Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh

Đặt vấn đề: Vô sinh do nam giới chiếm khoảng 50% các cặp vợ

chồng vô sinh và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hội

chứng chuyển hoá (HCCH) là một vấn đề toàn cầu phổ biến, bao

gồm một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch như béo phì bụng,

đề kháng insulin, rối loạn lipid máu, dung nạp glucose bất thường

và tăng huyết áp. Các rối loạn này có thể liên quan đến khả năng

sinh sản của nam giới gồm cả chức năng tình dục và chất lượng tinh

trùng. Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng rối loạn chuyển

hoá ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh và tìm hiểu các yếu tố

liên quan.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231

đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị tại Trung

tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế

(HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019. Đối tượng được khai thác

đầy đủ thông tin về lối sống, đo huyết áp và các chỉ số nhân trắc học,

xét nghiệm sinh hóa máu liên quan HCCH. Chẩn đoán HCCH theo

tuyên bố đồng thuận của International Diabetes Federation (IDF),

National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart

Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International

Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the

Study of Obesity (IASO) năm 2009.

Kết quả: Tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới trong nhóm nghiên cứu là

25.1%, nhóm 3 thành tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 19,0%, nhóm 4

thành tố chiếm 3,9%, nhóm 5 thành tố chiếm 2,2%. Tỷ lệ đối tượng

có tăng triglycerid cao nhất với 60,6%, theo sau đó là tăng glucose

máu đói (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), tăng vòng eo (24,2%), tăng

huyết áp là 9,5%. Tuổi lớn (≥35 tuổi), BMI≥23 kg/m2, tỷ số vòng

bụng/vòng mông > 0,9 là những yếu tố nguy cơ độc lập cho HCCH.

