Hội chứng gương: Báo cáo trường hợp và tổng quan tài liệu
Hội chứng gương là tam chứng bao gồm thai tích dịch, phù mẹ và
phù nhau. Bệnh nguyên và bệnh sinh chưa được hiểu rõ và thường bị
chẩn đoán nhầm với tiền sản giật. Hội chứng này thường đi kèm với
tăng tỷ lệ chết thai và bệnh tật mẹ.
Chúng tôi báo cáo trường hợp hội chứng gương khởi phát vào tuổi
thai 30 tuần ở thai phụ con so biểu hiện phù nhiều và tăng cân nhanh,
tăng huyết áp. Xét nghiệm công thức máu 2 vợ chồng có MCV và MCH
giảm. Trên siêu âm thai biểu hiện tình trạng thai tích dịch, bánh nhau
dày, vô ối và thiếu máu thai nhi. Các xét nghiệm xác định nguyên
nhân gây tình trạng thai tích dịch là thiếu máu thai nhi do bệnh lý alpha
thalassemia thể nặng – Hb Bart’s. Sau khi tư vấn, thai phụ và gia đình
lựa chọn khởi phát chuyển dạ, em bé chết ngay sau sinh. Các triệu
chứng của thai phụ giảm hẳn sau 5 ngày.
Hội chứng gương là bệnh cảnh nặng của phù mẹ và thai tích dịch
nặng. Khi nguyên nhân cụ thể gây thai tích dịch không thể được xác
định và điều trị, thì khởi phát chuyển dạ sớm là cần thiết để tránh tử
vong thai và các biến chứng mẹ.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hội chứng gương: Báo cáo trường hợp và tổng quan tài liệu
LÊ ĐỨC VĨNH, NGUYỄN VĂN HIỀN, VÕ TÁ SƠN 162 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 Lê Đức Vĩnh, Nguyễn Văn Hiền, Võ Tá Sơn Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng HỘI CHỨNG GƯƠNG: BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Văn Hiền, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Từ khóa: hội chứng gương, hội chứng Ballantyne, phù thai, giả ngộ độc thai nghén, phù nhau thai. Keywords: mirror syndrome; ballantyne syndrome; fetal hydrops; pseudotoxemia; triple edema; maternal edema; placenta hydrops. Tóm tắt Hội chứng gương là tam chứng bao gồm thai tích dịch, phù mẹ và phù nhau. Bệnh nguyên và bệnh sinh chưa được hiểu rõ và thường bị chẩn đoán nhầm với tiền sản giật. Hội chứng này thường đi kèm với tăng tỷ lệ chết thai và bệnh tật mẹ. Chúng tôi báo cáo trường hợp hội chứng gương khởi phát vào tuổi thai 30 tuần ở thai phụ con so biểu hiện phù nhiều và tăng cân nhanh, tăng huyết áp. Xét nghiệm công thức máu 2 vợ chồng có MCV và MCH giảm. Trên siêu âm thai biểu hiện tình trạng thai tích dịch, bánh nhau dày, vô ối và thiếu máu thai nhi. Các xét nghiệm xác định nguyên nhân gây tình trạng thai tích dịch là thiếu máu thai nhi do bệnh lý alpha thalassemia thể nặng – Hb Bart’s. Sau khi tư vấn, thai phụ và gia đình lựa chọn khởi phát chuyển dạ, em bé chết ngay sau sinh. Các triệu chứng của thai phụ giảm hẳn sau 5 ngày. Hội chứng gương là bệnh cảnh nặng của phù mẹ và thai tích dịch nặng. Khi nguyên nhân cụ thể gây thai tích dịch không thể được xác định và điều trị, thì khởi phát chuyển dạ sớm là cần thiết để tránh tử vong thai và các biến chứng mẹ. Từ khóa: hội chứng gương, hội chứng Ballantyne, phù thai, giả ngộ độc thai nghén, phù nhau thai. Abstract Mirror syndrome is a triad consisting of fetal hydrops, maternal edema and placentomegaly. The pathogenesis is unclear and it is frequently mistaken for preeclampsia. It is associated with an increase in fetal mortality and maternal morbility. We report an uncommon case of mirror syndrome, which appeared at 30 weeks of gestation, in a young nulliparous and