. Cho đến nay, việc sử dụng Theophylline như một điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân hen chưa kiểm soát bằng corticosteroid dạng hít có hay không kết hợp LABA hay bệnh nhân BPTNMT (COPD) giai đoạn nặng chưa ổn định khi điều trị thuốc dãn phế quản. Hiệu quả điều trị của Theophylline phụ thuộc vào nồng độ thuốc, được quyết định chủ yếu bởi sự chuyển hoá qua gan. Tác dụng phụ của thuốc cũng liên quan đến nồng độ thuốc, như nôn ói, đau đầu do ức chế PDE, rối loạn nhịp tim, co giật do thuốc đối kháng thụ thể Adenosine A1. Do đó, sử dụng liều thấp Theophylline kéo dài có thể hữu dụng nhằm giảm tình trạng đề kháng corticosteroid và giảm nguy cơ độc tính của thuốc. Từ viết tắt: BPTNMT: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; ICS: Inhaled corticosteroid (corticosteroid hít); HDAC: histone deacetylase; PDE: phosphodiesterase; SABA: short-acting b2-agonist; LABA: long-actingb2-agonist; FVC: forced volume capacity; FEV1: forced expiratory volume in 1 second; Hướng dẫn tHực HànH 72 Hô hấp số 17/2018 cytochrom P450 trong tiêu thể, mà khởi đầu là CYP1A2. Một số bệnh đồng mắc có thể làm ảnh hưởng đến sự đào thải của Theophylline. Khi sử dụng Theophylline ở bệnh nhân có suy chức năng gan, viêm phổi, suy tim sẽ làm giảm khả năng thanh thải thuốc nên cần tăng liều điều trị. Nhiễm siêu vi và chủng ngừa cúm cũng làm ảnh hưởng đến thải trừ thuốc nên cần chú ý nhất là đối với trẻ em. Bên cạnh đó, sự tác động của một số thuốc dùng chung đến khả năng thải trừ của Theophylline cần được lưu ý để điều chỉnh liều. Đối với các thuốc Phenytoin, Phenobarbitone hoặc Rifampicin làm tăng hoạt động của P450 nên khuyến cáo tăng liều Theophylline. Ngược lại, một số thuốc kháng sinh (Erythromycin, Ciprofloxacin, Clarithromycin) và các thuốc khác như Allopurinol, Cimetidine, Zileuton làm ảnh hưởng đến chức năng của CYP1A2, cần giảm nửa liều điều trị của Theophylline. Hình 1. Cơ chế tác dụng của Theophylline 4. DƯỢC LỰC HỌC Theophylline có tác động ở mức độ tế bào có thể giúp điều trị hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) dựa vào các hiệu quả sau: - Tác động dãn phế quản: Khi đánh giá hiệu quả dãn phế quản, nhiều nghiên cứu đã ghi nhận mối liên quan giữa nồng độ Theophylline trong máu và sự cải thiện chức năng của đường thở. Hiệu quả này thấp khi nồng độ thuốc < 10mg/L và có hiệu quả dãn phế quản rõ ràng song hành với sự xuất hiện của tác dụng phụ ở nhiều mức độ với liều > 25mg/L. Trong thực nghiệm, tiêm Aminophylline gây dãn phế quản cấp ở bệnh nhân hen nhờ hiệu quả dãn cơ trơn và một phần tác động lên sự co thắt phế quản được kích phát từ Histamin, Methacholine và sự gắng sức. Theophylline dùng đường uống sẽ giảm hiện tượng bẫy khí ở bệnh nhân BPTNMT do tác động ở đường thở ngoại vi. - Tác động kháng viêm: Theophylline có hiệu quả kháng viêm ở bệnh nhân hen và BPTNMT với liều thấp so với liều dãn phế quản, trong khoảng Hướng dẫn tHực HànH 73 Hô hấp số 17/2018 5 - 10 mg/L (1). Tác động này là do Theophylline ức chế sự giải phóng các hoá chất trung gian từ tế bào mast và các gốc oxy hoá tự do từ bạch cầu đa nhân trung tính (BCĐNTT). Liều thấp Theophylline làm giảm đáp ứng pha muộn và dòng thác bạch cầu ái toan sau khi hít dị nguyên và giảm số lượng bạch cầu ái toan (BCAT) trong mẫu sinh thiết phế quản, dịch rửa phế quản phế nang và mẫu đàm khạc ở bệnh nhân hen nhẹ (2). Ở bệnh nhân BPTNMT, Theophylline làm giảm tỷ lệ thành phần BCĐNTT và nồng độ CXCL8 trong đàm khạc, cho thấy cơ chế kháng viêm khác với corticosteroids. Ở nồng độ cao, Theophylline ức chế sự tích lũy lymphocyte CD4+ và CD8+ và các hoá chất tiền viêm từ lymphocyte T. Hơn nữa, liều thấp Theophylline có hiệu quả đáng kể trên hoạt động của HDAC trong đại thực bào dịch rửa phế quản phế nang và ở tế bào biểu mô (3). Hình 2. Hiệu quả ở tế bào của Theophylline (Nguồn: P.J. Barnes. Am J Respir Care Med, 2013) - Các tác động khác: Theophylline tác động đến sự gia tăng IL-10, thúc đẩy sự chết tế bào theo chương trình của các tế bào viêm (như BCĐNTT, tế bào T). Một số tác động trực tiếp ở thành phần cấu trúc đường thở như giảm xuất tiết, tăng hoạt động của tế bào lông chuyển, tăng hoạt động của cơ hô hấp (đặc biệt là Aminophylline làm tăng sự co của cơ hoành)... cũng được ghi nhận. 5. KHuyẾN CÁO SỬ DỤNG TRONG HEN VÀ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH Nhìn chung, việc sử dụng Theophylline đường uống trong giai đoạn ổn định có tác dụng dãn phế quản, góp phần cải thiện triệu chứng lâm sàng và chức năng phổi. Tuy nhiên, Theophylline kém hiệu quả và khó dung nạp so với dãn phế quản tác dụng dài đường hít. Trong đợt cấp, vai trò của Theophylline rất kém và không ổn định nên không chỉ định thường quy (4). Trong đợt cấp: Thuốc được nghiên cứu trong đợt cấp BPTNMT và hen phế quản chủ yếu là Aminophylline truyền tĩnh mạch. Tuy nhiên, khi phân tích hệ thống cho thấy không có bằng chứng sử dụng thêm Aminophylline truyền tĩnh mạch là có lợi khi đã khí dung thuốc dãn phế quản b2-agonist ở bất kỳ kết cục lâm sàng nào (5). Trong trường hợp đã thất bại với điều trị bằng thuốc dãn phế quản b2-agonist, có thể xem xét truyền tĩnh mạch chậm, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn và nồng độ thuốc trong máu. Tương tự, Aminophylline không được khuyến cáo thường quy trong đợt cấp BPTNMT (6,7). Trong giai đoạn ổn định: - Hen phế quản: Ở bệnh nhân hen, Theophylline được khuyến cáo là thuốc dãn phế quản hỗ trợ nếu bệnh nhân không đạt kiểm soát hen dù đã phối hợp ICS liều cao và LABAs (8). Trong một nghiên cứu đối chứng với giả dược ở bệnh nhân hen nặng được kiểm soát với ICS liều cao, có sự tiến triển xấu về triệu chứng lâm sàng và chức năng phổi ở nhóm giả dược so với nhóm dùng liều thấp Theophylline (9). Một nghiên cứu khác cho thấy bổ sung Theophylline liều thấp vào liệu trình ICS liều cao ở bệnh nhân hen chưa kiểm soát sẽ đạt được sự kiểm soát tốt hơn so với tăng gấp đôi liều ICS. Ghi nhận thú vị trong nghiên cứu này đó là mức độ cải thiện của FVC hơn hẳn FEV1, được lý giải do hiệu quả ở đường dẫn khí ngoại vi và hiện tượng bẫy khí. Hơn nữa, sự cải thiện tình