Hội chứng gương: Báo cáo trường hợp và tổng quan tài liệu

Hội chứng gương là tam chứng bao gồm thai tích dịch, phù mẹ và

phù nhau. Bệnh nguyên và bệnh sinh chưa được hiểu rõ và thường bị

chẩn đoán nhầm với tiền sản giật. Hội chứng này thường đi kèm với

tăng tỷ lệ chết thai và bệnh tật mẹ.

Chúng tôi báo cáo trường hợp hội chứng gương khởi phát vào tuổi

thai 30 tuần ở thai phụ con so biểu hiện phù nhiều và tăng cân nhanh,

tăng huyết áp. Xét nghiệm công thức máu 2 vợ chồng có MCV và MCH

giảm. Trên siêu âm thai biểu hiện tình trạng thai tích dịch, bánh nhau

dày, vô ối và thiếu máu thai nhi. Các xét nghiệm xác định nguyên

nhân gây tình trạng thai tích dịch là thiếu máu thai nhi do bệnh lý alpha

thalassemia thể nặng – Hb Bart’s. Sau khi tư vấn, thai phụ và gia đình

lựa chọn khởi phát chuyển dạ, em bé chết ngay sau sinh. Các triệu

chứng của thai phụ giảm hẳn sau 5 ngày.

Hội chứng gương là bệnh cảnh nặng của phù mẹ và thai tích dịch

nặng. Khi nguyên nhân cụ thể gây thai tích dịch không thể được xác

định và điều trị, thì khởi phát chuyển dạ sớm là cần thiết để tránh tử

vong thai và các biến chứng mẹ.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hội chứng gương: Báo cáo trường hợp và tổng quan tài liệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hội chứng gương: Báo cáo trường hợp và tổng quan tài liệu