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh

Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
115
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 115 - 123, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Lê Minh Tâm, Nguyễn Thị Kiều, Trần Thị Như Quỳnh, Cao Ngọc Thành 
Trường Đại học Y Dược Huế
HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở NAM GIỚI
CÁC CẶP VỢ CHỒNG VÔ SINH
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Minh Tâm, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: Hội chứng chuyển 
hoá, khả năng sinh sản, nam 
giới, vô sinh.
Keywords: Metabolic 
syndrome, male infertility, 
reproductive function.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Vô sinh do nam giới chiếm khoảng 50% các cặp vợ 
chồng vô sinh và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hội 
chứng chuyển hoá (HCCH) là một vấn đề toàn cầu phổ biến, bao 
gồm một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch như béo phì bụng, 
đề kháng insulin, rối loạn lipid máu, dung nạp glucose bất thường 
và tăng huyết áp. Các rối loạn này có thể liên quan đến khả năng 
sinh sản của nam giới gồm cả chức năng tình dục và chất lượng tinh 
trùng. Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng rối loạn chuyển 
hoá ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh và tìm hiểu các yếu tố 
liên quan.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231 
đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị tại Trung 
tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế 
(HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019. Đối tượng được khai thác 
đầy đủ thông tin về lối sống, đo huyết áp và các chỉ số nhân trắc học, 
xét nghiệm sinh hóa máu liên quan HCCH. Chẩn đoán HCCH theo 
tuyên bố đồng thuận của International Diabetes Federation (IDF), 
National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart 
Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International 
Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the 
Study of Obesity (IASO) năm 2009.
Kết quả: Tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới trong nhóm nghiên cứu là 
25.1%, nhóm 3 thành tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 19,0%, nhóm 4 
thành tố chiếm 3,9%, nhóm 5 thành tố chiếm 2,2%. Tỷ lệ đối tượng 
có tăng triglycerid cao nhất với 60,6%, theo sau đó là tăng glucose 
máu đói (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), tăng vòng eo (24,2%), tăng 
huyết áp là 9,5%. Tuổi lớn (≥35 tuổi), BMI≥23 kg/m2, tỷ số vòng 
bụng/vòng mông > 0,9 là những yếu tố nguy cơ độc lập cho HCCH. 
Kết luận: HCCH ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ 
đáng kể. Chỉ số vòng bụng, vòng bụng/chiều cao, HDL-C có giá trị 
1. Đặt vấn đề
Theo Tổ chức Y tế thế giới vô sinh là tình trạng 
một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, mong muốn 
có con nhưng không thể có thai sau 12 tháng có 
quan hệ tình dục mà không dùng biện pháp tránh 
thai nào. Theo thống kê 15% cặp vợ chồng có vấn 
đề về sinh sản, trong đó vô sinh do yếu tố nam hiện 
diện trong 20-50% cặp vợ chồng [33]. Báo cáo của 
Nguyễn Viết Tiến tại Hội thảo quốc tế “Cập nhật về 
hỗ trợ sinh sản” (2013) tại Hà Nội cho thấy kết quả 
điều tra ở Việt Nam năm 2010 thì tỷ lệ vô sinh là 
7,7%, trong đó nguyên nhân do nam giới chiếm 25 
- 40% [2]. Vô sinh được xem là một trọng tâm trong 
LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ KIỀU, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, CAO NGỌC THÀNH
116
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
dự báo khá tốt khả năng mắc HCCH. Cần có chiến lược tiếp cận sớm để hạn chế ảnh hưởng của 
HCCH lên khả năng sinh sản của nam giới.
Từ khoá: Hội chứng chuyển hoá, khả năng sinh sản, nam giới, vô sinh. 
Abstract 
Objectives: Male infertility accounts for about 50% of infertile couples. Metabolic syndrome 
(MS) is very common in the world, results in some cardiovascular risks such as central obesity, 
insulin resistance, dyslipidemia, abnormal glucose tolerance and hypertension. These factors 
may be related to male fertility in both sexual function and sperm quality. This research aimed to 
investigate metabolic syndrome in the reproductive function in fertile. 
Methods: The study was conducted on 231 male partner from infertile couples who came to the 