characterized by sudden and massive edema at the lower part of body and hypertension. Blood count test of couple show low level of MCH and MCV. Prenatal ultrasound reveals a condition of fetal hydrops fetalis with fetal anemia, TỔ N G Q U A N B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 163 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 1. Đặt vấn đề Hội chứng gương (mirror syndrome) hay còn được gọi là hội chứng Ballantyne, là một biến chứng sản khoa rất hiếm gặp rất có ảnh hưởng lên thai kỳ. Năm 1982, John W. Ballantyne lần đầu tiên mô tả sự kết hợp giữa tình trạng phù của thai phụ, thai tích dịch và phù bánh nhau với tên gọi là hội chứng Ballantyne [1]. Kể từ đó, nhiều tên gọi khác nhau được sử dụng để mô tả tình trạng này, như là giả ngộ độc thai nghén (pseudotoxemia), tam chứng phù mẹ - thai - nhau, và hội chứng phù mẹ [2]. Thuật ngữ “mirror syndrome – hội chứng gương” được đề xuất bởi O’Driscoll vào năm 1956, phản ánh tình trạng phù đồng thời cả mẹ và thai, là đặc điểm đặc trưng cho hội chứng này. Phù thai là hiện tượng tích tụ dịch ở hai hay nhiều khoang của cơ thể thai nhi (màng phổi, màng tim, da, ổ bụng). Gọi là hội chứng gương vì có sự phản chiếu tình trạng phù mẹ với tình trạng phù ở thai nhi. Việc chẩn đoán hội chứng gương rất quan trọng vì hội chứng này làm tăng các nguy cơ biến chứng nặng ở cả bà mẹ lẫn thai nhi. Tuy nhiên, cơ chế bệnh sinh của hội chứng này đến nay vẫn chưa rõ. Tỷ lệ hội chứng Ballantyne trong thai kỳ rất thấp và chỉ mới vài chục trường hợp đã được ghi nhận. Hầu hết các dữ liệu có sẵn hiện tại trong y văn được cung cấp từ các báo cáo loạt ca riêng lẻ [2]. Trước năm 2007, chỉ có 25 trường hợp được báo cáo [2]. Từ năm 2010, số trường hợp được báo cáo lên đến 56 trường hợp theo một tổng quan hệ thống được cập nhật năm 2017. Kể từ đó, số lượng đã tăng gần gấp đôi, với các báo cáo trường hợp bổ sung nhưng chưa được xem xét một cách hệ thống. Vì vậy, chúng tôi báo cáo trường hợp này nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng của thai phụ bị hội chứng gương do thai nhi mang gene bệnh alpha thalassemia thể nặng. Điều này có thể giúp các bác sĩ cải thiện độ chính xác chẩn đoán của họ và phân biệt với tiền sản giật, bên cạnh đó cũng giúp theo dõi tốt hơn và phát hiện sớm các thai phụ có nguy cơ, và hướng dẫn điều trị giải quyết nguyên nhân. 2. Trường hợp lâm sàng Thai phụ 32 tuổi, lập gia đình 7 năm, mang thai lần đầu, tiền sử chưa ghi nhận bênh lý gì đặc biệt. Quá trình khám thai lúc 13 tuần phát hiện khoảng mờ gáy dày (NT) 3,8 mm, hai vợ chồng thiếu máu với MCH, MCV thấp. Thai phụ được tư vấn xét nghiệm xâm lấn làm nhiễm sắc thể đồ và tìm đột biến gene Thalassemia nhưng thai phụ và gia đình từ chối, xin tiếp tục theo dõi thai kỳ mà không làm gì thêm. Lúc 20 tuần khám thai ghi nhận bánh nhau dày 63mm. Tại thời điểm 25 tuần bắt đầu ghi nhận phù da đầu, tràn dịch ổ bụng lượng ít, bánh nhau dày. Thai phụ đến viện lúc 30 tuần vì tình trạng phù toàn thân, nhiều ở 2 chi dưới và vùng môi lớn, huyết áp 150/100mmHg, không đau đầu, mắt nhìn rõ. Xét nghiệm máu cho kết quả TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 162 - 167, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 placentomegaly and anhydramnios. Cordocentesis result confirmed that fetal carries severe form of alpha thalassemia – Hb Bart’s. Labor induction was indicated immediately and the baby was died after birth. The maternal symtoms was disappeared completely at the day 5 of postpartum period. Mirror syndrome is a manifestation of extremely severe fetal hydrops. When the specific cause of fetal hydrops cannot be identified and corrected, immediate delivery is necessary in order to avoid fetal death and maternal complications. Keywords: mirror syndrome; ballantyne syndrome; fetal hydrops; pseudotoxemia; triple edema; maternal edema; placenta hydrops. LÊ ĐỨC VĨNH, NGUYỄN VĂN HIỀN, VÕ TÁ SƠN 164 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 TỔ N G Q U A N B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P hemoglobin 84g/l, hematocrit giảm 28,9%, tiểu cầu bình thường 155 G/l. Chức năng gan thận bình thường. Acid uric tăng 573 mcmol/l. Các chỉ số protein máu và albumin máu giảm tương ứng là 44 và 22 g/l. Protein niệu 4,3 g/l trong mẫu nước tiểu 24 giờ. Siêu âm thai ghi nhận tình trạng thai tích dịch với tràn dịch ổ phúc mạc lượng nhiều 20mm, phù da đầu, tim lớn chiếm gần như toàn bộ lồng ngực, gan lớn, bánh nhau dày 92 mm và không quan sát thấy nước ối. Vận tốc đỉnh động mạch não giữa (MCA PSV) là 85cm/s (tương ứng với 2,09 MoM), chưa có bất thường cơ quan khác được ghi nhận trên siêu âm. Thai phụ được chỉ định xét nghiệm xâm lấn lấy máu cuống rốn xét nghiệm công thức máu, nhóm máu, điện di hemoglobin, TORCH IgM, karyotype máu thai nhi. Kết quả điện di hemoglobin máu cuống rốn ghi nhận thai nhi mang hemoglobin Bart’s. Thai nhi được chẩn đoán phù thai tích dịch liên quan đến thiếu máu thai nhi do alpha thalassemia thể nặng và thai phụ được chẩn đoán có tình trạng hội chứng gương, và sau khi giải thích thai phụ và gia đình lựa chọn khởi phát chuyển dạ chấm dứt thai kỳ. Em bé tử vong sau sinh vài giờ, ghi nhận tràn dịch ổ bụng lượng nhiều, phù da toàn thân, cân nặng 1300gr, bánh nhau nặng 2200gr. Công thức máu thai nhi sau sinh ghi nhận hồng cầu 2,8 T/l, hemoglobin 74 g/l, hematocrit 42,6 g/l, MCH Hình 1: Hình bên trái mô tả phù da đầu, hình bên phải mô tả tình trạng tràn dịch ổ bụng lượng nhiều. Hình 2: Hình bên trái mô tả tim lớn chiếm gần hết khoang ngực, hình bên phải mô tả bánh nhau dày. 25pg, bạch cầu 274 G/l, tiểu cầu 157 G/l. Sản phụ sau sinh ghi nhận có tình trạng băng huyết, đờ tử cung có can thiệp nội khoa bằng Duratocin. Sau đó tình trạng ổn, các triệu chứng giảm hẳn sau 5 ngày. Chẩn đoán cuối cùng thai con so, 30 tuần, thai tích dịch do đồng hợp tử alpha thalassemia, biến chứng hội chứng gương. 3. Bàn luận Hội chứng gương là một tình trạng bệnh lý hiếm gặp, được mô tả với các triệu chứng thai tích dịch và phù mẹ đi kèm với tăng cân nhiều, phù bánh nhau [2]. Cơ chế bệnh sinh của hội chứng hiếm gặp này vẫn chưa được làm sáng tỏ, mặc dù một báo cáo gần đây cho rằng có sự thay đổi chức năng bánh nhau tương tự như đã được ghi nhận trong tiền sản giật [4]. Trên thực tế, cả hai thể bệnh này đều có chung đặc điểm lâm sàng là tăng huyết áp và phù mẹ [4]. Tuy nhiên, các tài liệu hiện có gợi ý rằng hội chứng gương có thể được phân biệt với tiền sản giật bởi sự khởi phát sớm trong thai kỳ, hoặc vắng mặt hiện tượng tăng phản xạ (hyper-reflexia), và có sự hiện diện của pha loãng máu (giảm hematocrit và giảm albumin máu), điều này là một sự tương phản rõ ràng với hiện tượng cô đặc máu được quan sát thấy ở trong các thai phụ tiền sản giật. Trước năm 1970, hội chứng gương được cho là do hậu quả của bất đồng nhóm máu rhesus [1]. Hình 3: Kết quả điện di máu cuống rốn cho thấy thai nhi có tỷ lệ Hb Barts chiếm trên 80%. Hình 4: Ảnh bé sau sinh với tràn dịch ổ bụng lượng nhiều, phù toàn thân. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 165 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 162 - 167, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Tuy nhiên, với sự phát triển của siêu âm và chẩn đoán trước sinh, mọi thứ trở nên rõ ràng hơn rằng có nhiều nguyên nhân cũng có thể dẫn đến thai tích dịch nặng tương tự như được quan sát trong hội chứng gương [1, 5]. Trong một nghiên cứu được báo cáo năm 2006, tác giả đề xuất rằng phù bánh nhau, với thiếu oxy bánh nhau thứ phát, có thể là dấu hiệu mở đầu [3]. Thực tế rằng, vai trò của bánh nhau trong bệnh nguyên của hội chứng gương không nên bị bỏ qua. Nhiều yếu tố bánh nhau có liên quan đến hội chứng gương, như sFLt- 1 (fms-like tyrosine kinase 1) và PlGF (placental growth factor) và beta hCG [4]. Các báo cáo gần đây gợi ý rằng hiện tượng tăng lượng sFlt-1 và giảm PlGF liên quan nhiều trong hội chứng gương [4,6]. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng được ghi nhận ở trên thai phụ tiền sản giật [4]. Để giải quyết vấn đề này, De Olivera và cộng sự, vào năm 2011, mô tả tỷ lệ sFlt-1:PlGF >85 trên bệnh nhân chẩn đoán tiền sản giật [7]. Ông đưa ra giả thuyết rằng thai phụ có hội chứng gương có nồng độ PlGF cao hơn bởi vì có sự tăng kích thước bánh nhau và do đó, chỉ số này sẽ thấp hơn.[7]. Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng Các yếu tố bánh nhau Dữ liệu về PlGF và sFlt-1 chỉ được ghi nhận ở 11 trường hợp trong tổng số 113 trường hợp đã báo cáo. Có 10/11 trường hợp có nồng độ sFlt-1 tăng so với ngưỡng bình thường (787-2540 pg/mL) [4]. Tỉ số sFlt-1:PlGF dưới 84 trong 4 trường hợp, điều này phù hợp với chẩn đoán hội chứng gương hơn là tiền sản giật [7]. Ngoài ra, bất đồng nhóm máu Rhesus, đa thai, nhiễm trùng bào thai, bất thường cấu trúc thai nhi, và u bánh nhau hoặc u của thai cũng có thể là nguyên nhân gây nên hội chứng gương [2]. Hội chứng truyền máu cho nhận [4] và bạch cầu cấp [8] cũng được báo cáo liên quan đến hội chứng gương. Bảng 1. Sự biểu hiện các yếu tố bánh nhau ở bệnh nhân chẩn đoán hội chứng gương [20] Tuổi thai xuất hiện: Hội chứng gương thường biểu hiện từ 16 đến 34 tuần tuổi thai [2]. Đỉnh điểm hội chứng gương xuất hiện nhiều nhất vào giai đoạn muộn của quý 2 thai kỳ, với tuổi thai trung bình lúc chẩn đoán là 27 tuần +- 30 ngày. Việc xuất hiện sớm hơn trong thai kỳ là một yếu tố quan trọng để phân biệt hội chứng gương với tiền sản giật [8]. Tuổi thai sớm nhất mà mẹ có triệu chứng được ghi nhận là 16 tuần [11]. Mặt khác, các triệu chứng của mẹ có thể xuất hiện muộn ở thai 39 tuần [12]. Do đó, tuổi thai mà mẹ xuất hiện triệu chứng lần đầu nên mở rộng là 16 đến 39 tuần so với đến 36 tuần theo nghiên cứu trước đó [2]. Điều cần chú ý là nó có thể khởi phát gần thời điểm thai đủ tháng hơn, có nhiều sự chồng lấp triệu chứng hơn giữa hội chứng gương và tiền sản giật, và việc sử dụng mỗi tiêu chuẩn tuổi thai để phân biết giữa 2 nhóm ít có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, cần