Hợp tác Việt Nam - Campuchia: những thành tựu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe

Hợp tác y tế giữa Việt Nam và Campuchia là một trong những hoạt động đặc biệt quan trọng. Quá trình hợp

tác này không những tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, mà còn góp phần tăng cường trao

đổi giữa hai nước trên các lĩnh vực cũng như kết nối khu vực trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bài viết đi từ những

tiền đề hợp tác, một số thành tựu chủ yếu và bước đầu đưa ra một số đánh giá chung về hợp tác y tế giữa Việt Nam - Campuchia.

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Hợp tác Việt Nam - Campuchia: những thành tựu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hợp tác Việt Nam - Campuchia: những thành tựu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe

Hợp tác Việt Nam - Campuchia: những thành tựu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
UED JOURNAL OF SOCIAL SCIENCES, HUMANITIES AND EDUCATION VOL.4, NO.1 (2014) 
30 
HỢP TÁC VIỆT NAM - CAMPUCHIA: 
NHỮNG THÀNH TỰU TRONG LĨNH VỰC CHĂM SÓC SỨC KHỎE 
THE COOPERATION BETWEEN VIETNAM AND CAMBODIA: ACHIEVEMENTS IN THE FIELD 
OF HEALTH CARE 
Trần Xuân Hiệp 
Trường Đại học Duy Tân 
Email: [email protected] 
TÓM TẮT 
Hợp tác y tế giữa Việt Nam và Campuchia là một trong những hoạt động đặc biệt quan trọng. Quá trình hợp 
tác này không những tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, mà còn góp phần tăng cường trao 
đổi giữa hai nước trên các lĩnh vực cũng như kết nối khu vực trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bài viết đi từ những 
tiền đề hợp tác, một số thành tựu chủ yếu và bước đầu đưa ra một số đánh giá chung về hợp tác y tế giữa Việt Nam - 
Campuchia. 
Từ khóa: Campuchia; hợp tác y tế; hội nhập. 
ABSTRACT 
Health care cooperation between Vietnam and Cambodia is one of the areas of particular importance. This 
cooperation not only creates conditions for social and economic development of each country but also helps promote 
the exchanges between the two countries in other fields as well as regional connectivity in the context of international 
integration. The paper mentions the premise of the cooperation, the main achievements and gives some overall 
assessments of health care cooperation between Vietnam - Cambodia. 
Key words: Cambodia; health care cooperation; integration. 
1. Đặt vấn đề 
Hợp tác trong lĩnh vực y tế giữa Việt Nam 
và Campuchia luôn chiếm một vai trò, vị trí quan 
trọng và ngày càng được Chính phủ và nhân dân 
hai nước đặc biệt quan tâm. Cùng với sự phát triển 
mạnh mẽ của mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa 
hai nước, hợp tác y tế Việt Nam - Campuchia cũng 
thu được những thành tựu đáng kể, góp phần 
không nhỏ vào công tác phục vụ khám chữa bệnh 
của người dân. 
2. Nội dung 
2.1. Cơ sở của quá trình hợp tác 
Thứ nhất, Việt Nam và Campuchia là hai 
nước có mối quan hệ truyền thống lâu đời. Bên 
cạnh đó, sự gần gũi về mặt địa lý, lịch sử, văn hóa, 
xã hội là những chất xúc tác quan trọng góp phần 
gắn kết hai dân tộc lại gần nhau. Trên cơ sở đó góp 
phần tạo điều kiện thuận lợi để hợp tác y tế giữa 
Việt Nam và Campuchia được hình thành và ngày 
càng phát triển. 
Thứ hai, hợp tác y tế giữa hai nước đã trải 
qua một thời gian khá dài, nhất là thời kỳ trước 
1991, Việt Nam đã có nhiều sự hỗ trợ giúp đỡ 
Campuchia trong lĩnh vực đặc biệt này. Hiện nay, 
với những bước phát triển tốt đẹp của quan hệ toàn 
diện hai nước, hợp tác y tế Việt Nam - Campuchia 
cũng từng bước được hai bên quan tâm và thúc 
đẩy hơn nữa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của 
mỗi nước. Vì vậy, hợp tác y tế không chỉ đơn 
thuần là việc khám chữa bệnh cho người dân, mà 
còn là biểu tượng của tính nhân văn cao cả trong 
mối quan hệ giữa hai quốc gia làng giềng này. 