Hội chứng gương: Báo cáo trường hợp và tổng quan tài liệu
LÊ ĐỨC VĨNH, NGUYỄN VĂN HIỀN, VÕ TÁ SƠN
162
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
Lê Đức Vĩnh, Nguyễn Văn Hiền, Võ Tá Sơn 
Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
HỘI CHỨNG GƯƠNG:
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Văn Hiền, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Từ khóa: hội chứng gương, hội 
chứng Ballantyne, phù thai, 
giả ngộ độc thai nghén, phù 
nhau thai.
Keywords: mirror syndrome; 
ballantyne syndrome; fetal 
hydrops; pseudotoxemia; 
triple edema; maternal edema; 
placenta hydrops.
Tóm tắt
Hội chứng gương là tam chứng bao gồm thai tích dịch, phù mẹ và 
phù nhau. Bệnh nguyên và bệnh sinh chưa được hiểu rõ và thường bị 
chẩn đoán nhầm với tiền sản giật. Hội chứng này thường đi kèm với 
tăng tỷ lệ chết thai và bệnh tật mẹ.
Chúng tôi báo cáo trường hợp hội chứng gương khởi phát vào tuổi 
thai 30 tuần ở thai phụ con so biểu hiện phù nhiều và tăng cân nhanh, 
tăng huyết áp. Xét nghiệm công thức máu 2 vợ chồng có MCV và MCH 
giảm. Trên siêu âm thai biểu hiện tình trạng thai tích dịch, bánh nhau 
dày, vô ối và thiếu máu thai nhi. Các xét nghiệm xác định nguyên 
nhân gây tình trạng thai tích dịch là thiếu máu thai nhi do bệnh lý alpha 
thalassemia thể nặng – Hb Bart’s. Sau khi tư vấn, thai phụ và gia đình 
lựa chọn khởi phát chuyển dạ, em bé chết ngay sau sinh. Các triệu 
chứng của thai phụ giảm hẳn sau 5 ngày. 
Hội chứng gương là bệnh cảnh nặng của phù mẹ và thai tích dịch 
nặng. Khi nguyên nhân cụ thể gây thai tích dịch không thể được xác 
định và điều trị, thì khởi phát chuyển dạ sớm là cần thiết để tránh tử 
vong thai và các biến chứng mẹ.
Từ khóa: hội chứng gương, hội chứng Ballantyne, phù thai, giả ngộ 
độc thai nghén, phù nhau thai.
Abstract 
Mirror syndrome is a triad consisting of fetal hydrops, maternal 
edema and placentomegaly. The pathogenesis is unclear and it is 
frequently mistaken for preeclampsia. It is associated with an increase 
in fetal mortality and maternal morbility.
We report an uncommon case of mirror syndrome, which appeared 
at 30 weeks of gestation, in a young nulliparous and characterized by 
sudden and massive edema at the lower part of body and hypertension. 
Blood count test of couple show low level of MCH and MCV. Prenatal 
ultrasound reveals a condition of fetal hydrops fetalis with fetal anemia, 
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
163
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Hội chứng gương (mirror syndrome) hay còn 
được gọi là hội chứng Ballantyne, là một biến 
chứng sản khoa rất hiếm gặp rất có ảnh hưởng lên 
thai kỳ. Năm 1982, John W. Ballantyne lần đầu 
tiên mô tả sự kết hợp giữa tình trạng phù của thai 
phụ, thai tích dịch và phù bánh nhau với tên gọi là 
hội chứng Ballantyne [1]. Kể từ đó, nhiều tên gọi 
khác nhau được sử dụng để mô tả tình trạng này, 
như là giả ngộ độc thai nghén (pseudotoxemia), 
tam chứng phù mẹ - thai - nhau, và hội chứng phù 
mẹ [2]. Thuật ngữ “mirror syndrome – hội chứng 
gương” được đề xuất bởi O’Driscoll vào năm 1956, 
phản ánh tình trạng phù đồng thời cả mẹ và thai, 