Hue Center for Reproductive Endocrinology and Infertility, Hue University Hospital from May 18th 
in 2017 to January 12th 2019. Diagnosis of MS under the consensus statement of International 
Diabetes Federation (IDF), National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart 
Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International Atherosclerosis Society (IAS), 
International Association for the Study of Obesity (IASO) in 2009. 
Results: The prevalence of MS in male infertility in this group is 25.1%, the group of 3 
components accounts for the highest rate with 19.0%, the group of 4 components accounts 
for 3.9%, the group of 5 components accounts for 2, 2%. In which, hypertriglyceridemia is the 
highest (60.6%), followed by hyperglycemia (35.1%), decreased HDL-C (28.1%), increased waist 
(24.2%) and hypertension is 9.5%. The age over 35 years old, BMI ≥ 23 kg/m2, waist/height ratio 
≥ 0.5, waist/hip ratio> 0.9 are independent risk factors for MS.
Conclusion: MS in men from infertile couples accounts a considerable incidence. WC, WC/H, 
HDL-C were good predictors for MS. It is important to have a strategy for MS screening for MS 
in men to improve their fertility capacity.
Key words: Metabolic syndrome, male infertility, reproductive function.
chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều trị vô 
sinh là một nhu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo hạnh 
phúc gia đình và phát triển hài hòa xã hội. 
Chẩn đoán nguyên nhân vô sinh và vô sinh nam 
giới là hết sức cần thiết để thực hiện điều trị. Vô 
sinh do nam giới có thể do khiếm khuyết sinh tinh 
nguyên phát tại tinh hoàn, do rối loạn vận chuyển 
tinh trùng, do các bệnh lí nội tiết - rối loạn hệ thống 
thường liên quan đến suy sinh dục thứ phát và đôi 
khi không tìm được nguyên nhân. Gần đây, các rối 
loạn chuyển hóa được quan tâm nhiều đến như là 
một yếu tố đóng góp đóng góp tiềm năng cũng như 
là nguyên nhân gây ra tình trạng vô sinh ở nam giới 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
117
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 115 - 123, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
thông qua việc làm giảm số lượng cũng như chất 
lượng tinh dịch đồ, làm giảm ham muốn, rối loạn 
cương dương, xuất tinh ngược dòng [18].
Hội chứng chuyển hoá là một vấn đề toàn cầu 
phổ biến bao gồm tình trạng béo phì trung tâm, rối 
loạn lipid máu, đề kháng insulin và tăng huyết áp 
hệ thống. Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế ước tính 
rằng một phần tư dân số thế giới và khoảng 40% 
người trưởng thành ở Mỹ mắc hội chứng chuyển 
hóa [22]. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của 
Lê Thị Hợp và cộng sự năm 2008 trên 8 vùng sinh 
thái trong toàn quốc cho thấy tỉ lệ mắc hội chứng 
chuyển hóa là 13,1% trong đó có 10,6 % nam giới 
mắc hội chứng này [1]. Những người bị hội chứng 
chuyển hóa có nguy cơ phát triển bệnh đái tháo 
đường týp 2 cao gấp 5 lần, nguy cơ tim mạch cao 
gấp 3 lần và nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với 
những người không mắc hội chứng này [22].
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực 
hiện và cho thấy rằng nam giới của cặp vợ chồng 
vô sinh có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa, đái 
tháo đường týp 2 và bệnh lí tim mạch cao hơn so 
với nhóm nam giới có vợ mang thai bình thường. 
Đồng thời ở những người nam của cặp vợ chồng 
vô sinh mắc hội chứng chuyển hóa thì hay gặp 
bất thường tinh dịch đồ và chức năng tình dục hơn 
những người không mắc [3], [12], [14], [19]. Sự 
gia tăng tỷ lệ vô sinh dường như song song với sự 
gia tăng tỷ lệ béo phì, rối loạn lipid máu và hội 
chứng chuyển hóa [11].
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào 
tìm hiểu về tình trạng rối loạn chuyển hóa và những 
yếu tố liên quan ở những nam giới vô sinh. Vì vậy để 
góp phần bổ sung thêm cho những nghiên cứu sau 
này trong việc tìm kiếm nguyên nhân và can thiệp 
sớm trong hỗ trợ sinh sản và chăm sóc sức khỏe cho 
đối tượng nam giới vô sinh tôi đã tiến hành nghiên 
cứu đề tài này nhằm xác định tỷ lệ mắc HCCH và tỷ 
lệ rối loạn các thành tốcủa HCCH cũng như tìm hiểu 
một số yếu tố liên quan đến HCCH trên những đối 
tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231 đối tượng 
nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị 
tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh 
viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ 18/5/2017 
đến 12/1/2019. Đối tượng có đầy đủ thông tin 
về lối sống, đo các chỉ số nhân trắc học và sinh 
hóa máu gồm: đường máu tĩnh mạch đói và biland 
lipid máu. Có đủ điều kiện sức khỏe và đồng ý 
tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH theo đồng thuận 
của IDF, AHA/NHBLI, WHF, IAS và IASO năm 2009
HCCH được chẩn đoán khi có ít nhất 3 trong 5 
yếu tố sau:
- Vòng bụng tăng : tùy theo chủng tộc và địa dư 
quy định, ở các nước nam Á(Việt Nam) vòng bụng 
≥90 cm ở nam và ≥80 cm ở nữ.
- Tăng huyết áp (huyết áp tối đa ≥130 mmHg 
và/hoặc huyết áp tối thiểu ≥85mmHg hoặc đã 
điều trị tăng huyết áp).
- Tăng glucose máu lúc đói (FPG ≥5,6mmol/L) 
hoặc đang dùng thuốc điều trị ĐTĐ.
- HDL-c<1,03mmol/L ở nam và HDL-c <1,29 
mmol/L ở nữ hoặc đã điều trị).
- Triglyceride ≥1,7 mmol/L hoặc đã điều trị).
Các bước tiến hành
Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập số 
liệu về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, 
đặc điểm vô sinh, tiền sử hút thuốc lá, sử dụng rượu 
bia, bệnh mãn tính, chiều cao, cân nặng, vòng 
bụng và vòng mông, huyết áp tối đa và huyết áp 
tối thiểu. Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng 
cân nặng chia cho bình phương chiều cao (kg/m2), 
tính chỉ số vòng bụng/vòng mông, vòng bụng/
chiều cao.
Bệnh nhân được yêu cầu nhịn đói qua đêm 
(ít nhất 8 giờ), sau đó tiến hành xét nghiệm máu 
với các chỉ số: FPG, HDL-C, LDL-C, triglyceride và 
cholesterol toàn phần. Glucose huyết được xác 
định bằng phương pháp oxy hóa khử glucose 
(GOD-PAP), các chỉ số lipid máu: HDL-C, LDL-C, 
triglyceride và cholesterol tổng số được đo bằng 
phương pháp enzyme so màu tại Phòng xét nghiệm 
sinh hóa, bệnh viện Đại học Y Dược Huế.
Phương pháp xử lí số liệu
Xử lý theo phương pháp thống kê y học trên máy 
tình bằng chương trình SPSS ấn bản 20.0 và Excel 
2010. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần 
xuất, tỷ lệ, trung bình, trung vị, vẽ biểu đồ). Các 
biến định lượng được kiểm tra phân phối chuẩn 
LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ KIỀU, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, CAO NGỌC THÀNH
118
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
trước khi phân tích và được so sánh bằng kiểm định 
t-test( cho phân phối chuẩn) hoặc kiểm định Mann-
Withney ( cho phân phối không chuẩn). Kiểm tra 
mối liên quan giữa các biến định tính bằng test 
Chi-Square, sau đó sử dụng mô hình hồi quy nhị 
phân đa biến cho các yếu tố liên quan đến HCCH. 
Kết quả được biểu thị qua giá trị của tỷ suất chênh 
(Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% của OR 
kèm giá trị so sánh biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê khi p<0,05, theo 2 phía.
Sử dụng đường cong ROC để tìm điểm cắt của 
các chỉ số sinh hóa, VB, BMI, tỷ VB/VM, tỷ VB/CC 
trong dự đoán sự hiện diện của HCCH.
3. Kết quả
Đặc điểm Tổng(n=231)
Có HCCH
(n=58)
Không có 
HCCH (n=173) p
Tuổi (năm) 35,27±5,74 36,97±6,38 34,71±5,42 <0,01
Thời gian vô sinh (năm) 3,99±2,84 4,47±3,30 3,83±2,67 0,18
BMI (kg/m2) 23,62±3,20 25.37±3.15 23,03±2,99 <0,01
Vòng bụng (cm) 83,26±8,12 89,95±7,42 81,01±7,07 <0,01
Tỷ số VB/VM 0,87±0,05 0,90±0,04 0,87±0,05 <0,01
Tỷ số VB/CC 0,50±0,05 0,54±0,04 0,48±0,04 <0,01
HATT (mmHg) 114,78±10,80 119,30±14,62 113,30±8,80 <0,01
HATTr (mmHg) 72,55±7,16 75,30±8,80 71,60±6,30 <0,01
Triglycerid (mmol/l) 2.38±1.48 3,73±1,61 1,93±1,12 <0,01
HDL-C (mmol/l) 1,24±0,32 1,03±0,24 1,31±0,32 <0,01
Glucose (mmol/l) 5,57±1,08 6,35±1,51 5,30±0,72 <0,01
LDL-C (mmol/l) 3,39±0,84 3,73±0,94 3,28±0,28 <0,01
Cholesterol TP (mmol/l) 5,01±0,94 5,55±1,06 4,83±0,83 <0,01
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Thành tố
Chung 
(n=231)
HCCH
pCó (n=58) Không (n=173)
n(%) n(%) n(%)
VB≥90 (cm) 56(24,2) 36(62,1) 20(11,6) <0,01
HA≥130/85(mmHg) 22(9,5) 15(25,9) 7(4,0) <0,01
Triglycerid≥1,7(mmol/l) 140(60,6) 57(98,3) 83(48,0) <0,01
HDL-C<1,03(mmol/l) 65(28,1) 37(63,8) 28(16,2) <0,01
Glucose máu≥5,6 (mmo/l) 81(35,1) 46(79,3) 35(20,2) <0,01
Bảng 2. Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn của từng thành tố
Biểu đồ 1. Tỷ lệ mắc HCCH và sự phân bố số thành tố của HCCH
 6 
Bảng	2.	Tỷ	lệ	mắc	HCCH	và	rối	loạn	của	từng	thành	tố	
Thành	tố	 Chung	(n=231)	 HCCH	 p	
Có	(n=58)	 Không	(n=173)	