Thứ ba, trong xu thế hội nhập và phát triển 
của khu vực và thế giới, vấn đề sức khỏe ngày 
càng được chính phủ các nước đặc biệt quan tâm. 
Việt Nam và Campuchia là hai nước đang phát 
triển, có những điều kiện nội tại gần như nhau. Do 
đó, hai nước có thể có những trao đổi chia sẻ lẫn 
nhau trong lĩnh vực y tế. Mặt khác, trong điều kiện 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 1 (2014) 
31 
nền y tế Việt Nam có bước phát triển khá hơn, 
Việt Nam có thể hỗ trợ giúp đỡ Campuchia thực 
hiện việc đào tạo, khám chữa bệnh cho người dân 
Campuchia, cũng như góp phần tăng cường mối 
quan hệ hữu nghị giữa hai nước và với các quốc 
gia trên thế giới trong lĩnh vực y tế. 
2.2. Một số thành tựu chủ yếu 
Thời kỳ trước năm 1991, mặc dù còn nhiều 
khó khăn song Việt Nam đã có sự giúp đỡ lớn lao 
đối với Campuchia trong lĩnh vực y tế, đã viện trợ 
không hoàn lại một nghìn tấn thuốc chữa bệnh cho 
nhân dân Campuchia [8, tr4]. Tuy nhiên, giai đoạn 
từ năm 1991 đến 2000, cùng với những khó khăn 
trong quan hệ hai nước do những bất ổn về chính 
trị tại đất nước Campuchia, do đó hợp tác y tế hai 
bên chưa có thành tựu gì nổi bật. Sau khi đất nước 
Campuchia bước vào thời kỳ ổn định xây dựng và 
phát triển, hợp tác y tế giữa Campuchia - Việt 
Nam có những bước chuyển biến tích cực, mang 
tính toàn diện hơn. Trọng tâm của quá trình quan 
hệ hợp tác y tế hai nước đó là tăng cường trao đổi 
thông tin, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong việc nâng cao 
năng lực ngành y tế của mỗi nước, đào tạo cán bộ 
y bác sỹ, chuyển giao công nghệ và một số vấn đề 
khác liên quan về sức khỏe cộng đồng. 
Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ 
Campuchia trong lĩnh vực y tế. Việc tiếp nhận 
thường xuyên và khám chữa bệnh cho người dân 
Campuchia tại các trung tâm y tế tuyến huyện, tỉnh 
giáp biên giới và bệnh viện trung ương của Việt 
Nam là minh chứng thiết thực cho quá trình hợp tác 
lẫn nhau giữa hai ngành của hai nước. Để tạo điều 
kiện thuận lợi, Việt Nam đã áp dụng mức phí khám 
chữa bệnh cho đối tượng người Campuchia đến 
chữa bệnh tại các bệnh viện Việt Nam với mức thu 
phí như đối với người bệnh Việt Nam. Ngoài ra, các 
bệnh viện tuyến trên như Bệnh viện Thống Nhất, 
Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Y dược thành phố 
Hồ Chí Minh, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung 
ương cũng tiếp nhận nhiều người bệnh 
Campuchia đến khám và điều trị chuyên sâu [5]. 
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt 
Nam: “Trung bình hàng năm khoảng 3.500 lượt 
bệnh nhân Campuchia sang chữa bệnh tại các cơ sở 
y tế của Việt Nam với mức phí như đối với bệnh 
nhân Việt Nam. Nhân dân Campuchia ngày càng tín 
nhiệm, tin tưởng các cơ sở y tế của Việt Nam, số 
lượng sang khám chữa bệnh ngày càng tăng. Chỉ 
tính riêng thành phố Hồ Chí Minh, ước tính mỗi 
ngày có khoảng 200 người dân Campuchia đến 
khám, chữa bệnh với nhu cầu khá đa dạng. Các 
bệnh viện như Chợ Rẫy, Y học cổ truyền dân tộc 
đã trở nên quen thuộc với bệnh nhân Campuchia” 
[1, tr 8-9]. Riêng những năm 2008 - 2009, Việt 
Nam đã thu hút khá đông khách đến từ Campuchia 
sang thăm khám bệnh. Theo thống kê từ năm 2009, 
Bệnh viện Chợ Rẫy đã có 1.234 bệnh nhân 
Campuchia, Bệnh viện Y Dược đón 1.800 bệnh 
nhân. Đó là chưa kể số lượng bệnh nhân sang các 
bệnh viện khác như Phạm Ngọc Thạch, FV, Nhiệt 
đới, ITO [7, tr 31] Tuy nhiên, một thực tế tồn tại 
trong quá trình khám, chữa bệnh đó là người 
Campuchia tới Việt Nam khám bệnh chủ yếu là tự 
phát, việc quản lý rất khó khăn; nguồn kinh phí thực 
hiện miễn giảm viện phí cho người dân Campuchia 
còn hạn hẹp và do bất đồng về ngôn ngữ nên việc 
phối kết hợp giữa người bệnh và cán bộ y tế chưa 
được như ý muốn. 
 Thông cáo chung về Hội nghị Hợp tác và 
Phát triển các tỉnh biên giới Campuchia - Việt 
Nam lần thứ sáu diễn ra tại Thủ đô Phnom Penh, 
ngày 2-3/8/2010, đã chỉ rõ về lĩnh vực y tế: “Hai 
bên nhất trí tiếp tục quan tâm phát triển hợp tác 
trong lĩnh vực y tế thông qua thực hiện thỏa thuận 
giữa hai nước về kiểm dịch để ngăn chặn và phòng 
ngừa các bệnh truyền nhiễm ở các cửa khẩu biên 
giới. Hai bên nhất trí hợp tác kiểm tra, trao đổi 
thông tin cho nhau, có biện pháp phòng ngừa tình 
trạng phát sinh bệnh dịch và truyền nhiễm. Phía 
Việt Nam nhất trí tiếp tục nhận khám, chữa bệnh 
cho nhân dân Campuchia ở các cơ sở y tế của Việt 
Nam với mức thu phí như người dân Việt Nam và 
cử đoàn thầy thuốc tình nguyện Việt Nam sang 
khám, chữa bệnh cho nhân dân Campuchia ở các 
tỉnh biên giới của Campuchia; tiếp tục hỗ trợ cung 
cấp thuốc men, trang thiết bị y tế và đào tạo cán bộ 
y tế cho các tỉnh biên giới Campuchia. Phía 
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐHĐN - SỐ 10(01).2014 
32 
Campuchia hoan nghênh doanh nghiệp tư nhân 
Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp tư nhân 
Campuchia đầu tư xây dựng bệnh viện Chợ Rẫy - 
Phnom Penh tại thủ đô Phnom Penh” [9]. Cùng 
với đó, những chuyến thăm lẫn nhau giữa bộ 
ngành hai bên được tiến hành thường xuyên đã 
góp phần củng cố, tăng cường và mở rộng hợp tác 
truyền thống giữa hai nước Campuchia - Việt Nam 
trên lĩnh vực y tế. Đặc biệt, chuyến công tác do Bộ 
trưởng Bộ Y tế Việt Nam Nguyễn Quốc Triệu dẫn 
đầu kéo dài trong 5 ngày (1-5/8/2010) đã đánh dấu 
sự phát triển hơn nữa quá trình hợp tác y tế hai 
nước. Trong thời gian làm việc với Bộ Y tế 
Campuchia, hai bên đã tập trung trao đổi các vấn 
đề quan trọng như cập nhật tình hình y tế của hai 
nước và thảo luận về một số nội dung hợp tác 
chính như công tác khám chữa bệnh, y tế dự 
phòng, khoa học đào tạo, y học cổ truyền, dược 
phẩm, đặc biệt là công tác chuyển giao công nghệ 
và đào tạo chuyên ngành cho các sinh viên 
Campuchia tại các trường đại học chuyên ngành y 
dược của Việt Nam đồng thời mở ra hình thức 
mới về trao đổi hợp tác song phương giữa các đơn 
vị và cơ sở y tế Việt Nam với các đơn vị và cơ sở 
y tế của Campuchia [4, tr 1]. 