trạng tắc nghẽn tương đối chậm do tác dụng của Theophylline liều thấp có ý nghĩa kháng viêm hơn là tác dụng dãn phế quản. Sử dụng Theophylline liều thấp có làm tăng kiểm soát hen hay không so với b2-agonist ở bệnh nhân hen nặng đang dùng ICS liều cao vẫn còn chưa có bằng chứng thuyết phục. Bên cạnh ghi Hướng dẫn tHực HànH 74 Hô hấp số 17/2018 nhận về mức độ kiểm soát hen của Theophylline có vẻ tốt hơn (10), một nghiên cứu khác cho thấy nên kết hợp khi bệnh nhân mất kiểm soát ở liều ICS trung bình. Sự kết hợp này ít chi phí hơn so với kết hợp LABA mặc dù ít hiệu quả hơn (11). Ngoài ra, Theophylline liều thấp cũng hiệu quả ở nhóm bệnh nhân hen đang hút thuốc lá, có tình trạng đáp ứng kém với ICS do tăng hoạt động HDAC2. Dựa vào hiệu quả về triệu chứng và mức độ kiểm soát, Theophylline là một lựa chọn cho bệnh nhân hen từ bậc 2 trở lên. Tuy nhiên, đây là một lựa chọn không thường quy và sử dụng sau khi đã tăng liều ICS và kết hợp với LABA (GINA, 2017). - Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: Theophylline làm tăng khả năng gắng sức và giảm hiện tượng bẫy khí ở bệnh nhân BPTNMT. Từ đó, một số hiệu quả của thuốc được ghi nhận như bệnh nhân cải thiện triệu chứng lâm sàng, tình trạng gắng sức và chất lượng cuộc sống. Sự cải thiện chức năng phổi, phân áp oxy và carbon dioxide trong máu cũng được kết luận trong một số nghiên cứu (12). Ở bệnh nhân BPTNMT giai đoạn nặng, sử dụng phối hợp Theophylline với LABA mang lại hiệu quả hiệp đồng dãn phế quản (13). Nhờ vào cơ chế phục hồi hoạt động của HDAC2 trong đại thực bào ở bệnh nhân BPTNMT, Theophylline liều thấp ước tính giảm 50% đợt cấp trong năm so với dùng một thuốc dãn phế quản. Hơn nữa, khả năng phục hồi sau đợt cấp ở những bệnh nhân dùng thuốc gia tăng do giảm tình trạng viêm và tăng hoạt động HDAC. Ở bệnh nhân BPTNMT giai đoạn trung bình, sử dụng liều thấp Theophylline “thêm vào” điều trị ICS sẵn có sẽ tạo hiệu quả kháng viêm và cải thiện FEV1 so với đơn trị thuốc ICS có ý nghĩa thuyết phục, bên cạnh đó cũng giảm được tần suất đợt cấp trên một số lượng khá giới hạn các nghiên cứu (14). Điều này cho thấy vai trò đảo ngược tình trạng đề kháng ICS của Theophylline ở bệnh nhân BPTNMT. Tác động này có thể một phần do hiệu quả của dãn phế quản đã được ghi nhận ở tuần điều trị đầu tiên, còn sự tác động của thuốc lên hoạt động HDAC chỉ quan sát được trong 4 - 6 tuần sau đó (3) đã làm hạn chế thời điểm đánh giá tác dụng của thuốc. 6. LIỀu LƯỢNG, TƯƠNG TÁC THuỐC VÀ TÁC DỤNG PHỤ Khi đánh giá các kết cục có liên quan đến điều trị bằng Theophylline cho thấy chế độ liều có ý nghĩa quan trọng trong cải thiện các chỉ tiêu đánh giá cũng như sự xuất hiện của các biến cố. Liều lượng: - Liều Aminophylline truyền tĩnh mạch liều tải 6 mg/kg trong 20 - 30 phút, duy trì 0.5 mg/kg/ giờ. Nếu bệnh nhân đã dùng Theophylline trước đó hoặc có những yếu tố làm giảm thanh thải thuốc thì nên dùng ½ liều và theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh thường xuyên. Mỗi liều dùng 1 mg/kg Theophyline sẽ làm tăng nồng độ trong máu lên 