là đặc điểm đặc trưng cho hội chứng này. Phù thai 
là hiện tượng tích tụ dịch ở hai hay nhiều khoang 
của cơ thể thai nhi (màng phổi, màng tim, da, ổ 
bụng). Gọi là hội chứng gương vì có sự phản chiếu 
tình trạng phù mẹ với tình trạng phù ở thai nhi. 
Việc chẩn đoán hội chứng gương rất quan trọng 
vì hội chứng này làm tăng các nguy cơ biến chứng 
nặng ở cả bà mẹ lẫn thai nhi. Tuy nhiên, cơ chế 
bệnh sinh của hội chứng này đến nay vẫn chưa rõ. 
Tỷ lệ hội chứng Ballantyne trong thai kỳ rất thấp và 
chỉ mới vài chục trường hợp đã được ghi nhận. Hầu 
hết các dữ liệu có sẵn hiện tại trong y văn được 
cung cấp từ các báo cáo loạt ca riêng lẻ [2]. Trước 
năm 2007, chỉ có 25 trường hợp được báo cáo [2]. 
Từ năm 2010, số trường hợp được báo cáo lên đến 
56 trường hợp theo một tổng quan hệ thống được 
cập nhật năm 2017. Kể từ đó, số lượng đã tăng 
gần gấp đôi, với các báo cáo trường hợp bổ sung 
nhưng chưa được xem xét một cách hệ thống. 
Vì vậy, chúng tôi báo cáo trường hợp này 
nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng của thai phụ 
bị hội chứng gương do thai nhi mang gene bệnh 
alpha thalassemia thể nặng. Điều này có thể giúp 
các bác sĩ cải thiện độ chính xác chẩn đoán của 
họ và phân biệt với tiền sản giật, bên cạnh đó 
cũng giúp theo dõi tốt hơn và phát hiện sớm các 
thai phụ có nguy cơ, và hướng dẫn điều trị giải 
quyết nguyên nhân.
2. Trường hợp lâm sàng
Thai phụ 32 tuổi, lập gia đình 7 năm, mang 
thai lần đầu, tiền sử chưa ghi nhận bênh lý gì đặc 
biệt. Quá trình khám thai lúc 13 tuần phát hiện 
khoảng mờ gáy dày (NT) 3,8 mm, hai vợ chồng 
thiếu máu với MCH, MCV thấp. Thai phụ được tư 
vấn xét nghiệm xâm lấn làm nhiễm sắc thể đồ và 
tìm đột biến gene Thalassemia nhưng thai phụ và 
gia đình từ chối, xin tiếp tục theo dõi thai kỳ mà 
không làm gì thêm. Lúc 20 tuần khám thai ghi nhận 
bánh nhau dày 63mm. Tại thời điểm 25 tuần bắt 
đầu ghi nhận phù da đầu, tràn dịch ổ bụng lượng 
ít, bánh nhau dày. 
Thai phụ đến viện lúc 30 tuần vì tình trạng 
phù toàn thân, nhiều ở 2 chi dưới và vùng môi 
lớn, huyết áp 150/100mmHg, không đau 
đầu, mắt nhìn rõ. Xét nghiệm máu cho kết quả 
 TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 162 - 167, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
placentomegaly and anhydramnios. Cordocentesis result confirmed that fetal carries severe form of 
alpha thalassemia – Hb Bart’s. Labor induction was indicated immediately and the baby was died 
after birth. The maternal symtoms was disappeared completely at the day 5 of postpartum period.
Mirror syndrome is a manifestation of extremely severe fetal hydrops. When the specific cause of 
fetal hydrops cannot be identified and corrected, immediate delivery is necessary in order to avoid 
fetal death and maternal complications.
Keywords: mirror syndrome; ballantyne syndrome; fetal hydrops; pseudotoxemia; triple edema; 
maternal edema; placenta hydrops.
LÊ ĐỨC VĨNH, NGUYỄN VĂN HIỀN, VÕ TÁ SƠN
164
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
hemoglobin 84g/l, hematocrit giảm 28,9%, tiểu 
cầu bình thường 155 G/l. Chức năng gan thận 
bình thường. Acid uric tăng 573 mcmol/l. Các chỉ 
số protein máu và albumin máu giảm tương ứng 
