Hội chứng kháng Androgen: kinh nghiệm lâm sàng

Hội chứng kháng Androgen (AIS) là tình trạng đột biến của gen AR

nằm trên đoạn gần của nhánh dài của NST X, di truyền theo đặc tính

gen lặn. dẫn đến tình trạng tế bào không đáp ứng một phần hay hoàn

toàn của tế bào với các androgen làm ngăn trở sự nam hóa cơ quan

sinh dục (CQSD) của thai nhi nam. AIS được chia làm 3 loại tùy theo

mức độ biệt hóa cơ quan sinh dục: Kháng Andogen hoàn toàn (CAIS)

CQSD ngoài là nữ nhưng nhiễm sắc đồ là 46,XY, kháng Andogen nhẹ

(MAIS) CQSD ngoài là nam bình thường. Kháng Androgen một phần

(PAIS): CQSD ngoài có thể là nam hay nữ. Chẩn đoán dựa vào xét

nghiệm nhiễm sắc đồ. Hầu hết những người sinh ra với tình trạng này

đều vô sinh nhưng họ vẫn sống bình thường. Điều trị bằng phẫu thuật

và nội tiết thay thế tùy phân loại và hoãn đến khi. Hỗ trợ tâm lý là khía

cạnh quan trọng nhất trong công tác chăm sóc người bệnh.

pdf 4 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hội chứng kháng Androgen: kinh nghiệm lâm sàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hội chứng kháng Androgen: kinh nghiệm lâm sàng