Đặc biệt, năm 2010, dự án Bệnh viện Chợ 
Rẫy - Phnom Penh được khởi công là một trong 
những công trình quan trọng nhất có ý nghĩa xã hội 
rất to lớn, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ khám chữa 
bệnh cho nhân dân Phnom Penh nói riêng và nhân 
dân Campuchia nói chung, góp phần to lớn thúc đẩy 
mối quan hệ láng giềng hữu nghị giữa hai quốc gia. 
Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Penh được xây dựng 
trên diện tích 50.000m2, tại quận Meanchey, cách 
trung tâm thủ đô Phnom Penh khoảng 10km. Được 
sự đồng ý của hai Chính phủ, công trình được đầu tư 
xây dựng qua hai giai đoạn, giai đoạn 1 (thời gian hai 
năm, tính từ tháng 5/2010) với quy mô 200 giường 
bệnh, tổng đầu tư trên 27.300.000 USD. Giai đoạn 
hai với phương án mở rộng quy mô thêm 300 
giường, nâng tổng cộng 500 giường, vốn đầu tư giai 
đoạn 2 là 15.000.000 USD, nâng tổng số vốn đầu tư 
cho toàn dự án là 42.370.000 USD. Nguồn cung ứng 
do Công ty Liên doanh (bao gồm Công ty Cổ phần 
Đầu tư Y tế Sài Gòn và Công ty Sokimex - Phnom 
Penh) góp vốn, riêng về nguồn vốn vay được Ngân 
hàng Phát triển Campuchia BIDC và Ngân hàng Đầu 
tư và Phát triển Việt Nam BIDV chi nhánh thành phố 
Hồ Chí Minh tài trợ [5]. Có thể khẳng định, công 
trình Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Penh là điểm nhấn 
đặc biệt trong quá trình hợp tác y tế giữa Campuchia 
và Việt Nam, thể hiện được sự lớn mạnh của ngành 
chăm sóc sức khỏe của cả hai bên, đánh dấu bước 
đột phá trong mối quan hệ hợp tác y tế toàn diện của 
hai chính phủ và nhân dân hai nước. Phát biểu tại 
buổi lễ động thổ Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Penh 
ngày 15/5/2010, Phó Thủ tướng Việt Nam Trương 
Vĩnh Trọng đánh giá cao việc xây dựng Bệnh viện 
đa khoa Chợ Rẫy - Phnom Penh và coi đây là kết quả 
cụ thể của Hội nghị đầu tư giữa hai Chính phủ Việt 
Nam và Campuchia hồi tháng 12/2009, một bằng 
chứng mới sinh động về quan hệ láng giềng tốt đẹp 
và tình hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai nước. 
Thủ tướng Campuchia Hunsen cũng đánh giá cao sự 
hợp tác của Chính phủ Việt Nam và chính quyền 
thành phố Hồ Chí Minh trong dự án y tế này, coi đây 
là minh chứng cho sự hợp tác và phát triển kinh tế 
giữa Campuchia và Việt Nam tiếp tục ngày càng 
phát triển. Thủ tướng Hunsen nhấn mạnh: “Bệnh 
viện này sẽ không chỉ giúp người dân Campuchia cải 
thiện sức khỏe, tiết kiệm tài chính và thời gian, mà 
còn tạo điều kiện cho đội ngũ thầy thuốc Campuchia 
nâng cao tay nghề và học hỏi chuyên môn của các 
bác sĩ Việt Nam” [11]. 