n(%)	 n(%)	 n(%)	
VB≥90	(cm)	 56(24,2)	 36(62,1)	 20(11,6)	 <0,01	
HA≥130/85(mmHg)	 22(9,5 	 15 25,9)	 7(4,0)	 <0,01	
Triglycerid≥1,7(mmol/l)	 140(60,6)	 57(98,3)	 83(48,0)	 <0,01	
HDL-C<1,03(mmol/l)	 65(28,1)	 37(63,8)	 28(16,2)	 <0,01	
Glucose	máu≥5,6	(mmo/l)	 81(35,1)	 46(79,3)	 35(20,2)	 <0,01	
Biểu	đồ	1.	Tỷ	lệ	mắc	HCCH	và	sự	phân	bố	số	thành	tố	của	HCCH	
Tuổi	trung	bình	là	35.27±5.74	,	BMI	trung	bình	là	23.62±3.20	kg/m2,	Những	đối	tượng	
mắc	HCCH	 lớn	 tuổi	 hơn	 và	 béo	 hơn	 so	 với	 nhóm	 không	mắc	HCCH.	 Tương	 tự	 chỉ	 số	
huyết	áp	tâm	thu,	tâm	trương,	Triglycerid,	cholesterol	TP,	HDL-C,	LDL-C	và	glucose	máu	
đều	cao	hơn	ở	nhóm	có	HCCH	so	với	nhóm	không	có	HCCH	(Bảng	1).	
Tỷ	 lệ	phổ	biến	các	thành	tố	của	HCCH	theo	thứ	tự	 là	triglyceride	(60,6%),	tăng	đường	
máu	(35,1%),	giảm	HDL-C	(28,1%),	vòng	bụng	lớn	(24,2%)	và	thấp	nhất	là	tăng	huyết	
75.4% 75,9%
15,5%
8,6%
25.1%
Không	có	HCCH
3	thành	tố
4	thành	tố
5	thành	tố
Tuổi trung bình là 35,27±5,74 , BMI trung bình 
là 23,62±3,20 kg/m2, Những đối tượng mắc HCCH 
lớn tuổi hơn và béo hơn so với nhóm không mắc 
HCCH. Tương tự chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương, 
Triglycerid, cholesterol TP, HDL-C, LDL-C và glucose 
máu đều cao hơn ở nhóm có HCCH so với nhóm 
không có HCCH (Bảng 1).
Tỷ lệ phổ biến các thành tố của HCCH theo thứ 
tự là triglyceride (60,6%), tăng đường máu (35,1%), 
giảm HDL-C (28,1%), vòng bụng lớn (24,2%) và thấp 
nhất là tăng huyết áp (Bảng 2). Tỷ lệ mắc HCCH là 
25,1%, trong đó nhóm 3 thành tố chiến tỷ lệ cao nhất 
75,9%, nhóm 4 thành tố đạt 15,5%, nhóm 5 thành tố 
chiếm 8,6% (Biểu đồ 1).
 Ở những người mắc HCCH thì rối loạn chuyển hóa 
phổ biến nhất là tăng Triglycerid máu (98,3%), theo sau 
đó là tăng glucose máu (79,3%), giảm HDL-C (63,8%), 
béo bụng (62,1%), thấp nhất là tăng huyết áp (25,9%). 
Các tỷ lệ này đều cao hơn so với nhóm nam giới không 
có HCCH có ý nghĩa thống kê (p<0,01) (Bảng 1).
Các yếu tố liên quan
HCCH(n=58) Không có HCCH (n=137)
p
n(%) n(%)
Tuổi
≥35 36(31,9) 77(68,1)
<0,05<35 22(18,6) 96(81,4)
BMI (kg/m2)
≥23 43(36,1) 76(63,9)
<0,01
<23 15(13,4) 79(86,6)
VB/CC
≥0,5 49(37,4) 82(62,6)
<0,01 ... ết áp, tăng 
glucose máu [17]. 
Nghiên cứu trên những đối tượng nam giới 
vô sinh cũng cho kết luận tương tự [7], [20]. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
121
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 115 - 123, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Nam giới tuổi lớn hơn có sự suy giảm khả năng 
sinh sản so với nam giới trẻ tuổi hơn. Theo Ford 
và cộng sự việc thụ thai trong thời gian 12 tháng 
ở nam giới trên 40 tuổi ít hơn 30% so với nam 
giới dưới 30 tuổi. Hầu hết sự giảm hoạt động 
tình dục, rối loạn chức năng cương dương, kèm 
suy giảm thể tích tinh dịch, mật độ giảm vận 
động của tinh trùng bất thường hình thái cũng 
có sự gia tăng theo tuổi [15]. Do vậy có thể tuổi 
tác thông qua trung gian là các rối loạn chuyển 
hóa ảnh hưởng lên chức năng sinh sản ở nam 
giới. Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế là 
chưa đánh giá được tác động của các rối loạn 
chuyển hóa trên chức năng tình dục và sinh sản 
ở nam giới.
Béo phì được đánh giá qua các chỉ số BMI, 
tỷ số VM/VM, VB/CC, từ lâu đã được biết đến 
là yếu tố nguy cơ cho bệnh lí toàn thân đặc biệt 
bệnh lí tim mạch, đái tháo đường. Gần đây là 
đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân ra 
ra vô sinh nam giới [18]. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có BMI ≥23 kg/
m2 là 36,1% cao hơn so với nhóm có BMI<23 là 
13,4%. Tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có tỷ số VB/VM 
>0,9 cũng cao hơn nhóm có VB/VM ≤0,9 (41,1% 
so với 14,9%), nhóm có tỷ số VB/CC lớn cũng 
làm tăng tỷ lệ mắc HCCH (37,7% so với 9,0%), 
các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với 
p<0,05. Nhóm mắc HCCH có giá trị trung bình 
các chỉ số trên cao hơn nhóm không có HCCH với 
p<0,05. Trong mô hình hồi quy nhị phân đa biến 
cho thấy nhóm có chỉ số BMI, tỷ số VM/VM, VB/
CC cao là các yếu tố nguy cơ độc lập với HCCH. 
Trong đó Tỷ số VB/CC ≥ 0,5 có nguy cơ mắc 
HCCH cao nhất với OR=2,9, KTC 95% 1,16-7,28.
Diện tích dưới đường cong ROC của chỉ số 
vòng bụng (81,2%), tỷ số VB/CC (79,0%) lớn 
hơn so với chỉ số BMI (71,6%) và tỷ số VB/VM 
(70,5%), như vậy theo nghiên cứu của chúng tôi 
giá trị dự báo khả năng mắc HCCH của chỉ số 