2 mg/L. - Bệnh nhân cần chuyển sang đường uống ngay khi có thể. Theophylline dạng phóng thích chậm dùng đường uống sẽ có nồng độ thuốc trong máu tăng dần từ 12 đến 24 giờ. Liều điều trị dãn phế quản trong khoảng 200 - 400 mg hai lần mỗi ngày. Liều điều trị kháng viêm sẽ bằng ½ liều trên. - Giới hạn điều trị là nồng độ Theophylline trong huyết thanh là 10 - 20 mg/l (55 - 110 mcmol/l). Ngưỡng gây ngộ độc nhẹ là 20 - 40 mg/L, trung bình là 40 - 70 mg/L và nặng là ³ 70 mg/L. - Cách tính liều tương đương như sau: Theophilline = Aminophilline x 0,8 = Oxtriphilline x 0,65. - Các đường dùng khác như tiêm bắp hay đặt hậu môn không được khuyến cáo bởi gây đau và hiệu quả không đáng tin cậy. Tương tác thuốc: - Các thuốc làm tăng độc tính của Theophylline: Cimetidine gây tăng 20 - 40% nồng độ Theophylline, sự tương tác này xảy ra từ 24-72 giờ sau điều trị. Hướng dẫn tHực HànH 75 Hô hấp số 17/2018 Ciprofloxacin, Erythromycine có thể làm tăng nồng độ Theophylline lần lượt trong khoảng 30 - 50%, 20 - 40% khi bắt đầu sử dụng. Do đó, cần định lượng nồng độ Theophylline sau 72 giờ điều trị. - Thuốc làm giảm tác dụng của Theophylline: . Phenytoine làm giảm nồng độ Theophylline. . Rifampicine làm tăng chuyển hoá Theophylline, bắt đầu từ 48 - 72 giờ sau điều trị. Tác dụng phụ: - Các chỉ tiêu theo dõi hiệu quả: . Trong đợt cấp chủ yếu bằng triệu chứng lâm sàng của tình trạng suy hô hấp cấp, sự thay đổi của giá trị lưu lượng đỉnh (PEER), khí máu động mạch. . Trong giai đoạn ổn định đánh giá triệu chứng khó thở, tần suất đợt cấp tái diễn, sự cải thiện của FEV1, đo nồng độ thuốc mỗi 6 tháng. Đánh giá tác dụng phụ: Bảng 1. Tác dụng phụ theophylline Cơ quan Cơ chế khi quá liều Biểu hiện Não - Đối kháng Adenosin làm tăng giải phóng nor- epinephrine - Tăng giải phóng catecholamin nội sinh Tăng kích thích, bức rứt, khó ngủ, nhức đầu. Run giật, co giật Phổi - Ức chế quá mức PDE - Tăng kích thích b-adrenergic Dãn phế quản Tim Tăng cung lượng tim, tăng tốc độ dòng máu, giảm độ nhớt, giảm thể tích Rối loạn nhịp, tăng nhịp tim, hạ huyết áp Gan và đường tiêu hoá - Tăng tiết dịch tiêu hoá - Dãn cơ trơn Biểu hiện sớm bằng buồn nôn, nôn, tiêu chảy, biếng ăn, trào ngược dạ dày thực quản. Cơ vân - Tăng calcium nội bào - Tăng tiêu thụ oxy - Tăng chuyển hoá cơ bản Tăng co thắt Giảm cân Thận Tăng bài niệu Tiểu nhiều Một số rối loạn chuyển hoá khác như hạ kali, tăng canxi máu, tăng thân nhiệt, toan chuyển hoá... cũng đã được ghi nhận. Nguyên tắc xử trí ngộ độc: - Nhịp tim nhanh: sử dụng b- blockers không chọn lọc (như propranolol) có thể làm co thắt phế quản, có thể điều trị b1- blockers chọn lọc (như esmolol) cho bệnh nhân hen phế quản. Lidocain được lựa chọn cho rối loạn nhịp thất. - Hạ huyết áp: bù dịch đường tĩnh mạch và/ hoặc thuốc vận mạch. - Co giật: chọn lựa ưu tiên là Diazepam, sau đó là phenobarbital. Phenytoin không được chọn lựa. - Bù kali khi giảm, điều trị sodium bicarbonat khi xuất hiện toan hoá máu. - Nôn ói nhiều: chọn lựa Ranitidine 50mg, Metoclopramide 10mg tiêm tĩnh mạch. - Lọc máu cần xem xét