Không chỉ tạo điều kiện khám, chữa bệnh 
cho người dân Campuchia trên lãnh thổ Việt Nam 
mà Chính phủ và các Bộ ngành liên quan của Việt 
Nam còn tích cực giúp đỡ Campuchia bằng cách tổ 
chức các đợt khám chữa bệnh và phẫu thuật miễn 
phí cho bệnh nhân nghèo ở các tỉnh vùng biên giới 
Campuchia, đặc biệt là mổ thủy tinh thể, phẫu 
thuật môi hở hàm ếch. Chẳng hạn, Hội Bảo trợ 
bệnh nhân nghèo thành phố Hồ Chí Minh đã thực 
hiện khám và mổ chữa mắt miễn phí cho hơn 
1.000 bệnh nhân nghèo Campuchia tại hai thành 
phố Phnom Penh và Xihanúc. Đoàn phẫu thuật 
Việt Nam còn truyền đạt những kỹ thuật và kinh 
nghiệm chuyên môn cho các nhân viên y tế 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 1 (2014) 
33 
Campuchia để họ có thể thực hiện các ca phẫu 
thuật trong tương lai. Trưởng đoàn công tác Lê 
Thanh Hải cho biết riêng tổng chi phí đợt khám 
chữa bệnh lần thứ hai này trị giá 800 triệu đồng, 
trong đó 300 triệu đồng do Công ty TNHH Kinh 
Đô tài trợ. Trong 4 ngày (5-9/7/2005) đã có 535 
bệnh nhân nghèo Campuchia được phẫu thuật 
thành công. Đồng thời mỗi bệnh nhân Campuchia 
sau khi mổ mắt còn được hỗ trợ thêm tiền thuốc là 
25.000 riên (6,25 USD) để phục hồi sức khỏe [10]. 
Trong năm 2010, Bộ Y tế Việt Nam cũng đã cử 
hai đoàn bác sĩ của Bệnh viện Mắt thành phố Hồ 
Chí Minh và Bệnh viện Mắt Trung ương thành phố 
Hồ Chí Minh sang Campuchia thực hiện phẫu 
thuật nhân đạo miễn phí cho các bệnh nhân bị đục 
thủy tinh thể và sứt môi hở hàm ếch tại Bệnh viện 
Quân y Hoàng gia Campuchia và Bệnh viện Hữu 
nghị Khmer - Sô viết (Campuchia). Chỉ trong 4 
ngày làm việc tích cực, đội ngũ bác sĩ Việt Nam 
phối hợp với y bác sĩ Campuchia đã mổ từ thiện 
được cho 100 bệnh nhân bị đục thủy tinh thể và 95 
bệnh nhân bị sứt môi hở hàm ếch [4]. Có thể nói, 
những đợt khám và mổ mắt miễn phí đã tạo điều 
kiện cho người dân nghèo Campuchia được tiếp 
cận với kỹ thuật chữa bệnh hiện đại, góp phần đưa 
lại ánh sáng cho hàng trăm người dân bị đục thủy 
tinh thể không đủ điều kiện để mổ mắt. 
Về hợp tác đào tạo trong lĩnh vực y tế, hiện 
nay có 4 trường Đại học Y dược của Việt Nam bao 
gồm Trường Đại học Y Hà Nội, Đại học Dược Hà 
Nội, Đại học Y Thái Bình và Đại học Dược thành 
phố Hồ Chí Minh đang tham gia đào tạo nguồn 
nhân lực y tế cho phía Campuchia. Trong đó, chủ 
yếu tập trung đào tạo trình độ Bác sĩ đa khoa, 
Dược sĩ đại học, Thạc sĩ và Tiến sĩ y khoa. Trường 
Đại học Y Thái Bình là một trong những địa chỉ 
đào tạo phần lớn đội ngũ y bác sĩ cho phía 
Campuchia. Từ những năm 1982, Trường đã bắt 
đầu tiếp nhận đào tạo bác sĩ cho Campuchia. Tính 
từ năm 2000 đến 2010, số lượng bác sĩ được Nhà 
trường cấp bằng là 88 bác sĩ, đội ngũ này sau khi 
tốt nghiệp về nước đáp ứng được yêu cầu chăm 
sóc sức khỏe của nhân dân, nhiều người tiếp tục 
học lên tiến sĩ, thạc sĩ hay bác sĩ chuyên khoa và 
đang phục vụ có hiệu quả tại các cơ sở y tế 
Campuchia[5]. Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 
2006 - 2010, số lượng LHS (lưu học sinh) 
Campuchia đang học tập tại Đại học Y Thái Bình 
là 566 người. Đây là con số không hề nhỏ mà Việt 
Nam dành cho Campuchia trong điều kiện ngành y 
tế Campuchia còn rất nhiều khó khăn và hạn chế. 
