Hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser: một số ca lâm sàng thành công bằng phương pháp đặt khuôn mềm trong tạo hình âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser là rối loạn xảy ra ở phụ nữ
và chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản. Phụ nữ mắc hội chứng này
thường không có tử cung, âm đạo vì vậy sẽ không có kinh nguyệt. Người
bệnh có bộ nhiễm sắc thể nữ (46, XX) và có buồng trứng bình thường. Họ
cũng có bộ phận sinh dục nữ bên ngoài bình thường và sự phát triển bình
thường vú và lông mu. Người phụ nữ mắc bệnh này thường không thể quan
hệ tình dục và mang thai được. Bài báo này báo cáo một số trường hợp
bệnh với hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser được điều trị thành
công bằng phương pháp LANSAC cải tiến tại Bệnh viện Phụ Sản Trung
Ương. Phẫu thuật bao gồm ba bước: (1) tiến hành nội soi ổ bụng chẩn
đoán, (2) tạo hình âm đạo tại vị trí phên giữa bàng quang và trực tràng có
sự hỗ trợ của nội soi, (3) đặt khuôn mềm âm đạo. Thao tác dùng dụng cụ
nong duy trì cần thực hiện để hỗ trợ cho sự thành công tái tạo âm đạo
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser: một số ca lâm sàng thành công bằng phương pháp đặt khuôn mềm trong tạo hình âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 189 - 192, 2017 189 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 Vũ Bá Quyết(1), Đàm Thị Quỳnh Liên(2) (1) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội HỘI CHỨNG MAYER – ROKITANSKY – KÜSTER – HAUSER: MỘT SỐ CA LÂM SÀNG THÀNH CÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐẶT KHUÔN MỀM TRONG TẠO HÌNH ÂM ĐẠO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Ngày nhận bài (received): 01/03/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/03/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 28/04/2017 Từ khóa: Dị tật bẩm sinh, vô kinh, vô sinh, nội soi. Keywords: birth defects, amenorrhea, infertility, laparoscopy. Tóm tắt Hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser là rối loạn xảy ra ở phụ nữ và chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thống sinh sản. Phụ nữ mắc hội chứng này thường không có tử cung, âm đạo vì vậy sẽ không có kinh nguyệt. Người bệnh có bộ nhiễm sắc thể nữ (46, XX) và có buồng trứng bình thường. Họ cũng có bộ phận sinh dục nữ bên ngoài bình thường và sự phát triển bình thường vú và lông mu. Người phụ nữ mắc bệnh này thường không thể quan hệ tình dục và mang thai được. Bài báo này báo cáo một số trường hợp bệnh với hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser được điều trị thành công bằng phương pháp LANSAC cải tiến tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương. Phẫu thuật bao gồm ba bước: (1) tiến hành nội soi ổ bụng chẩn đoán, (2) tạo hình âm đạo tại vị trí phên giữa bàng quang và trực tràng có sự hỗ trợ của nội soi, (3) đặt khuôn mềm âm đạo. Thao tác dùng dụng cụ nong duy trì cần thực hiện để hỗ trợ cho sự thành công tái tạo âm đạo. Từ khóa: Dị tật bẩm sinh, vô kinh, vô sinh, nội soi. Abstract MAYER-ROKITANSKY-KÜSTER-HAUSER SYNDROME: SERIES CASE REPORT OF A SUCCESSFUL TREATMENT WITH LANSAC TECHNIQUE AT NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY Mayer – Rokitansky – Küster - Hauser syndrome is a disorder that occurs in females and mainly affects the reproductive system. This condition causes the vagina and uterus to be underdeveloped or absent. Affected women usually do not have menstrual periods due to the absent uterus. Women with Mayer- Rokitansky – Küster - Hauser syndrome have a female chromosome pattern (46, XX) and normally functioning ovaries. They also have normal female external genitalia and normal breast and pubic hair development. Although women with this condition are usually unable to have intercourse and carry a pregnancy. This article reports a successful treatment for series Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser cases VŨ BÁ QUYẾT, ĐÀM THỊ QUỲNH LIÊN 190 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P by applying LANSAC technique. The surgery includes three steps: (1) laparoscopic diagnosis, (2) making the vaginal vault under laparoscope guidance. The cleavage can be performed in the fascia interposed between the bladder and the rectum (3) put soft mold in vaginal vault. Keywords: birth defects, amenorrhea, infertility, laparoscopy 1. Giới thiệu Hội chứng Mayer-Rokitansky-Kϋster-Hauser (MRKH) được mô tả lần đầu tiên năm 1829, khi Mayer báo cáo các trường hợp không có âm đạo của các em bé chết lưu. Sau đó vào năm 1838, Rokitansky báo cáo về 19 trường hợp phụ nữ không có âm đạo và tử cung. Một thế kỷ sau, hội tiết niệu thế giới công nhận công trình nghiên cứu của Kϋster (1910)-Hauser (1961) về sự kết hợp giữa không có âm đạo, tử cung và bất thường hệ tiết niệu và hệ xương khớp, để phân biệt hội chứng này với hội chứng tinh hoàn nữ hóa. Hội chứng MRKH đặc trưng bởi không có âm đạo và thường kèm theo không có cổ tử cung và tử cung [1]. Tần suất: Hội chứng Mayer-Rokitansky-Kϋster- Hauser là hội chứng khá hiếm gặp ở phụ nữ, chiếm tỉ lệ 1/5.000. Bệnh có tính chất bẩm sinh và thường được phát hiện khi đến tuổi trưởng thành, bệnh nhân không thấy có kinh nguyệt (vô kinh 1) hoặc không thể quan hệ tình dục được. Sinh lý bệnh: Ở bệnh lý này, vào tuần thứ 5 của thai kỳ, ống Mullerian ngưng phát triển. Tử cung, cổ tử cung và 2/3 trên của âm đạo sẽ hợp nhất và ngưng phát triển cùng với ống Mullerian vì vậy người bệnh không có tử cung và âm đạo. Chức năng buồng trứng vẫn được bảo tồn do buồng trứng có nguồn gốc từ lớp ngoại bì phôi. Lâm sàng và cận lâm sàng - Vô kinh là triệu chứng thường gặp nhất ở những bệnh nhân này. Hầu hết bệnh nhân dậy thì bình thường với các đặc tính sinh dục thứ phát bình thường (vú, lông mu phát triển bình thường) và bộ phận sinh dục ngoài là môi lớn, môi nhỏ, tiền đình (là phần ai cũng có thể nhìn thấy được) hoàn toàn bình thường nhưng kinh nguyệt không có. - Vô sinh: do không có âm đạo và cổ tử cung - Không giao hợp được hay giao hợp đau - Khám lâm sàng: Đặc tính sinh dục thứ phát bình thường (ngực và lông mu). Chiều cao bình thường. Khám mỏ vịt không thể thực hiện được hay rất khó phụ thuộc vào mức độ không có âm đạo Âm vật, môi lớn, môi nhỏ bình thường. - Cận lâm sàng: NST đồ: NST của bệnh nhân sẽ là 46 XX. Nồng độ FSH và LH bình thường, chứng tỏ chức năng của buồng trứng bình thường. Nồng độ testosterone ở những bệnh nhân MRKH nằm trong khoảng bình thường. Siêu âm bụng và âm đạo không thấy tử cung ở vị trí giải phẫu nhưng hình ảnh buồng trứng bình thường [2]. Điều trị: Ở bệnh nhân có 2 vấn đề cần được quan tâm: - Phẫu thuật tạo hình âm đạo: để thực hiện khả năng làm vợ Trên thế giới có nhiều phương pháp phẫu thuật tạo hình âm đạo cho bệnh nhân mắc hội chứng này nhưng đa phần các phương pháp khá phức tạp, kỹ thuật khó khăn, đắt tiền ... nên khó phù hợp với Việt Nam. Phương pháp Lansac là 1 phương pháp khá phù hợp với Việt Nam vì rẻ tiền, dễ thực hiện. - Tư vấn điều trị vô sinh: ngày nay, người mẹ vẫn có thể có con cùng huyết thống với mình bằng cách mang thai hộ [2]. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 189 - 192, 2017 191 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 2. Phương pháp Lansac cải tiến Năm 2002, GS Lansac (Tours, Pháp) đã lần đầu áp dụng kỹ thuật tạo hình âm đạo kết hợp với nội soi ổ bụng. Mục tiêu của phẫu thuật là tạo ra khoang âm đạo mới cho người bệnh để họ có thể thực hiện giao hợp được gần như bình thường. Cơ sở của phẫu thuật là tạo khoang âm đạo mới bằng cách bóc tách khoảng giữa niệu đạo, bàng quang và trực tràng dưới định hướng của nội soi. Sau đó việc đặc biệt quan trọng là chăm sóc để khoang này được biểu bì hóa tránh dính lại [3]. 2.1. Soi ổ bụng chẩn đoán - Quan sát tiểu khung để xác định là hội chứng Rokitansky-Kuster-Hauser (ở vị trí của tử cung chỉ là một mô xơ, hai buồng trứng bình thường, hai đoạn xa của vòi tử cung có vẻ bình thường cắm vào mô xơ ở trung tâm). 