chú ý rằng hội chứng gương ít khi xuất hiện muộn như tiền sản giật. Hơn 50% các trường hợp hội chứng gương được chẩn đoán từ 26,5 tuần đến 27,5 tuần, với chỉ số ít các trường hợp được báo cáo hiện diện ở tuổi thai lớn hơn. Sự pha loãng máu: một đặc điểm đặc trưng Cả phù và tăng huyết áp cũng khá hay gặp ở thai phụ tiền sản giật, điểm nổi bất chồng lấp dẫn đến việc khó chẩn đoán. Tuy nhiên, sự hiện diện của hiện tượng pha loãng máu có thể được sử dụng để chẩn đoán phân biệt [4]. Vào năm 2015, Hirata và cộng sự, so sánh thai phụ có hội chứng gương với các thai phụ khác cũng có đặc điểm thai tích dịch nhưng không có hội chứng gương. Họ thấy rằng sự pha loãng, được định nghĩa với nồng độ hemoglobin và albumin thấp, rất hay đi kèm ở nhóm thai phụ có hội chứng gương so với nhóm không có [19]. Trong nghiên cứu này, sự Dấu hiệu mẹ n % Tăng cân, phù 95 84 Tăng huyết áp 68 60,1 Thiếu máu hoặc giảm hematocrit 56 51,3 Khó thở hoặc phù phổi 34 30 Tăng acid uric/ creatinine 23 20,3 Tăng men gan 22 19,4 Thiểu niệu 17 15 Đau đầu 14 12,3 Nhìn mờ 10 8,8 Giảm tiểu cầu 10 8,8 Buồn nôn, nôn 7 5,2 Bảng 2. Các triệu chứng của mẹ [20] LÊ ĐỨC VĨNH, NGUYỄN VĂN HIỀN, VÕ TÁ SƠN 166 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 TỔ N G Q U A N B Á O C Á O T R Ư Ờ N G H Ợ P pha loãng là đặc điểm nội trội trên thai phụ được nghiên cứu, về mặt tần suất, là dấu hiệu mẹ phổ biến thứ 3 tương ứng sau phù và tăng huyết áp. Thai phụ bị ảnh hưởng thường có biểu hiện phù, tăng cân, tăng huyết áp, tăng men gan, thiếu máu, đau đầu và rối loạn thị giác. Trên cả những yếu tố này, siêu âm thai điển hình có sự hiện diện của thai tích dịch và/hoặc phù bánh nhau [2]. Chẩn đoán và chuỗi bệnh lý Chẩn đoán hội chứng gương chủ yếu dựa vào sự xuất hiện đồng thời các dấu hiệu ở cả mẹ và thai. Tuy nhiên, sự xảy ra đồng thời này không phải luôn xuất hiện. Trên thực tế, các dấu hiệu thai nhi có thể xuất hiện sớm hơn các dấu hiệu mẹ khoảng 1-2 tuần. Sự hiểu biết về các dạng trình bày có thể cải thiện độ chính xác chẩn đoán của các bác sĩ thực hành khi chẩn đoán phân biệt với các tình trạng tương tự như tiền sản giật. Nó cũng có thể giúp xác định các thai phụ nghi ngờ tiến triển thành hội chứng gương và do đó, tác động lên quá trình theo dõi để tăng khả năng phát hiện sớm. Tuy nhiên sự xuất hiện triệu chứng mẹ và thai đồng thời hay không cũng không tác động lên tỷ lệ tử vong thai nhi. Do vậy, sự xuất hiện sớm hơn các triệu chứng ở mẹ hoặc thai đơn lẻ, mà không có can thiệp gì, sẽ không giúp ích cho dự đoán kết cục. Điều trị Một loạt các phương thức điều trị đã được sử dụng để làm giảm các triệu chứng mẹ và cải thiện tình trạng thai tích dịch [2,3]. Tuy nhiên, không có sự Dấu hiệu thai n % Phù thai 107 94,7 Phù bánh nhau 71 62,8 Đa ối 38 33,6 Bất thường thai 20 17,6 Phì đại các cơ quan 19 16,8 Các khối u thai nhi 17 15 Thiểu ối 15 13,2 Bảng 3. Các triệu chứng của thai [20] Bệnh đi kèm n % Thiếu máu thai nhi 19 16,8 Bất đồng nhóm máu Rh 19 16,8 Đa thai 19 16,8 Hội chứng truyền máu song thai 15 13,2 Parvovirus B19 14 12,3 Cytomegalovirus 3 2,7 Coxsackie virus 1 0,8 Rối loạn chuyển hóa 1 0,8 Bảng 4. Các tình trạng đi kèm [20] so sánh giữa tác động của các phương pháp này lên kết cục của mẹ và thai. Khi tình trạng thai tích dịch là không thể thai đổi được, khởi phát chuyển dạ hoặc chấm