là 44 và 22 g/l. Protein niệu 4,3 g/l trong mẫu 
nước tiểu 24 giờ.
Siêu âm thai ghi nhận tình trạng thai tích dịch 
với tràn dịch ổ phúc mạc lượng nhiều 20mm, phù 
da đầu, tim lớn chiếm gần như toàn bộ lồng ngực, 
gan lớn, bánh nhau dày 92 mm và không quan sát 
thấy nước ối. Vận tốc đỉnh động mạch não giữa 
(MCA PSV) là 85cm/s (tương ứng với 2,09 MoM), 
chưa có bất thường cơ quan khác được ghi nhận 
trên siêu âm. Thai phụ được chỉ định xét nghiệm 
xâm lấn lấy máu cuống rốn xét nghiệm công thức 
máu, nhóm máu, điện di hemoglobin, TORCH IgM, 
karyotype máu thai nhi. 
Kết quả điện di hemoglobin máu cuống rốn 
ghi nhận thai nhi mang hemoglobin Bart’s. Thai 
nhi được chẩn đoán phù thai tích dịch liên quan 
đến thiếu máu thai nhi do alpha thalassemia thể 
nặng và thai phụ được chẩn đoán có tình trạng 
hội chứng gương, và sau khi giải thích thai phụ và 
gia đình lựa chọn khởi phát chuyển dạ chấm dứt 
thai kỳ. Em bé tử vong sau sinh vài giờ, ghi nhận 
tràn dịch ổ bụng lượng nhiều, phù da toàn thân, 
cân nặng 1300gr, bánh nhau nặng 2200gr. Công 
thức máu thai nhi sau sinh ghi nhận hồng cầu 2,8 
T/l, hemoglobin 74 g/l, hematocrit 42,6 g/l, MCH 
Hình 1: Hình bên trái mô tả phù da đầu, hình bên phải mô tả tình trạng tràn dịch ổ bụng 
lượng nhiều.
Hình 2: Hình bên trái mô tả tim lớn chiếm gần hết khoang ngực, hình bên phải mô tả bánh 
nhau dày.
25pg, bạch cầu 274 G/l, tiểu cầu 157 G/l. Sản 
phụ sau sinh ghi nhận có tình trạng băng huyết, đờ 
tử cung có can thiệp nội khoa bằng Duratocin. Sau 
đó tình trạng ổn, các triệu chứng giảm hẳn sau 5 
ngày. Chẩn đoán cuối cùng thai con so, 30 tuần, 
thai tích dịch do đồng hợp tử alpha thalassemia, 
biến chứng hội chứng gương.
3. Bàn luận
Hội chứng gương là một tình trạng bệnh lý hiếm 
gặp, được mô tả với các triệu chứng thai tích dịch và 
phù mẹ đi kèm với tăng cân nhiều, phù bánh nhau 
[2]. Cơ chế bệnh sinh của hội chứng hiếm gặp này 
vẫn chưa được làm sáng tỏ, mặc dù một báo cáo 
gần đây cho rằng có sự thay đổi chức năng bánh 
nhau tương tự như đã được ghi nhận trong tiền sản 
giật [4]. Trên thực tế, cả hai thể bệnh này đều có 
chung đặc điểm lâm sàng là tăng huyết áp và phù 
mẹ [4]. Tuy nhiên, các tài liệu hiện có gợi ý rằng hội 
chứng gương có thể được phân biệt với tiền sản giật 
bởi sự khởi phát sớm trong thai kỳ, hoặc vắng mặt 
hiện tượng tăng phản xạ (hyper-reflexia), và có sự 
hiện diện của pha loãng máu (giảm hematocrit và 
giảm albumin máu), điều này là một sự tương phản 
rõ ràng với hiện tượng cô đặc máu được quan sát 
thấy ở trong các thai phụ tiền sản giật. 
Trước năm 1970, hội chứng gương được cho 
là do hậu quả của bất đồng nhóm máu rhesus [1]. 
Hình 3: Kết quả điện di máu cuống rốn cho thấy thai nhi có tỷ lệ Hb Barts chiếm trên 80%.
Hình 4: Ảnh bé sau sinh với tràn dịch ổ bụng lượng nhiều, phù toàn thân.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
165
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 162 - 167, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Tuy nhiên, với sự phát triển của siêu âm và chẩn 
đoán trước sinh, mọi thứ trở nên rõ ràng hơn rằng 
có nhiều nguyên nhân cũng có thể dẫn đến thai 