Hội chứng kháng Androgen: kinh nghiệm lâm sàng
VŨ THỊ NHUNG
08
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
Vũ Thị Nhung 
Hội Phụ Sản TP. Hồ Chí Minh
HỘI CHỨNG KHÁNG ANDROGEN:
KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Vũ Thị Nhung, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Hội chứng kháng Androgen (AIS) là tình trạng đột biến của gen AR 
nằm trên đoạn gần của nhánh dài của NST X, di truyền theo đặc tính 
gen lặn. dẫn đến tình trạng tế bào không đáp ứng một phần hay hoàn 
toàn của tế bào với các androgen làm ngăn trở sự nam hóa cơ quan 
sinh dục (CQSD) của thai nhi nam. AIS được chia làm 3 loại tùy theo 
mức độ biệt hóa cơ quan sinh dục: Kháng Andogen hoàn toàn (CAIS) 
CQSD ngoài là nữ nhưng nhiễm sắc đồ là 46,XY, kháng Andogen nhẹ 
(MAIS) CQSD ngoài là nam bình thường. Kháng Androgen một phần 
(PAIS): CQSD ngoài có thể là nam hay nữ. Chẩn đoán dựa vào xét 
nghiệm nhiễm sắc đồ. Hầu hết những người sinh ra với tình trạng này 
đều vô sinh nhưng họ vẫn sống bình thường. Điều trị bằng phẫu thuật 
và nội tiết thay thế tùy phân loại và hoãn đến khi. Hỗ trợ tâm lý là khía 
cạnh quan trọng nhất trong công tác chăm sóc người bệnh.
Abstract 
Androgen insensitivity syndrome (AIS) is a condition caused by 
mutation of the gen AR that is located on the proximal long arm of the 
X chromosome, inheritance is typically maternal and follows an X-linked 
recessive pattern. It results in the partial or complete inability of the cell to 
respond to androgens which impairs or prevents the masculinization of 
male genitalia in the developing fetus . AIS is divided into three categories 
depending on the degree of genital masculinization: complete androgen 
insensitivity syndrome (CAIS) with the external genitalia are that of a normal 
female; mild androgen insensitivity syndrome (MAIS) with the normal male 
external genitalia, and partial androgen insensitivity syndrome (PAIS) with 
either female or male external genitalia. Diagnosis is based on karyotype. 
Most of those persons are infertile but they still have normal lives. Treating 
with surgery and hormonal replacement depends on the categories of AIS 
and delays until the patient goes through puberty. Psychological support 
is the most important aspect of medical care.
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 08- 11, 2017
09
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
1. Sự hình thành tuyến sinh 
dục trong thời kỳ phôi thai
Từ tuần thứ 6 của thai kỳ, phôi thai nam và nữ 
đều có 2 cặp ống sinh dục: 
* Ống wolff (Mesonephric duct) sẽ biệt hóa 
thành cơ quan sinh dục nam
* Ống muller (para-mesonephric duct) là ống 
thành lập mới chạy song song với ống Wolff sẽ 
biệt hóa thành tử cung, cổ tử cung, vòi trứng và 
1/3 trên âm đạo.
Tùy theo thai nhi là trai hay gái mà một trong 
2 loại ống này sẽ phát triển theo hướng của giới 
tính nam hay giới tính nữ. Bình thường, ống sinh 
dục mặc định phát triển mang tính cái khi không 
có sự biểu hiện gene SRY. Nếu có biểu hiện gen 
này, ống sinh dục nguyên thủy sẽ biệt hóa thành 
tinh hoàn. Tinh hoàn có tế bào leydig làm nhiệm vụ 
tiết testosterone (androgen) và tế bào sertoli tiết anti 
- mullerian duct hormone (AMH) giúp ngăn cản sự 
hình thành ống muller. Không có AMH, ống Muller 
sẽ phát triển thành cơ quan sinh dục bên trong của 
nữ. Không giống ống Muller, ống Wolff không tiếp 
tục phát triển theo mặc định. Testosterone giúp phát 
triển những đặc tính sinh dục thứ cấp, biến đổi ống 
wolff thành mào tinh hoàn, túi tinh, ống dẫn tinh. 
Nếu tinh hoàn không tiết được testosterone hay thụ 
thể androgen không hoạt động thì ống wolff sẽ thoái 
triển[6]. Sự nam hóa cơ quan sinh dục tùy thuộc 
vào 2 nội tiết tố testosterone và dihydrotestosterone 