vòng bụng cao nhất (với điểm cắt 89,5 cm), 
tiếp đến là tỷ số VB/CC (điểm cắt 0,54), BMI 
(điểm cắt 23,1 kg/m2), giá trị dự báo khả năng 
mắc HCCH của tỷ số VB/VM thấp nhất (điểm cắt 
0,9). Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ 
số VB/CC có giá trị hơn các chỉ số khác đánh 
giá béo phì khác( BMI, VB/VM) trong dự báo 
mắc HCCH [9]. Tuy nhiên do cách đo chỉ số vòng 
bụng khó đo chính xác hơn nên chưa được sử 
dụng rộng rãi trên lâm sàng so với BMI để đánh 
giá béo phì. Các giá trị điểm cắt về BMI và vòng 
bụng cũng như tỷ số VB/VM của chúng tôi tương 
tự như các giá trị quốc tế được khuyến cáo cho 
người Châu Á, còn điểm cắt của tỷ số VB/CC 
chưa được khuyến cáo rõ ràng. Các điểm cắt này 
khác nhau ở một số nghiên cứu khác [26]. Trong 
khi đó kháng insulin là trung tâm của HCCH, 
nên tôi cũng đề nghị tiếp tục sử dụng các chỉ 
số nhân trắc đặc biệt là chỉ số vòng bụng, tỷ số 
VB/CC để dự báo khả năng mắc HCCH, cũng 
như khuyến cáo những người có tình trạng béo 
phì cần thay đổi lối sống tích cực hơn và phòng 
ngừa các bệnh lí tiểu, đường tim mạch và chuyển 
hóa. Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế bởi 
vì đây là nghiên cứu cắt ngang do đó không thể 
đánh giá được nhân quả giữa các chỉ số béo phì 
và hội chứng chuyển hóa, và được thực hiện trên 
nhóm đối tượng nhỏ là những người nam của 
cặp vợ chồng vô sinh.
Việc hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ mắc 
hội chứng chuyển hóa. Người hút thuốc chủ động 
thường có tình trạng kháng insulin và tăng insulin 
máu nghiêm trọng hơn, có thể làm tăng nguy cơ 
mắc ĐTĐ týp II [31]. Tác động của việc hút thuốc 
lá đối với chuyển hóa glucose và lipid có thể một 
phần là do kích thích hệ thần kinh giao cảm [32] 
và tăng nồng độ hormone đối kháng insulin, như 
cortisol và hormone tăng trưởng [30] làm tình 
trạng kháng insulin trầm trọng hơn có thể gây 
ra tích mỡ nội tạng và tăng chu vi vòng eo. Ở 
nam giới mỡ nội tạng tăng khi giảm nồng độ 
testosterone huyết tương, hút thuốc lá có thể làm 
giảm nồng độ hoocmon này [5], [6]. Ngừng hút 
thuốc làm giảm triglyceride và cải thiện độ nhạy 
insulin và LDL-C [16].
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, có 40,6% 
đối tượng hút thuốc lá, tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm 
nam giới hút thuốc lá cao hơn so với nhóm nam 
giới không hút thuốc lá (26,6% so với 24,1%), tuy 
nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với 
p>0,05. Theo Kan Sun và cộng sự (2012) dựa 
trên dữ liệu từ 13 nghiên cứu thuần tập tương lai 
(56.691 người tham gia; 8.688 trường hợp mắc 
hội chứng chuyển hóa), những người hút thuốc 
LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ KIỀU, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, CAO NGỌC THÀNH
122
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
chủ động có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa 
tăng 26% so với những người không hút thuốc, có 
mối liên quan đáng kể giữa hút thuốc chủ động 
và nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (RR=1,26, 
KTC 95%: 1,10 -1,44) [27]. Hút thuốc lá ở nam 
làm tăng nguy cơ xuất hiện HCCH (OR=1,5; 95% 
Cl:1,1-2,2) , đồng thời là yếu tố nguy cơ độc lập 
cho sự phát triển của hội chứng chuyển hóa , liên 
quan đến LDL-C, tăng chu vi bụng và tăng mức 
độ TG, theo Bermudez V (2018) [6]. 
Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế vì dữ 
liệu về tình trạng hút thuốc dựa trên tự khai, nguy 
cơ mắc hội chứng chuyển hóa có thể bị đánh giá 
thấp nếu người tham gia không báo cáo hợp lý 
thói quen hút thuốc lá. Cần đánh giá thêm độ 
tin cậy của thói quen hút thuốc do bệnh nhân tự 
báo cáo bằng đánh giá tương quan với giá trị 
carbon monoxide thở ra [13]. Định nghĩa có thói 
quen hút thuốc lá của chúng tôi khác so với một 
số nghiên cứu khác.
Tác động của rượu, bia đối với HCCH chưa 
rõ ràng. Tiêu thụ rượu mức độ từ nhẹ đến trung 
bình, đặc biệt tiêu thụ rượu trong bữa ăn tác 
động có lợi đến HCCH cũng như giảm nguy cơ 
tim mạch và tử vong, trong khi đó uống rượu 
mức độ nặng hay tiêu thụ rượu ngoài bữa ăn có 
liên quan đến nguy cơ gia tăng các bệnh lí trên. 
Tác dụng bảo vệ tim mạch của việc uống rượu 
có thể hoạt động thông qua một loạt các cơ chế, 
bao gồm tác dụng chống viêm, ức chế kết tập 
tiểu cầu và thay đổi chuyển hóa lipid giảm thấp 