Lưu học sinh Campuchia đào tạo tại Trường Đại học Y Thái Bình 
Năm học Tổng số Số mới 
nhập 
Số tốt 
nghiệp 
Ngành 
đào tạo 
Theo 
 Hiệp định 
Tự túc 
kinh phí 
2006-2007 107 26 12 BSĐK 106 0 
2007-2008 118 34 11 BSĐK 113 5 
2008-2009 148 42 10 BSĐK 128 20 
2009-2010 193 57 16 BSĐK 176 17 
Tổng 566 159 49 523 42 
Nguồn: Trường Đại học Y Thái Bình 
Bên cạnh Trường Đại học Y Thái Bình, số 
lượng LHS theo học tại các trường trong thời gian 
từ 2006 đến 2010 tương ứng, Đại học Y Hà Nội: 
20 LHS, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh: 
77 LHS bao gồm cả trình độ đại học và sau đại 
học [2, tr 21, 37]. Các trường luôn tạo mọi điều 
kiện tốt nhất để LHS sinh sống và học tập tại cơ sở 
đào tạo. Ngoài nguồn học bổng và kinh phí tự túc, 
các LHS Campuchia còn được nhà trường quan 
tâm giúp đỡ nhiều mặt như bố trí chỗ ở kí túc xá, 
các điều kiện về ăn ở, học tập, xét học bổng... Tuy 
nhiên, theo nhận định của các trường tiếp nhận, 
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐHĐN - SỐ 10(01).2014 
34 
việc đào tạo LHS Campuchia còn gặp nhiều khó 
khăn do bất đồng ngôn ngữ, hầu hết các LHS còn 
hạn chế về tiếng Việt, do đó việc tiếp thu kiến thức 
chuyên môn chưa được như ý muốn. Có thể khẳng 
định, công tác đào tạo lưu học sinh là một phần 
quan trọng trong quá trình hợp tác y tế Campuchia 
- Việt Nam, đảm bảo cho mối quan hệ hợp tác 
được chặt chẽ và mang tính bền vững lâu dài giữa 
hai bộ ngành. 
Về y tế dự phòng, hai bên cũng đã tăng 
cường công tác kiểm dịch y tế biên giới, phối hợp 
tốt các hoạt động phòng chống dịch qua biên tại 
các cặp cửa khẩu tỉnh Tây Ninh, An Giang và 
Kiên Giang. Đồng thời phối hợp với các nước 
trong khu vực Tam giác Phát triển, nhất là các 
nước GMS triển khai thực hiện nội dung về kiểm 
dịch y tế biên giới tại cặp cửa khẩu quốc tế Bà Vẹt 
(Campuchia) - Mộc Bài (Việt Nam) theo dự án 
được triển khai từ năm 2000. Cũng nằm trong 
khuôn khổ hợp tác phòng chống dịch bệnh lây lan 
qua biên giới, ngày 6/3/2006, Hiệp định giữa 
Chính phủ Hoàng gia Vương quốc Campuchia và 
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về Kiểm 
dịch y tế biên giới đã được ký kết. Hiệp định gồm 
16 điều khoản, tập trung vào các quy định “nhằm 
thực hiện tốt công tác kiểm dịch y tế biên giới, tạo 
điều kiện thuận lợi cho việc qua lại biên giới, bảo 
vệ sức khỏe nhân dân, phòng ngừa dịch bệnh lan 
truyền từ nước này qua nước khác” [6, tr 1]. Tại 
Chương I, Điều 6 quy định rõ “Đối tượng kiểm 
dịch y tế biên giới là người, phương tiện vận tải, 
hàng hóa, hành lý, công ten nơ, bưu phẩm, thi hài 
và những vật thể khác có khả năng mang bệnh, 
mang véc tơ truyền bệnh khi nhập cảnh, xuất cảnh, 
nhập khẩu, xuất khẩu qua các cửa khẩu theo quy 