(DHT)[5] làm cho dương vật và các phần của ống 
Wolf phía bên trong tiếp tục phát triển.
2. Hội chứng kháng 
Androgen là gì?
Hội chứng kháng Androgen còn gọi là hội chứng 
không nhạy cảm Androgen (AIS), đây là tình trạng 
chuyển đổi giới tính do đột biến gen mã hóa cho thụ 
thể androgen. Bình thường thì thụ thể androgen ở tình 
trạng bất hoạt trong tế bào đến khi có hiện tượng kết 
hợp androgen xảy ra với thụ thể trong tế bào.[1]
 Thụ thể Androgen không tiếp nhận nội tiết tố nam 
nên androgen không có tác dụng trên các cơ quan 
đích để một người mang nhiễm sắc thể giới tính là XY 
nhưng cơ thể lại biệt hóa thành nữ giới dưới tác dụng 
của Estrogen. Sự không đáp ứng của tế bào đối với 
Androgen chẳng những ngăn cản sự hình thành cơ 
quan sinh dục nam mà còn không có sự phát triển sinh 
dục thứ cấp của nam giới khi đến tuổi dậy thì. Bệnh 
nhân có tinh hoàn nhưng tinh hoàn không di chuyển 
xuống bìu vì không có bìu.
AIS được chia làm 3 loại tùy theo mức độ biệt hóa 
cơ quan sinh dục:
• Kháng Andogen hoàn toàn (CAIS Complete 
Andrgen insensitivity syndrome): cơ quan sinh dục ngoài 
là nữ bình thường. Tần suất xảy ra khoảng 1/20.000.
• Kháng Andogen nhẹ (MAIS Mild Andrgen 
insensitivity syndrome): cơ quan sinh dục ngoài là 
nam bình thường. 
• Kháng Androgen một phần (PAIS Partial 
Andrgen insensitivity syndrome) : cơ quan sinh dục 
ngoài có thể là nữ hay là nam không hoàn toàn.
AIS xảy ra do đột biến gen AR là gen nằm trên 
đoạn gần tâm NST của nhánh dài NST X (Xq11-12)[2]. 
Như vậy, tính di truyền là do mẹ và theo tính chất gen 
lặn.liên kết với NST X. Năm 2010 đã có hơn 400 đột 
biến AR được nhận biết. Bệnh nhân có bộ NST 46,XY 
thì luôn luôn thể hiện gen đột biến vì họ chỉ có 1 NST X, 
trong khi nếu người có bộ NST 46,XX thì là người lành 
mang bệnh nên chỉ bị ảnh hưởng nhẹ. Có khoảng 30% 
đột biến ngẫu nhiên, không phải do di truyền, có thể do 
đột biến tế bào mầm trong tuyến sinh dục của cha hoặc 
mẹ hoặc đột biến ở chính phôi thai[3] .
AIS có thể phân thành 7 mức độ. Độ 7 là CAIS, cơ 
quan sinh dục là nữ , Từ độ 1-6 là PAIS. Ở độ 1 người 
bệnh có cơ quan sinh dục hoàn toàn là nam nhưng 
hầu như bị vô sinh. Nhóm CAIS hiếm khi được phát 
hiện trong tuổi thiếu nhi, chỉ có thể phát hiện bệnh khi 
họ không thấy có kinh hay lập gia đình mà không 
Nguồn: [7]
Tuyến sinh dục chưa biệt hoá
Ống muller
Ống Wolff
Có nội tiết tố nam
Tuyến Sinh dục nam Tuyến sinh dục nữ
Buồng trứngTinh hoàn
Không có nội tiết tố nam
vú phát triển. Bé có ít hay không có lông mu. Da mặt 
không có mụn trứng cá vì tuyến nhờn không đáp ứng 
với androgen. Quá trình dậy thì không khác những bé 
gái bình thường ngoại trừ không có kinh nguyệt.
Người có bộ nhiễm sắc thể 46,XX
Phụ nữ với nhiễm sắc đồ 46,XX có 2 NST X nên 
sẽ có 2 gen AR. Nếu có đột biến gen cùa 1 NST X thì 
chỉ bị ảnh hưởng nhẹ - người lành mang bệnh. Họ sẽ 
truyền gen AR đột biến cho 50% số con. Nếu con của 
họ là con gái thì cũng là người lành mang bệnh nhưng 
nếu là đứa trẻ có nhiễm sắc đồ 46,XY thì sẽ bị hội 
chứng kháng androgen. Người phụ nữ bị đột biến với 
cả 2 gen AR là do người cha có AIS và mẹ là người 
lành mang gen bệnh. Tuy nhiên, hiếm khi đàn ông có 
AIS mà có con. Thông thường, những bệnh cảnh do 
đột biến gia đình gây ra sẽ ảnh hưởng đến các thành 
viên trong gia đình tương tự như nhau nhưng mức độ 
nặng nhẹ có thể khác nhau.
3. Điều trị
Đứa trẻ thuộc nhóm PAIS có thể lớn lên như một bé 
trai nhưng lại phát triển với những nét của phái nữ khi 
dậy thì. Điều trị nội tiết có thể giúp hướng theo đúng 
giới tính của trẻ. Sau tuổi dậy thì, có thể phẫu thuật tạo 
hình để chuyển đổi giới tính theo ý muốn của người 
bệnh. Bé trai phải được bổ sung androgen để phát 
triển theo kiểu nam giới (mọc râu, giọng nói trầm).