các chất chỉ điểm viêm như fibrinogen, protein 
phản ứng C (CRP), bạch cầu và tốc độ lắng máu 
(VSS). Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tiêu 
thụ rượu vừa phải làm giảm nồng độ IL-6, IL-8, 
TNF-α , làm tăng giải phóng oxit nitric từ nội mô, 
tăng HDL-C [28]. 
Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc 
HCCH ở những người có thói quen uống rượu 
bia là 25,8% không khác biệt nhiều so với nhóm 
không uống rượu ( 25,0%), p>0,05. Một phân 
tích tổng hợp gần đây đã cho thấy rằng so với 
những người không uống rượu, người tiêu thụ đồ 
uống có cồn nhẹ (≤5g/ngày) có liên quan đến 
nguy cơ mắc hội chứng thấp hơn (RR = 0,86, 
KTC 95% 0,75 -0,99), trong khi tiêu thụ quá mức 
(>35g/ngày) có nguy cơ cao hơn (RR = 1,84, KTC 
95% 1,34-2,52) [28]. Theo Bruna Angelo Vieira 
(2016) tiêu thụ nhẹ đồ uống có cồn trong bữa ăn 
có liên quan nghịch với hội chứng chuyển hóa 
(≤4 ly/tuần: OR = 0,85, KTC95% 0,74-0,97; 4 
đến 7 ly/tuần: OR = 0,75, KTC 95% 0,61-0,92), 
so với kiêng hoặc uống thường xuyên. Mặt khác, 
tiêu thụ nhiều rượu hơn và tiêu thụ ngoài bữa 
ăn có liên quan đáng kể đến hội chứng chuyển 
hóa (7 đến 14 ly/tuần: OR = 1,32, KTC 95% 
1,11-1,57; ≥14 ly/tuần: OR = 1,60, 95 % CI 
1,29-1,98), p<0,05 [29]. Một nghiên cứu khác 
đã điều tra ảnh hưởng của thời điểm tiêu thụ đối 
với các bữa ăn đối với các thành phần hội chứng 
chuyển hóa báo cáo: tỷ lệ tăng huyết áp ở người 
Ý không uống rượu (42,8%) và người Mỹ (40,4%) 
cao hơn so với những người uống rượu trong bữa 
ăn (36,6% và 39,8%), nhưng không cao hơn so 
với những người uống rượu bên ngoài bữa ăn 
(42,8% và 41,4%) [8].
Hạn chế của nghiên cứu chúng tôi là không 
phân loại được các đồ uống có cồn vì mỗi loại 
được cho là có ảnh hưởng khác nhau lên chuyển 
hóa cũng như không đánh giá thời điểm uống 
rượu chủ yếu có liên quan đến bữa ăn hay không 
cũng không phân mức độ sử dụng chất có cồn 
nên kết quả có thể khác nhau đồng thời đánh 
giá tác động của nó lên chuyển hóa còn chưa 
chi tiết rõ ràng.
Sử dụng rượu bia và thuốc lá ngoài việc tác 
động tiêu cực lên chuyển hóa toàn thân cũng đã 
được chứng minh làm suy giảm chất lượng tinh 
dịch đồ [4], [10]. Do đó tư vấn bỏ thuốc lá, hạn 
chế lượng rượu tiêu thụ cần được thực hiện cho 
toàn dân đặc biệt là nhóm nam giới vô sinh.
5. Kết luận
Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở nam giới 
các cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ đáng kể. 
Số đo vòng bụng ≥90 cm và tỷ số vòng bụng/
chiều cao ≥ 0,54 có giá trị dự báo khá tốt nguy 
cơ mắc hội chứng chuyển hóa, giá trị dự báo 
cao hơn so với chỉ số BMI và tỷ số vòng bụng/
vòng mông ở nhóm nam giới đến khám vô sinh. 
Cần có chiến lược tiếp cận sớm hơn để hạn chế 
ảnh hưởng của HCCH lên khả năng sinh sản của 
nam giới.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
123
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 115 - 123, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Tài liệu tham khảo
1. Lê Thị Hợp, Lê Bạch Mai,Nguyễn Công Khẩn (2008), "Tình trạng 
béo phì và hội chứng chuyển hóa ở Việt Nam", Tạp chí Dinh dưỡng 
và thực phẩm 4
2. Nguyễn Viết Tiến (2013), ”Cập nhật về hỗ trợ sinh sản”, Báo cáo tại 
hội thảo quốc tế, Hà Nội, 
3. Sanjay Kumar, et al. (2015), "Association of Male Infertility to 
Metabolic Syndrome and Other Related Disorders", Journal of Integrative 
Nephrology and Andrology. 2 (4).107-116.
4. Anifandis G., et al. (2014), "The impact of cigarette smoking 
and alcohol consumption on sperm parameters and sperm DNA 
fragmentation (SDF) measured by Halosperm((R))", Arch Gynecol 
Obstet. 290 (4).pp. 777 - 82.
5. Bassey I. E., Gali R. M.,Udoh A. E. (2018), "Fertility hormones and 
vitamin E in active and passive adult male smokers in Calabar, Nigeria", 
PLoS One. 13 (11).pp. e0206504.
6. Bermudez V., et al. (2018), "Cigarette smoking and metabolic 
syndrome components: a cross-sectional study from Maracaibo City, 
Venezuela", F1000Res. 7 pp. 565.
7. Bungum A. B., et al. (2018), "Risk of metabolic disorders in childless 
men: a population-based cohort study", BMJ Open. 8 (8).pp. e020293.
8. Della Valle E., et al. (2009), "Drinking habits and health in 
Northern Italian and American men", Nutr Metab Cardiovasc Dis. 19 
(2).pp. 115 - 22.
9. Dong J., et al. (2019), "Optimal Cut-off Point of Waist to Height Ratio in 