tích dịch nặng tương tự như được quan sát trong 
hội chứng gương [1, 5]. Trong một nghiên cứu 
được báo cáo năm 2006, tác giả đề xuất rằng phù 
bánh nhau, với thiếu oxy bánh nhau thứ phát, có 
thể là dấu hiệu mở đầu [3]. Thực tế rằng, vai trò 
của bánh nhau trong bệnh nguyên của hội chứng 
gương không nên bị bỏ qua. Nhiều yếu tố bánh 
nhau có liên quan đến hội chứng gương, như sFLt-
1 (fms-like tyrosine kinase 1) và PlGF (placental 
growth factor) và beta hCG [4]. Các báo cáo gần 
đây gợi ý rằng hiện tượng tăng lượng sFlt-1 và giảm 
PlGF liên quan nhiều trong hội chứng gương [4,6]. 
Tuy nhiên, hiện tượng này cũng được ghi nhận ở 
trên thai phụ tiền sản giật [4]. Để giải quyết vấn đề 
này, De Olivera và cộng sự, vào năm 2011, mô 
tả tỷ lệ sFlt-1:PlGF >85 trên bệnh nhân chẩn đoán 
tiền sản giật [7]. Ông đưa ra giả thuyết rằng thai 
phụ có hội chứng gương có nồng độ PlGF cao hơn 
bởi vì có sự tăng kích thước bánh nhau và do đó, 
chỉ số này sẽ thấp hơn.[7].
Các triệu chứng lâm sàng và cận 
lâm sàng
Các yếu tố bánh nhau 
Dữ liệu về PlGF và sFlt-1 chỉ được ghi nhận ở 11 
trường hợp trong tổng số 113 trường hợp đã báo 
cáo. Có 10/11 trường hợp có nồng độ sFlt-1 tăng 
so với ngưỡng bình thường (787-2540 pg/mL) [4]. 
Tỉ số sFlt-1:PlGF dưới 84 trong 4 trường hợp, điều 
này phù hợp với chẩn đoán hội chứng gương hơn 
là tiền sản giật [7].
Ngoài ra, bất đồng nhóm máu Rhesus, đa thai, 
nhiễm trùng bào thai, bất thường cấu trúc thai 
nhi, và u bánh nhau hoặc u của thai cũng có thể 
là nguyên nhân gây nên hội chứng gương [2]. Hội 
chứng truyền máu cho nhận [4] và bạch cầu cấp [8] 
cũng được báo cáo liên quan đến hội chứng gương. 
Bảng 1. Sự biểu hiện các yếu tố bánh nhau ở bệnh nhân chẩn đoán hội chứng gương [20]
Tuổi thai xuất hiện: 
Hội chứng gương thường biểu hiện từ 16 đến 34 
tuần tuổi thai [2]. Đỉnh điểm hội chứng gương xuất 
hiện nhiều nhất vào giai đoạn muộn của quý 2 thai 
kỳ, với tuổi thai trung bình lúc chẩn đoán là 27 tuần 
+- 30 ngày. Việc xuất hiện sớm hơn trong thai kỳ 
là một yếu tố quan trọng để phân biệt hội chứng 
gương với tiền sản giật [8]. Tuổi thai sớm nhất mà 
mẹ có triệu chứng được ghi nhận là 16 tuần [11]. 
Mặt khác, các triệu chứng của mẹ có thể xuất hiện 
muộn ở thai 39 tuần [12]. Do đó, tuổi thai mà mẹ 
xuất hiện triệu chứng lần đầu nên mở rộng là 16 
đến 39 tuần so với đến 36 tuần theo nghiên cứu 
trước đó [2]. Điều cần chú ý là nó có thể khởi phát 
gần thời điểm thai đủ tháng hơn, có nhiều sự chồng 
lấp triệu chứng hơn giữa hội chứng gương và tiền 
sản giật, và việc sử dụng mỗi tiêu chuẩn tuổi thai 
để phân biết giữa 2 nhóm ít có ý nghĩa hơn. Tuy 
nhiên, cần chú ý rằng hội chứng gương ít khi xuất 
hiện muộn như tiền sản giật. Hơn 50% các trường 
hợp hội chứng gương được chẩn đoán từ 26,5 tuần 
đến 27,5 tuần, với chỉ số ít các trường hợp được 
báo cáo hiện diện ở tuổi thai lớn hơn.
Sự pha loãng máu: một đặc điểm đặc trưng
Cả phù và tăng huyết áp cũng khá hay gặp 
ở thai phụ tiền sản giật, điểm nổi bất chồng lấp 
dẫn đến việc khó chẩn đoán. Tuy nhiên, sự hiện 
diện của hiện tượng pha loãng máu có thể được sử 
dụng để chẩn đoán phân biệt [4]. Vào năm 2015, 
Hirata và cộng sự, so sánh thai phụ có hội chứng 