ở nhóm nguy cơ cao như nồng độ Theophylline trong huyết thanh ³100 mg/L; bệnh nhân lớn tuổi, bệnh mạn tính có nồng độ Theophylline trong huyết thanh ³ 30 mg/L; tình trạng đe doạ tính mạng như co giật kéo dài, rối loạn nhịp không kiểm soát được hay tụt huyết áp kéo dài. Hướng dẫn tHực HànH 76 Hô hấp số 17/2018 KẾT LuẬN Hiệu quả thật sự của các dẫn xuất xanthine vẫn còn nhiều tranh cãi. Bên cạnh tác dụng dãn phế quản đã được hiểu biết đầy đủ, Theophylline còn được đánh giá ở khía cạnh điều trị theo cơ chế kháng viêm khi sử dụng liều thấp. Tuy nhiên, ngộ độc thuốc liên quan đến liều thuốc đã làm tăng nguy cơ cho người bệnh và hạn chế chọn lựa điều trị. Do đó, việc điều trị “thêm vào” của Theophylline một cách chọn lọc ở bệnh nhân hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn nặng, kém đáp ứng với các điều trị cơ bản đã được khuyến cáo. Tài liệu tham khảo 1. Barnes PJ. Theophylline in COPD: new horizons. Proc Am Thorac Soc 2005;2:334-339. 2. Lim S et al. Low-dose theophylline reduces eosinophilic inflammation but not exhaled nitric oxide in mild asthma. Am J Respir Crit Care Med 2001; 164:273-276. 3. Kazuhiro Ito et al. A molecular mechanism of action of theophylline: induction of histone deacetylase activity to decrease inflammatory gene expression. 4. Claus F. Vogelmeier. Possible harms of Theophylline in COPD. Dtsch Arztebl Int 2014;111:291-292. 5. Nair P et al. Addition of intravenous aminophylline to inhaled beta(2)-agonists in adults with acute asthma. Cochrane Database Syst Rev 2012;12:CD002742. 6. Barr RG et al. Methylxanthines for exacerbations of COPD. Meta-analysis of randomised trial. BMJ 2003;327:643. 7. Barnes PJ. Theophylline. Am J Respir Crit Care Med 2013; 118(8):901-906. 8. Duff N et al. Intravenous aminophylline in patients admitted to hospital with non-acidotic exacerbations of COPD: a prospective randomised controlled trial. Thorax 2005;60:713-717. 9. Kidney JD et al. Immunomodulation by theophylline in asthma. Demonstration by withdrawal of therapy. Am J Respir Crit Care Med 1995; 151:1907-1914. 10. Rivington RN et al. Efficacy of slow-release theophylline, inhaled salbutamol and their combination in asthmatic patients on high-dose inhaled steroids. Am J Respir Crit Care Med 1995;151:325-332. 11. Wilson AJ et al. Long acting beta-agonists versus theophylline for maintenance treatment of asthma. Cochrane Database Syst Rev 2000;2:CD001281. 12. Ram FSF et al. Oral Theophylline for chronic obstructive pulmonary disease. Cochrane Database Syst Rev 2002;4:CD003902. 13. Eliane C Z. Effect of theophylline associated with short- acting or long-acting inhaled b2-agonists in patients with stable COPD: a systematic review. J Bras Pneumol 2007;33(2):152-160 14. Graham D. Use of low-dose oral theophylline as an adjunct to inhaled corticosteroids in preventing exacerbations of COPD: study protocol for a randomised controlled trial. BioMed Central 2015; DOI 10.1186/ s13063-015-0782-2.
File đính kèm:
huong_dan_thuc_hanh_theophylline_va_khuyen_cao_su_dung.pdf