định của pháp luật và quy định về kiểm dịch y tế 
của mỗi nước và phù hợp với Điều lệ y tế quốc tế 
(2005)”[6, tr 2]. Trong hợp tác kỹ thuật, Điều 13-
14 của Hiệp định khẳng định “Trên cơ sở các quy 
định này, cơ quan kiểm dịch y tế biên giới của hai 
Bên sẽ thường xuyên trao đổi thông tin bao gồm 
cả các văn bản pháp luật hiện hành hoặc mới ban 
hành có liên quan đến công tác kiểm dịch y tế. Hai 
cơ quan cũng sẽ thông báo cho nhau tình hình các 
bệnh phải kiểm dịch y tế và các bệnh truyền nhiễm 
khác của mỗi nước theo quy định của Điều lệ y tế 
quốc tế (2005), để tăng cường hỗ trợ, giao lưu và 
hợp tác trong công tác kiểm dịch y tế biên giới. 
Định kỳ hàng năm, cơ quan kiểm dịch y tế biên 
giới hai Bên họp tổng kết đánh giá tình hình thực 
hiện Hiệp định, cùng bàn bạc và giải quyết các vấn 
đề nảy sinh để thực hiện tốt hơn nữa công tác kiểm 
dịch y tế biên giới (Điều 13). Cơ quan kiểm dịch y 
tế biên giới của hai Bên có thể căn cứ vào nhu cầu 
công tác kiểm dịch y tế để hợp tác khai thác kỹ 
thuật kiểm dịch cũng như xuất khẩu, nhập khẩu 
thuốc và hóa chất khác phục vụ cho công tác kiểm 
dịch y tế biên giới. Hai Bên có thể trao đổi chuyên 
gia kiểm dịch y tế, nhân viên kỹ thuật tham quan 
khảo sát, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để 
nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng công 
tác của kiểm dịch viên y tế biên giới của hai Bên 
(Điều 14)”. Mặt khác, Campuchia và Việt Nam 
cũng hợp tác trong việc giám sát và đưa ra những 
phương án nhằm ngăn chặn, phòng ngừa bệnh lây 
nhiễm và một số bệnh truyền nhiễm khác, đặc biệt 
đã ngăn chặn triệt để bệnh sốt xuất huyết, sốt rét, 
bệnh tả, cúm H5N1 và cúm A/H1N1[3, tr 9]. 
Như vậy, với những điều khoản quy định 
chặt chẽ của Hiệp định, hai bên có thể tiến hành 
thực hiện các biện pháp và phương thức để ngăn 
chặn các bệnh truyền nhiễm, góp phần đẩy lùi 
nguy cơ của dịch bệnh trong quá trình hội nhập 
khu vực và quốc tế. Đây là bản Hiệp định y tế 
chính thức đầu tiên giữa Campuchia và Việt Nam, 
đặt cơ sở quan trọng để hợp tác y tế giữa hai nước 
ngày càng tiến triển, đi vào chiều sâu, hiệu quả và 
thực chất, mang lại lợi ích cho mỗi nước cũng như 
góp phần tăng cường tình đoàn kết, láng giềng hữu 
nghị giữa hai quốc gia, dân tộc. 
3. Kết luận 
Thứ nhất, hợp tác y tế giữa Việt Nam và 
Campuchia trong thời gian qua đã đạt được những 
thành tựu đáng khích lệ. Trong hợp tác y tế, hai 
nước đã triển khai được nhiều chương trình hợp 
tác quan trọng về đào tạo, khám chữa bệnh, 
chuyển giao công nghệ... Mặc dù còn khá khiêm 
tốn, song những thành tựu đạt được đã góp phần 
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC TẬP 4, SỐ 1 (2014) 
35 
mang lại giá trị cuộc sống cho nhân dân hai nước, 
nhất là người dân Campuchia. 