gương với các thai phụ khác cũng có đặc điểm 
thai tích dịch nhưng không có hội chứng gương. 
Họ thấy rằng sự pha loãng, được định nghĩa với 
nồng độ hemoglobin và albumin thấp, rất hay đi 
kèm ở nhóm thai phụ có hội chứng gương so với 
nhóm không có [19]. Trong nghiên cứu này, sự 
Dấu hiệu mẹ n %
Tăng cân, phù 95 84
Tăng huyết áp 68 60,1
Thiếu máu hoặc giảm hematocrit 56 51,3
Khó thở hoặc phù phổi 34 30
Tăng acid uric/ creatinine 23 20,3
Tăng men gan 22 19,4
Thiểu niệu 17 15
Đau đầu 14 12,3
Nhìn mờ 10 8,8
Giảm tiểu cầu 10 8,8
Buồn nôn, nôn 7 5,2
Bảng 2. Các triệu chứng của mẹ [20]
LÊ ĐỨC VĨNH, NGUYỄN VĂN HIỀN, VÕ TÁ SƠN
166
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
pha loãng là đặc điểm nội trội trên thai phụ được 
nghiên cứu, về mặt tần suất, là dấu hiệu mẹ phổ 
biến thứ 3 tương ứng sau phù và tăng huyết áp.
Thai phụ bị ảnh hưởng thường có biểu hiện 
phù, tăng cân, tăng huyết áp, tăng men gan, thiếu 
máu, đau đầu và rối loạn thị giác. Trên cả những 
yếu tố này, siêu âm thai điển hình có sự hiện diện 
của thai tích dịch và/hoặc phù bánh nhau [2]. 
Chẩn đoán và chuỗi bệnh lý
Chẩn đoán hội chứng gương chủ yếu dựa vào 
sự xuất hiện đồng thời các dấu hiệu ở cả mẹ và 
thai. Tuy nhiên, sự xảy ra đồng thời này không phải 
luôn xuất hiện. Trên thực tế, các dấu hiệu thai nhi 
có thể xuất hiện sớm hơn các dấu hiệu mẹ khoảng 
1-2 tuần. Sự hiểu biết về các dạng trình bày có 
thể cải thiện độ chính xác chẩn đoán của các bác 
sĩ thực hành khi chẩn đoán phân biệt với các tình 
trạng tương tự như tiền sản giật. Nó cũng có thể 
giúp xác định các thai phụ nghi ngờ tiến triển thành 
hội chứng gương và do đó, tác động lên quá trình 
theo dõi để tăng khả năng phát hiện sớm. Tuy nhiên 
sự xuất hiện triệu chứng mẹ và thai đồng thời hay 
không cũng không tác động lên tỷ lệ tử vong thai 
nhi. Do vậy, sự xuất hiện sớm hơn các triệu chứng ở 
mẹ hoặc thai đơn lẻ, mà không có can thiệp gì, sẽ 
không giúp ích cho dự đoán kết cục. 
Điều trị
Một loạt các phương thức điều trị đã được sử 
dụng để làm giảm các triệu chứng mẹ và cải thiện 
tình trạng thai tích dịch [2,3]. Tuy nhiên, không có sự 
Dấu hiệu thai n %
Phù thai 107 94,7
Phù bánh nhau 71 62,8
Đa ối 38 33,6
Bất thường thai 20 17,6
Phì đại các cơ quan 19 16,8
Các khối u thai nhi 17 15
Thiểu ối 15 13,2
Bảng 3. Các triệu chứng của thai [20]
Bệnh đi kèm n %
Thiếu máu thai nhi 19 16,8
Bất đồng nhóm máu Rh 19 16,8
Đa thai 19 16,8
Hội chứng truyền máu song thai 15 13,2
Parvovirus B19 14 12,3
Cytomegalovirus 3 2,7
Coxsackie virus 1 0,8
Rối loạn chuyển hóa 1 0,8
Bảng 4. Các tình trạng đi kèm [20]
so sánh giữa tác động của các phương pháp này lên 
kết cục của mẹ và thai. Khi tình trạng thai tích dịch là 
không thể thai đổi được, khởi phát chuyển dạ hoặc 
chấm dứt thai kỳ có thể là sự lựa chọn duy nhất để 
đảm bảo sự an toàn của mẹ. Các triệu chứng của 
mẹ biến mất hoàn toàn thường sau khi sinh hoặc 
chấm dứt thai kỳ [3]. Tiên lượng của thai phụ mang 
hội chứng gương nhìn chung được đặc trưng bởi 
tăng tỷ lệ bệnh tật mẹ và tử vong thai. Tỷ lệ báo cáo 
hiện tại về thai tử trong tử cung là 56% [3].
Các can thiệp bao gồm truyền máu cho mẹ, 