2.2. Tạo hình âm đạo - Rạch lớp niêm mạc ngang giữa hõm âm đạo, dài khoảng 2 đến 2,5 cm. - Dùng kéo cong đầu tù, hướng chiều cong ra trước, bóc tách lớp mô giữa niệu đạo ở phía trước và trực tràng ở phía sau. Trong bóc tách, phẫu thuật viên thường xuyên quan sát vị trí và hướng đi của kéo qua màn hình nội soi. Điều chỉnh động tác dựa vào quan sát trên màn hình nội soi. Việc bóc tách đi dần đến lá phúc mạc. Trong khi bóc tách, chú ý mốc phía sau là trực tràng và mốc phía trước là bóng của ông thông Foley đặt trong bàng quang. - Dùng kéo mở rộng rồi ngón tay trỏ của hai bàn tay mở rộng khoang đã bóc tách sang hai phía. Hình 1. Nội soi ổ bụng chẩn đoán Hình 2. Tạo hình âm đạo 2.3. Đặt khuôn mềm âm đạo Trước đây, tại BV Phụ Sản Trung ương cũng sử dụng khuôn cứng để đặt trong âm đạo sau khi tạo hình (thường là khuôn gỗ), nhưng trong quá trình theo dõi người bệnh sau mổ, chúng tôi nhận thấy rằng nếu đặt khuôn cứng thì bệnh nhân rất đau và khuôn rất dễ bị tuột ra ngoài nên tỷ lệ thành công còn chưa cao. Qua nhiều ngày trăn trở, chúng tôi đã sáng tạo ra khuôn mềm chỉ đơn giản là một cuộn băng y tế cuộn hình trụ bao ngoài bằng bao cao su được đặt vào âm đạo sau khi tạo hình và khuôn này được cố định trong âm đạo bằng cách khâu 2 môi lớn lại. Khuôn mềm này vừa để cầm máu, vừa để chống dính. Sau mổ 48 giờ người bệnh lại được thay khuôn 1 lần và hướng dẫn nong âm đạo cho đến khi ra viện (thường là 5 -7 ngày). Sáng tạo này giúp cho bệnh nhân không bị đau, không bị tuột khuôn như khi sử dụng khuôn gỗ và cũng làm tăng tỷ lệ thành công sau mổ. Hơn nữa, việc tạo cuốn trụ này rất đơn giản, người bệnh có thể tự làm, không tốn kém chi phí chỉ vài ngàn đồng mỗi ngày. Khuôn mềm này còn giúp cho người bệnh tự nong âm đạo ở nhà, nên sau mổ khoảng 4 tuần là người bệnh có thể quan hệ tình dục được. Đây chính là điểm cải tiến của phương pháp Lansac. 2.4. Chăm sóc sau mổ - Theo dõi chung như người bệnh hậu phẫu - Sau 2 ngày, tiến hành thay một khuôn mềm khác. - Sau 4 ngày tiến hành rút khuôn mềm. Dùng dương vật giả bằng cao su, bọc bao cao su nong hàng ngày, nhiều lần. Đồng thời hướng dẫn cho người bệnh biết cách tự nong để tự làm sau khi ra viện - Tái khám sau 2 tuần và 4 tuần sau khi ra viện. Hình 3. Cách tạo khuôn mềm và đặt khuôn mềm vào âm đạo VŨ BÁ QUYẾT, ĐÀM THỊ QUỲNH LIÊN 192 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P - Người bệnh thường xuyên tự nong (2 đến 3 lần/ngày) sau khi ra viện trong khoảng 6 tháng. Sau mổ 1 tháng có thể thực hiện giao hợp xen kẽ với với tự nong. 3. Kết luận Hội chứng MRKH là dị tật bẩm sinh đường sinh dục nữ hiếm gặp, có tỷ lệ thấp trong dân số chung do vậy đã chưa được quan tâm và thường phát hiện trong độ tuổi dậy thì hoặc muộn hơn vì thế nó làm cho bệnh nhân cùng cha mẹ vô cùng hoang mang, ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lí của người phụ nữ trẻ vì lo sợ không thực hiện được thiên chức làm vợ và làm mẹ. Nhờ sự tiến bộ của y học ngày nay, việc giúp họ có một cuộc sống tình dục bình thường là việc làm hoàn toàn có thể thực hiện được bằng các phương pháp phẫu thuật tạo hình âm đạo và có thể mang đứa con sinh học của họ nhờ kỹ thuật mang thai hộ. Trong hoàn cảnh Việt Nam nói chung điều kiện kinh tế còn khó khăn chi phí dành cho y tế còn thấp thì việc áp dụng phương pháp phẫu thuật LANSAC cải tiến, có chi phí thấp, thời gian phẫu thuật ngắn, hiệu quả đạt được cao, kỹ thuật không khó để huấn luyện cho các bác sĩ phụ khoa. Tài liệu tham khảo 1. Amesse. LS, Lucidi RS. Mullerian Duct Anomalies. Medscape. 2012. 2. Williams Gynecology. Anatomic Disorder. 2008; Chapter 18, p 402 – 425. 3. Nguyễn Đức Hinh. Áp dụng phương pháp tạo hình âm đạo theo Lansac (hội chứng Mayer-Rokitansky-Kuster Hauser). Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2004; 31(5) – 2004.
File đính kèm:
hoi_chung_mayer_rokitansky_kster_hauser_mot_so_ca_lam_sang_t.pdf