Thứ hai, mối quan hệ hợp tác y tế giữa Việt 
Nam và Campuchia còn có nhiều hạn chế và khó 
khăn xuất phát từ những nhân tố nội tại và khách 
quan. Trong đó, nền kinh tế hai nước còn đang 
trong quá trình đổi mới phát triển, do đó không có 
những tiềm lực nhất định để thúc đẩy y tế mỗi 
nước phát triển cũng như bổ sung hiệu quả những 
thiếu sót cho nhau. Mặt khác, hợp tác y tế 
Campuchia - Việt Nam còn mang tính chất một 
chiều, chủ yếu là Việt Nam hỗ trợ giúp đỡ về vốn, 
nhân lực và kỹ thuật cho Campuchia; do đó mức 
độ đạt được của các thỏa thuận giữa hai bên chưa 
thể đáp ứng được yêu cầu, mong mỏi của nhân dân 
hai nước. 
Thứ ba, hợp tác y tế giữa Việt Nam và 
Campuchia là một vấn đề lâu dài mang tính chiến 
lược. Vì vậy, hai nước cần đưa ra những hướng đi 
thích hợp để tạo đà đột phá trong lĩnh vực quan 
trọng này. Bên cạnh những hợp tác mang tính song 
phương, Việt Nam và Campuchia cần tính đến 
việc gia tăng mở rộng hợp tác ra bên ngoài, nhất là 
các nước có nền y tế tiên tiến hiện đại. Đặc biệt hai 
nước cần có những chính sách khuyến khích, hỗ 
trợ nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài 
nước quan tâm hơn nữa đến việc phát triển trong 
lĩnh vực y tế. 
Tóm lại, hợp tác y tế Campuchia - Việt Nam 
ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp 
phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe của 
người dân mỗi nước, cũng như hội nhập sâu rộng 
vào nền y tế tiên tiến của khu vực và thế giới. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1] Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Báo cáo tình hình hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn 2001-
2010 và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn 2011-2020. 
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội nghị Tổng kết hợp tác giáo dục Việt Nam - Campuchia, Hà Nội ngày 
17/12/2010. 
[3] Bộ Ngoại giao, Hội nghị Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới Campuchia - Việt Nam lần thứ 
sáu: “Báo cáo chung về tình hình hợp tác các tỉnh biên giới Campuchia - Việt Nam từ Hội nghị lần 
thứ 5 đến nay”, Phnom Penh ngày 2-3/8/2010. 
[4] Bộ Y tế, số 5551/BYT-QT, V/v báo cáo kết quả chuyến thăm chính thức ngành y tế Campuchia, Hà 
Nội ngày 19/8/2010. 
[5] Bộ Y tế, số 7295/BYT-QT, Báo cáo kết quả hợp tác từ kỳ họp lần thứ 11 đến nay để chuẩn bị cho 
kỳ họp lần thứ 12 UBHH Việt Nam - Campuchia, Hà Nội ngày 26/10/2010. 
[6] Hợp tác y tế Việt Nam - Campuchia: Tiềm năng còn bỏ ngỏ, Hồ sơ Sự kiện số 224 (chuyên san Tạp 
chí Cộng sản), ngày 14/6/2012. 
[7] Phạm Đức Thành (2001), Quan hệ Việt Nam - Campuchia, Báo cáo chuyên đề về quan hệ Việt Nam 
- Campuchia: Thực trạng và triển vọng, Viện N/c Đông Nam Á. 
[8] Thông tấn xã Việt Nam, Các bác sĩ Việt Nam mổ mắt miễn phí cho nhiều bệnh nhân nghèo 
Campuchia, ngày 12/7/2005. 
[9] Thông tấn xã Việt Nam, Khởi công xây dựng Bệnh viện đa khoa Chợ Rẫy - Phnom Penh tại 
Campuchia, Hà Nội, ngày 15/5/2010. 

File đính kèm:

  • pdfhop_tac_viet_nam_campuchia_nhung_thanh_tuu_trong_linh_vuc_ch.pdf