truyền máu trong tử cung, can thiệp cắt đốt bằng 
laser, và chọc ối. Một số thủ thuật được thực hiện 
ngay cả khi thai nhi đang ở trong tử cung như shunt 
ổ phúc mạc – buồng ối, shunt khoang màng phổi – 
khoang ối, và nong van động mạch chủ. Khởi phát 
chuyển dạ cũng là một phương pháp điều trị có cải 
thiện khả năng sống sót.
Qua các trường hợp đã được báo cáo, tình 
trạng mẹ sẽ cải thiện một khi thai tích dịch được 
điều trị. Theo một nghiên cứu của Hirata và cộng 
sự 2015 cho thấy, ở một thai phụ có hội chứng 
gương, can thiệp xâm lấn cải thiện tình trạng thai 
và duy trì thai kỳ tiếp tục [19]. Sau khi tương quan 
hiệu chỉnh của các phương pháp điều trị khác nhau 
với kết cục thai nhi, các tác giả tìm thấy rằng các 
thủ thuật can thiệp điều trị thai tích dịch, thiếu máu 
thai nhi liên quan đáng kể với cải thiện sự sống sót 
của thai nhi. Ngoài ra khởi phát chuyển dạ, cũng 
liên quan với những lợi ích tương tự. 
Kết cục
Tiên lượng thai nhi trong hội chứng gương 
nhìn chung là xấu. Tỷ lệ tử vong chung được xác 
định là 67,26%. Thai chết trong tử cung chiếm 
57,89% tổng số tử vong và chiếm 38.9% trong 
tất cả các trường hợp hội chứng gương. Tử vong 
sơ sinh chiếm 34,21% tổng số tử vong [20]. Cần 
chú ý rằng hội chứng gương có vẻ không có tác 
động lên tử vong mẹ, vì không có trường hợp nào 
 Các can thiệp n %
Thủ thuật 32 28,3
Thuốc 27 23,9
Mổ lấy thai 22 19,5
Khởi phát chuyển dạ 14 12,4
Chăm sóc hỗ trợ 11 9,7
Feticide chọn lọc 5 4,4
Tổng 113 100,0
Bảng 5. Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn các can thiệp điều trị khác nhau [20].
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
167
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 162 - 167, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
được báo cáo. Sau khi sinh hoặc chấm dứt thai 
kỳ, thời gian trung bình cần thiết để mẹ phục hồi 
là 5,5 ngày. Trường hợp dài nhất để mẹ phục hội 
được ghi nhận là 90 ngày ở một thai phụ có tình 
trạng suy gan, suy thận tiến triển sau khi chẩn 
đoán hội chứng gương [13].
4. Kết luận
Hội chứng gương là một biến chứng hiếm gặp 
trong thai kỳ, có cơ chế bệnh sinh chưa được 
hiểu rõ và thường bị bỏ sót do triệu chứng lâm 
sàng trên mẹ gần giống như bệnh lý tiền sản 
giật. Nhưng các phương pháp điều trị hiện có 
tương đối phức tạp, hiệu quả chưa rõ ràng và kết 
cục thai nhi nhìn chung là xấu. Do đó, việc phát 
hiện sớm và cung cấp các thông tin cần thiết về 
hội chứng này có ý nghĩa lớn giúp sản phụ và 
gia đình có được các quyết định sớm để giảm 
thiểu các biến chứng mẹ.
Tài liệu tham khảo
1. Kaiser IH. Ballantyne and triple edema. Am J Obstet Gynecol. 
1971;110:115–20.
2. Braun T, Brauer M, Fuchs I, Czernik C, Dudenhausen JW, Henrich 
W, et al. Mirror syndrome: a systematic review of fetal associ-ated 
conditions, maternal presentation and perinatal outcome. Fetal Diagn 
Ther. 2010;27:191–203.
3. Espinoza J, Romero R, Nien JK, Kusanovic JP, Richani K, Gomez R, et 
al. A role of the anti-angiogenic factor sVEGFR-1 in the “mirror syndrome” 
(Ballantyne’s syndrome). J Matern Neonatal Med. 2006;19:607–13.
4. Goa S, Mimura K, Kakigano A, Tomimatsu T. Normalisation of 