Beijing and Its Association with Clusters of Metabolic Risk Factors", Curr 
Med Sci. 39 (2).pp. 330 - 336.
10. Ehala-Aleksejev K.,Punab M. (2018), "The effect of metabolic 
syndrome on male reproductive health: A cross-sectional study in a group 
of fertile men and male partners of infertile couples", PLoS One. 13 (3).
pp. e0194395.
11. Eisenberg M., et al. (2016), Diabetes, medical comorbidities and 
couple fecundity, 
12. Elsamanoudy A.Z., et al. (2016), "Spermatozoal cell death-inducing 
DNA fragmentation factor-α-like effector A (CIDEA) gene expression and 
DNA fragmentation in infertile men with metabolic syndrome and normal 
seminogram", Diabetology & metabolic syndrome. 8 pp. 76 -76.
13. Frei M., et al. (2012), "Assessment of smoking behaviour in the dental 
setting. A study comparing self-reported questionnaire data and exhaled 
carbon monoxide levels", Clin Oral Investig. 16 (3).pp. 755 - 60.
14. Guo D., et al. (2017), "Hypertension and Male Fertility", The world 
journal of men's health. 35 (2).pp. 59 - 64.
15. Harris Isiah D., et al. (2011), "Fertility and the aging male", Reviews 
in urology. 13 (4).pp. e184 - e190.
16. He Y., et al. (2009), "Combined effects of tobacco smoke exposure 
and metabolic syndrome on cardiovascular risk in older residents of 
China", J Am Coll Cardiol. 53 (4).pp. 363 - 71.
17. Hildrum Bjørn, et al. (2007), "Age-specific prevalence of the metabolic 
syndrome defined by the International Diabetes Federation and the 
National Cholesterol Education Program: the Norwegian HUNT 2 study", 
BMC public health. 7 pp. 220 - 220.
18. Kumar S., et al. (2015), "Association of Male Infertility to Metabolic 
Syndrome and Other Related Disorders", Journal of Integrative 
Nephrology and Andrology. 2 (4).pp. 107-116.
19. Leisegang K., et al. (2014), "Effect of the metabolic syndrome on 
male reproductive function: a case-controlled pilot study", Andrologia. 46 
(2).pp. 167 - 76.
20. Lotti F., et al. (2013), "Seminal, ultrasound and psychobiological 
parameters correlate with metabolic syndrome in male members of 
infertile couples", Andrology. 1 (2).pp. 229 - 39.
21. Mansour R., et al. (2017), "Increased insulin resistance in men with 
unexplained infertility", Reproductive BioMedicine Online. 35 (5).pp. 571 - 575.
22. O'Neill S.,O'Driscoll L. (2015), "Metabolic syndrome: a closer look at 
the growing epidemic and its associated pathologies", Obes Rev. 16 (1).
pp. 1-12.
23. Pico S. M., Bergonzoli G.,Contreras A. (2019), "Risk factors 
associated with the metabolic syndrome in Cali, Colombia (2013): A case-
control study", Biomedica. 39 (1).46-54.
24. Razzouk L.,Muntner P. (2009), "Ethnic, gender, and age-related 
differences in patients with the metabolic syndrome", Curr Hypertens Rep. 
11 (2).pp. 127 - 32.
25. Selvaraj P.,Muthunarayanan L. (2019), "Prevalence of Metabolic 
Syndrome and Associated Risk Factors among Men in a Rural Health 
Centre Area in Tamil Nadu", J Lifestyle Med. 9 (1).pp. 44 - 51.
26. Sinaga M., et al. (2018), "Optimal cut-off for obesity and markers of 
metabolic syndrome for Ethiopian adults", Nutr J. 17 (1).pp. 109.
27. Sun Kan, Liu Jianmin,Ning Guang (2012), "Active smoking and risk of 
metabolic syndrome: a meta-analysis of prospective studies", PloS one. 7 
(10).pp. e47791-e47791.
28. Sun K., et al. (2014), "Alcohol consumption and risk of metabolic 
syndrome: a meta-analysis of prospective studies", Clin Nutr. 33 (4).pp. 
596 - 602.
29. Vieira B. A., et al. (2016), "Timing and Type of Alcohol Consumption 
and the Metabolic Syndrome - ELSA-Brasil", PloS one. 11 (9).pp. 
e0163044-e0163044.
30. Wilkins J. N., et al. (1982), "Nicotine from cigarette smoking increases 
circulating levels of cortisol, growth hormone, and prolactin in male chronic 
smokers", Psychopharmacology (Berl). 78 (4).pp. 305 - 8.
31. Willi C., et al. (2007), "Active smoking and the risk of type 2 diabetes: 
a systematic review and meta-analysis", Jama. 298 (22).pp. 2654 - 64.
32. Williamson D. F., et al. (1991), "Smoking cessation and severity of 
weight gain in a national cohort", N Engl J Med. 324 (11).pp. 739 - 45.
33. World Health Organization Department of Reproductive Health and 
Research (2010), Laboratory Manual for the Examination and Processing 
of Human Semen, Geneva, 

File đính kèm:

  • pdfhoi_chung_chuyen_hoa_o_nam_gioi_cac_cap_vo_chong_vo_sinh.pdf