Khi được chẩn đoán là CAIS thì tinh hoàn lạc chỗ 
không được cắt bỏ cho đến khi đứa trẻ qua tuổi dậy 
thì và ngửng phát triển vì nội tiết tố testosterone có thể 
chuyển hóa thành estrogen để giúp trẻ phát triển như 
nữ giới . Như vậy sẽ không cần dùng nội tiết thay thế 
khi dậy thì. Sau khi trẻ đã qua dậy thì phải cắt bỏ 
tinh hoàn để phòng ngừa ung thư tinh hoàn giống 
như những trường hợp tinh hoàn trong ổ bụng.
Điều trị nội tiết thay thế với Estrogen sau khi dậy 
thì để phòng ngừa những triệu chứng của người mãn 
kinh (bệnh loãng xương, lão hóa tế bào). Có thể dùng 
kết hợp với Progesterone để phòng ngừa ung thư vú 
nhưng đầu tiên vẫn phải dùng Estrogen liều thấp rồi 
tăng dần đến liều dùng của người trưởng thành vì 
bệnh nhân không có tử cung nên có ý kiến không cần 
dùng progesterone.[9] Nếu âm đạo quá ngắn thì có 
thể phẫu thuật tạo hình kéo dài hay mở rộng âm đạo.
Xác định giới tính là một vấn đề rất phức tạp 
đối với người bệnh và phải quan tâm đến yếu tố 
VŨ THỊ NHUNG
10
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
thể có thai. Trong khi đó, nhóm PAIS thì tùy theo mức 
độ nhạy cảm với androgen mà đứa trẻ có thể phát 
triển theo hướng nam hay nữ hay lưỡng tính của cơ 
quan sinh dục. Vì thế, bệnh có thể phát hiện sớm hơn. 
Nhóm MAIS thường có ảnh hưởng đối với bé trai với 
sự phát triển mô vú lúc dậy thì nhưng không sản xuất 
được tinh trùng.
Người có nhiễm sắc đồ 46,XY:
Tùy theo mức độ đột biến, một người có nhiễm sắc 
đồ 46,XY và kháng androgen thì có thể có kiểu hình 
là nam (MAIS) hay nữ (CAIS) [4] hoặc cơ quan sinh 
dục là nam hóa một phần (PAIS). Tuyến sinh dục là 
tinh hoàn bất kể là kiểu hình gì nhờ sự hiện diện của 
gen SRY nằm trên NST Y. Khi thai nhi có AIS không 
đáp ứng với Testosterone hay DHT của nam giới thì chỉ 
những bộ phận không phụ thuộc androgen mới phát 
triển. Tinh hoàn vẫn nằm trong ổ bụng hoặc chuyển 
xuống ống bẹn. Tiền liệt tuyến và các ống sinh dục 
trong khác không hình thành vì thiếu tác động của 
testosterone. AMH ngăn sự hình thành tử cung và phần 
trên âm đạo Như vậy, phụ nữ có bộ nhiễm sắc thể 
46,XY sẽ không có buồng trứng, tử cung, vòi tử cung, 
âm đạo ngắn vì chỉ có phần dưới âm đạo không thuộc 
ống muller được hình thành và được bao quaanh bởi 
môi lớn, môi bé bình thường. Mô dương vật trở thành 
âm vật nên người này có kiểu hình bên ngoài của một 
bé gái bình thường, cơ thể sau này sẽ phát triển theo 
hướng nữ giới dưới tác động của Estrogen do tuyến 
thượng thận tiết ra và một phần do androgen chuyển 
hóa thành nhưng sẽ không thể có thai. 
Bé gái có CAIS phát triển như người bình thường, 
không có triệu chứng nghi ngờ bộ NST giới tính là XY, 
trừ triệu chứng có khối u ở gần bẹn, đó là tinh hoàn. 
Tuy nhiên, phần lớn các trường hợp không thấy khối 
gồ cao này vì tinh hoàn nằm trong ổ bụng. Đến lúc 
dậy thì, dưới tác động của vùng hạ đồi tuyến yên , 
tinh hoàn sản xuất testosterone. Một phần testosterone 
chuyển hóa thành estrogen bắt đầu kích thích tuyến 
Hình 1: khối gồ cao vùng bẹn là vị trí tinh hoàn 
Nguồn: https://www.researchgate.net/figure/51195572[8]
theo đặc tính gen lặn, sự chẩn đoán chỉ cần dựa trên 
xét nghiệm nhiễm sắc đồ nhưng các thầy thuôc sản 
phụ khoa và nhi khoa cần biết rõ để có thể chẩn 
đoán và tư vấn điều trị hỗ trợ cho người bệnh đúng 
lúc, giúp họ chọn lựa hướng phát triển theo đúng 
giới tính về phương diện di truyền và giúp họ ổn 
định tâm lý để nâng cao chất lượng cuộc sống. 
t6m lý của họ. Hỗ trợ tâm lý rất cần cho bệnh nhân 
và cả cha mẹ của họ.
4. Tình huống lâm sàng
Bệnh nhân V.T.P sinh năm 1989 ở Thốt Nốt Cần 
Thơ đã lập gia đình nhiều năm không có con và từ 
khi dậy thì đến nay chưa có kinh. Nhưng vú phát 
triển bình thường. Bệnh nhân đi khám phụ khoa 