angiogenic imbalance after intra-uterine transfusion for mirror syndrome 
caused by parvovirus B19. Fetal Diagn Ther. 2013;34:176–9.
5. Carbillon L, Oury JF, Guerin JM, Azancot A, Blot P. Clinical biologi-cal 
features of Ballantyne syndrome and the role of placental hydrops. Obstet 
Gynecol Surv. 1997;52:310–4.
6. Prefumo F, Pagani G, Fratelli N, Benigni A, Frusca T. Increased 
concentrations of antiangiogenic factors in mirror syndrome complicating 
twin-to-twin transfusion syndrome. Prenat Diagn. 2010;30:378–9.
7. De Oliveira L, Sass N, Boute T, Moron AF. SFlt-1 and PlGF levels in a 
patient with mirror syndrome related to cytomegalovirus infec-tion. Euro J 
Obstet Gynecol Repr Bio. 2011;158:366–7.
8. Lee JY, Hwang JY. Mirror syndrome associated with fetal leuke-mia. J 
Obstet Gynaecol Res. 2015;41:971–4.
9. Harry W, Clewell WH. Resolution of Ballantyne syndrome fol-lowing 
the resolution of fetal hydrops secondary to congenital parvovirus. 
Ultrasound Obst Gynecol. 2005;26:376–471.
10. Heyborne KD, Chism DM. Reversal of Ballantyne syndrome by 
selective second-trimester fetal termination. A case report. J Reprod Med. 
2000; 45:360–2.
11. Zhao Y, Liu G, Wang J, Yang J, Shen D, Zhang X. Mirror syndrome in 
a Chinese hospital: diverse causes and maternal fetal features. J Matern 
Fetal Neonatal Med. 2013;26:254–8.
12. Chang YL, Chao AS, Hsu JJ, Chang SD, Soong YK. Selective 
fetocide reversed mirror syndrome in a dichorionic triplet pregnancy with 
severe twin-twin transfusion syndrome: a case report. Fetal Diagn Ther. 
2007;22:428–30.
13. Graham N, Garrod A, Bullen P, Heazell AE. Placental expression 
of anti- angiogenic proteins in mirror syndrome: a case report. Placenta. 
2012;33:528–31.
14. Llurba E, Marsal G, Sanchez O, Dominguez C, Alijotas-Reig J, 
Carreras E, et al. Angiogenic and antiangiogenic factors before and after 
resolution of maternal mirror syndrome. Ultrasound Obstet Gynecol. 
2012;40:367–9.
15. Rana S, Venkatesha S, DePaepe M, Chien EK, Paglia M, Karuman-
chi SA. Cytomegalovirus-induced mirror syndrome associated with 
elevated levels of circulating antiangiogenic factors. Obstet Gynecol. 
2007;109(2 Pt 2):549–52.
16. Stepan H, Renaldo F. Elevated sFlt1 level and preec-lampsia with 
parvovirus-induced hydrops. N Engl J Med. 2006;354:1857–8.
17. Takahashi H, Matsubara S, Kuwata T, Ohkuchi A, Mukoda Y, 
Saito K, et al. Maternal manifestation of Ballantyne’s syndrome occur-
ring concomitantly with the development of fetal congenital mesoblastic 
nephroma. J Obstet Gynaecol Res. 2014;40:1114–7.
18. Vidaeff AC, Pschirrer ER, Mastrobattista JM, Gilstrap LC 3rd, Ramin 
SM. Mirror syndrome. A case report. J Reprod Med. 2002;47:770–4.
19. Hirata G, Aoki S, Sakamaki K, Takahashi T, Hirahara F, Ishikawa H. 
Clinical characteristics of mirror syndrome: a comparison of 10 cases of 
mirror syndrome with non-mirror syndrome fetal hydrops cases. J Matern 
Neonatal Med. 2016;29:2630–4.
20. Sabah Allarakia et al. Characteristics and management of 
mirrorsyndrome: a systematic review (1956–2016). De Gruyter, J. Perinat. 
Med. 2017

File đính kèm:

  • pdfhoi_chung_guong_bao_cao_truong_hop_va_tong_quan_tai_lieu.pdf