dứt thai kỳ có thể là sự lựa chọn duy nhất để đảm bảo sự an toàn của mẹ. Các triệu chứng của mẹ biến mất hoàn toàn thường sau khi sinh hoặc chấm dứt thai kỳ [3]. Tiên lượng của thai phụ mang hội chứng gương nhìn chung được đặc trưng bởi tăng tỷ lệ bệnh tật mẹ và tử vong thai. Tỷ lệ báo cáo hiện tại về thai tử trong tử cung là 56% [3]. Các can thiệp bao gồm truyền máu cho mẹ, truyền máu trong tử cung, can thiệp cắt đốt bằng laser, và chọc ối. Một số thủ thuật được thực hiện ngay cả khi thai nhi đang ở trong tử cung như shunt ổ phúc mạc – buồng ối, shunt khoang màng phổi – khoang ối, và nong van động mạch chủ. Khởi phát chuyển dạ cũng là một phương pháp điều trị có cải thiện khả năng sống sót. Qua các trường hợp đã được báo cáo, tình trạng mẹ sẽ cải thiện một khi thai tích dịch được điều trị. Theo một nghiên cứu của Hirata và cộng sự 2015 cho thấy, ở một thai phụ có hội chứng gương, can thiệp xâm lấn cải thiện tình trạng thai và duy trì thai kỳ tiếp tục [19]. Sau khi tương quan hiệu chỉnh của các phương pháp điều trị khác nhau với kết cục thai nhi, các tác giả tìm thấy rằng các thủ thuật can thiệp điều trị thai tích dịch, thiếu máu thai nhi liên quan đáng kể với cải thiện sự sống sót của thai nhi. Ngoài ra khởi phát chuyển dạ, cũng liên quan với những lợi ích tương tự. Kết cục Tiên lượng thai nhi trong hội chứng gương nhìn chung là xấu. Tỷ lệ tử vong chung được xác định là 67,26%. Thai chết trong tử cung chiếm 57,89% tổng số tử vong và chiếm 38.9% trong tất cả các trường hợp hội chứng gương. Tử vong sơ sinh chiếm 34,21% tổng số tử vong [20]. Cần chú ý rằng hội chứng gương có vẻ không có tác động lên tử vong mẹ, vì không có trường hợp nào Các can thiệp n % Thủ thuật 32 28,3 Thuốc 27 23,9 Mổ lấy thai 22 19,5 Khởi phát chuyển dạ 14 12,4 Chăm sóc hỗ trợ 11 9,7 Feticide chọn lọc 5 4,4 Tổng 113 100,0 Bảng 5. Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn các can thiệp điều trị khác nhau [20]. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 167 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 162 - 167, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 được báo cáo. Sau khi sinh hoặc chấm dứt thai kỳ, thời gian trung bình cần thiết để mẹ phục hồi là 5,5 ngày. Trường hợp dài nhất để mẹ phục hội được ghi nhận là 90 ngày ở một thai phụ có tình trạng suy gan, suy thận tiến triển sau khi chẩn đoán hội chứng gương [13]. 4. Kết luận Hội chứng gương là một biến chứng hiếm gặp trong thai kỳ, có cơ chế bệnh sinh chưa được hiểu rõ và thường bị bỏ sót do triệu chứng lâm sàng trên mẹ gần giống như bệnh lý tiền sản giật. Nhưng các phương pháp điều trị hiện có tương đối phức tạp, hiệu quả chưa rõ ràng và kết cục thai nhi nhìn chung là xấu. Do đó, việc phát hiện sớm và cung cấp các thông tin cần thiết về hội chứng này có ý nghĩa lớn giúp sản phụ và gia đình có được các quyết định sớm để giảm thiểu các biến chứng mẹ. Tài liệu tham khảo 1. Kaiser IH. Ballantyne and triple edema. Am J Obstet Gynecol. 1971;110:115–20. 2. Braun T, Brauer M, Fuchs I, Czernik C, Dudenhausen JW, Henrich W, et al. Mirror syndrome: a systematic review of fetal associ-ated conditions, maternal presentation and perinatal outcome. Fetal Diagn Ther. 2010;27:191–203. 3. Espinoza J, Romero R, Nien JK, Kusanovic JP, Richani K, Gomez R, et al. A role of the anti-angiogenic factor sVEGFR-1 in the “mirror syndrome” (Ballantyne’s syndrome). J Matern Neonatal Med. 2006;19:607–13. 