tại 1 bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản tại Tp HCM 
thì được siêu âm kết luận không có tử cung, không 
có 2 buồng trứng, âm đạo ngắn khoảng 5 cm. Họ 
được chuyển đi khám ngoại khoa tại BV Chợ Rẫy vì 
nghi có thoát vị bẹn do có 2 khối gồ cao ở bẹn. Tại 
đây Bà P được phẫu thuật và được phát hiện đây là 
2 tinh hoàn nên sau đó được giới thiệu đến Bệnh 
viện Hùng Vương. Tại đây, bà P dược xét nghiệm 
Karyotype và kết quả là bà có bộ NS thể 46,XY.
 Bà P có người dì ruột tên D. A. T cũng có cùng 
triệu chứng giống bà nên Bệnh nhân T được cháu đưa 
lên BV Chợ rẫy để phẫu thuật 2 khối gồ cao vùng 
bẹn. Kết quả cũng là 2 tinh hoàn lạc chỗ. Người này 
cũng được làm Karyotype tại BV Hùng Vương và kết 
quả là 46,XY. Chẩn đoán bệnh của 2 dì cháu là hội 
chứng kháng androgen hoàn toàn (CAIS). Các kết 
quả xét nghiệm nội tiết sinh dục của 2 bệnh nhân sau 
phẫu thuật là:
Hình 2 và 3 cho thấy âm hộ của 2 bệnh nhân 
bình thường, ngoại trừ không có lông mu. Sau khi 
được cắt bỏ 2 tinh hoàn, 2 bệnh nhân đều nhận 
thấy sức khỏe không tốt bằng trước khi phẫu thuật. 
Vú teo nhỏ hơn và âm đạo khô hơn trước. 
Theo lời của bệnh nhân P, bà còn có một người dì 
và một người chị cả chưa có gia đình. Cả hai cũng có 
triệu chứng giống họ là vô kinh từ nhỏ đến lón nhưng 
khối nhô ở vùng bẹn không rõ ràng như họ nên những 
người này không chịu đi khám bệnh. Điều này chứng 
tỏ đây là căn bệnh di truyền theo gen của mẹ.
Về điều trị: hiện tại họ được điều trị với nội tiết 
tố Estrogen. Những người họ hàng của họ đang 
được vận động đi khám để xác định chẩn đóan và 
điều trị thích hợp. 
5. Kết luận
AIS là bệnh hiếm do sự đột biến của gen qui 
định thụ thể androgen AR nằm trên NST X, di truyền 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 08- 11, 2017
11
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
FSH LH Estradiol Progesterone Testosterone
D.A.T 92,84 IU/L 42,11 IU/L 5.00pg/ml 0,153ng/ml 0,033 ng/ml
V.T.P 200 IU/L 92,12 IU/L 5.00pg/ml 0,160ng/ml 0,025 ng/ml
Hình 2: Hai vết sẹo là vị trí 2 tinh hoàn đã bị cắt bỏ của V.T.P (P) và D.A.T (T) 
Hình 3: Khám với mỏ vịt cho thấy không có cổ tử cung của 2 bệnh nhân 
Tài liệu tham khảo
1. Quigley CA, De Bellis A, Marschke KB, el-Awady MK, Wilson EM, French FS 
(1995). “Androgen receptor defects: historical, clinical, and molecular perspectives”. 
Endocr. Rev. 16 (3): 271–321. PMID 7671849. doi:10.1210/edrv-16-3-271.
2. Brown CJ, Goss SJ, Lubahn DB, Joseph DR, Wilson EM, French FS, Willard 
HF (1989). “Androgen receptor locus on the human X chromosome: regional 
localization to Xq11-12 and description of a DNA polymorphism”. American 
Journal of Human Genetics. 44 (2): 264–9. PMC 1715398 . PMID 2563196.
3. Köhler B, Lumbroso S, Leger J, et al (2005). “Androgen insensitivity 
syndrome: somatic mosaicism of the androgen receptor in seven families and 
consequences for sex assignment and genetic counseling”. J. Clin. Endocrinol. 
Metab. 90(1): 106–11. PMID 15522944. doi:10.1210/jc.2004-0462.
4. Ghadessy FJ, Lim Jet al (1999). “Oligospermic infertility associated with an 
androgen receptor mutation that disrupts interdomain and coactivator (TIF2) 
interactions”. J. Clin. Invest. 103 (11): 1517–25. PMC 408364 
5. Gilbert SF (2000). Developmental biology. Sunderland, Mass: Sinauer 
Associates. ISBN 0-87893-243-7
6. Hannema SE, Scott IS, Hodapp J, Martin H, Coleman N, Schwabe JW, 
Hughes IA (2004). Residual activity of mutant androgen receptors explains 
wolffian duct development in the complete androgen insensitivity syndrome J. 
Clin. Endocrinol. Metab. 89 (11): 5815 – 22. 
7. 
8. https://www.researchgate.net/figure/51195572_
9.  

File đính kèm:

  • pdfhoi_chung_khang_androgen_kinh_nghiem_lam_sang.pdf