4. Goa S, Mimura K, Kakigano A, Tomimatsu T. Normalisation of angiogenic imbalance after intra-uterine transfusion for mirror syndrome caused by parvovirus B19. Fetal Diagn Ther. 2013;34:176–9. 5. Carbillon L, Oury JF, Guerin JM, Azancot A, Blot P. Clinical biologi-cal features of Ballantyne syndrome and the role of placental hydrops. Obstet Gynecol Surv. 1997;52:310–4. 6. Prefumo F, Pagani G, Fratelli N, Benigni A, Frusca T. Increased concentrations of antiangiogenic factors in mirror syndrome complicating twin-to-twin transfusion syndrome. Prenat Diagn. 2010;30:378–9. 7. De Oliveira L, Sass N, Boute T, Moron AF. SFlt-1 and PlGF levels in a patient with mirror syndrome related to cytomegalovirus infec-tion. Euro J Obstet Gynecol Repr Bio. 2011;158:366–7. 8. Lee JY, Hwang JY. Mirror syndrome associated with fetal leuke-mia. J Obstet Gynaecol Res. 2015;41:971–4. 9. Harry W, Clewell WH. Resolution of Ballantyne syndrome fol-lowing the resolution of fetal hydrops secondary to congenital parvovirus. Ultrasound Obst Gynecol. 2005;26:376–471. 10. Heyborne KD, Chism DM. Reversal of Ballantyne syndrome by selective second-trimester fetal termination. A case report. J Reprod Med. 2000; 45:360–2. 11. Zhao Y, Liu G, Wang J, Yang J, Shen D, Zhang X. Mirror syndrome in a Chinese hospital: diverse causes and maternal fetal features. J Matern Fetal Neonatal Med. 2013;26:254–8. 12. Chang YL, Chao AS, Hsu JJ, Chang SD, Soong YK. Selective fetocide reversed mirror syndrome in a dichorionic triplet pregnancy with severe twin-twin transfusion syndrome: a case report. Fetal Diagn Ther. 2007;22:428–30. 13. Graham N, Garrod A, Bullen P, Heazell AE. Placental expression of anti- angiogenic proteins in mirror syndrome: a case report. Placenta. 2012;33:528–31. 14. Llurba E, Marsal G, Sanchez O, Dominguez C, Alijotas-Reig J, Carreras E, et al. Angiogenic and antiangiogenic factors before and after resolution of maternal mirror syndrome. Ultrasound Obstet Gynecol. 2012;40:367–9. 15. Rana S, Venkatesha S, DePaepe M, Chien EK, Paglia M, Karuman- chi SA. Cytomegalovirus-induced mirror syndrome associated with elevated levels of circulating antiangiogenic factors. Obstet Gynecol. 2007;109(2 Pt 2):549–52. 16. Stepan H, Renaldo F. Elevated sFlt1 level and preec-lampsia with parvovirus-induced hydrops. N Engl J Med. 2006;354:1857–8. 17. Takahashi H, Matsubara S, Kuwata T, Ohkuchi A, Mukoda Y, Saito K, et al. Maternal manifestation of Ballantyne’s syndrome occur- ring concomitantly with the development of fetal congenital mesoblastic nephroma. J Obstet Gynaecol Res. 2014;40:1114–7. 18. Vidaeff AC, Pschirrer ER, Mastrobattista JM, Gilstrap LC 3rd, Ramin SM. Mirror syndrome. A case report. J Reprod Med. 2002;47:770–4. 19. Hirata G, Aoki S, Sakamaki K, Takahashi T, Hirahara F, Ishikawa H. Clinical characteristics of mirror syndrome: a comparison of 10 cases of mirror syndrome with non-mirror syndrome fetal hydrops cases. J Matern Neonatal Med. 2016;29:2630–4. 20. Sabah Allarakia et al. Characteristics and management of mirrorsyndrome: a systematic review (1956–2016). De Gruyter, J. Perinat. Med. 2017
File đính kèm:
hoi_chung_guong_bao_cao_truong_hop_va_tong_quan_tai_lieu.pdf

