Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh
Đặt vấn đề: Vô sinh do nam giới chiếm khoảng 50% các cặp vợ
chồng vô sinh và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hội
chứng chuyển hoá (HCCH) là một vấn đề toàn cầu phổ biến, bao
gồm một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch như béo phì bụng,
đề kháng insulin, rối loạn lipid máu, dung nạp glucose bất thường
và tăng huyết áp. Các rối loạn này có thể liên quan đến khả năng
sinh sản của nam giới gồm cả chức năng tình dục và chất lượng tinh
trùng. Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng rối loạn chuyển
hoá ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh và tìm hiểu các yếu tố
liên quan.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231
đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị tại Trung
tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế
(HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019. Đối tượng được khai thác
đầy đủ thông tin về lối sống, đo huyết áp và các chỉ số nhân trắc học,
xét nghiệm sinh hóa máu liên quan HCCH. Chẩn đoán HCCH theo
tuyên bố đồng thuận của International Diabetes Federation (IDF),
National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart
Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International
Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the
Study of Obesity (IASO) năm 2009.
Kết quả: Tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới trong nhóm nghiên cứu là
25.1%, nhóm 3 thành tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 19,0%, nhóm 4
thành tố chiếm 3,9%, nhóm 5 thành tố chiếm 2,2%. Tỷ lệ đối tượng
có tăng triglycerid cao nhất với 60,6%, theo sau đó là tăng glucose
máu đói (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), tăng vòng eo (24,2%), tăng
huyết áp là 9,5%. Tuổi lớn (≥35 tuổi), BMI≥23 kg/m2, tỷ số vòng
bụng/vòng mông > 0,9 là những yếu tố nguy cơ độc lập cho HCCH.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 115 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 115 - 123, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Lê Minh Tâm, Nguyễn Thị Kiều, Trần Thị Như Quỳnh, Cao Ngọc Thành Trường Đại học Y Dược Huế HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở NAM GIỚI CÁC CẶP VỢ CHỒNG VÔ SINH Tác giả liên hệ (Corresponding author): Lê Minh Tâm, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 03/05/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/05/2019 Từ khóa: Hội chứng chuyển hoá, khả năng sinh sản, nam giới, vô sinh. Keywords: Metabolic syndrome, male infertility, reproductive function. Tóm tắt Đặt vấn đề: Vô sinh do nam giới chiếm khoảng 50% các cặp vợ chồng vô sinh và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hội chứng chuyển hoá (HCCH) là một vấn đề toàn cầu phổ biến, bao gồm một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch như béo phì bụng, đề kháng insulin, rối loạn lipid máu, dung nạp glucose bất thường và tăng huyết áp. Các rối loạn này có thể liên quan đến khả năng sinh sản của nam giới gồm cả chức năng tình dục và chất lượng tinh trùng. Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng rối loạn chuyển hoá ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh và tìm hiểu các yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231 đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019. Đối tượng được khai thác đầy đủ thông tin về lối sống, đo huyết áp và các chỉ số nhân trắc học, xét nghiệm sinh hóa máu liên quan HCCH. Chẩn đoán HCCH theo tuyên bố đồng thuận của International Diabetes Federation (IDF), National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the Study of Obesity (IASO) năm 2009. Kết quả: Tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới trong nhóm nghiên cứu là 25.1%, nhóm 3 thành tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 19,0%, nhóm 4 thành tố chiếm 3,9%, nhóm 5 thành tố chiếm 2,2%. Tỷ lệ đối tượng có tăng triglycerid cao nhất với 60,6%, theo sau đó là tăng glucose máu đói (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), tăng vòng eo (24,2%), tăng huyết áp là 9,5%. Tuổi lớn (≥35 tuổi), BMI≥23 kg/m2, tỷ số vòng bụng/vòng mông > 0,9 là những yếu tố nguy cơ độc lập cho HCCH. Kết luận: HCCH ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ đáng kể. Chỉ số vòng bụng, vòng bụng/chiều cao, HDL-C có giá trị 1. Đặt vấn đề Theo Tổ chức Y tế thế giới vô sinh là tình trạng một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, mong muốn có con nhưng không thể có thai sau 12 tháng có quan hệ tình dục mà không dùng biện pháp tránh thai nào. Theo thống kê 15% cặp vợ chồng có vấn đề về sinh sản, trong đó vô sinh do yếu tố nam hiện diện trong 20-50% cặp vợ chồng [33]. Báo cáo của Nguyễn Viết Tiến tại Hội thảo quốc tế “Cập nhật về hỗ trợ sinh sản” (2013) tại Hà Nội cho thấy kết quả điều tra ở Việt Nam năm 2010 thì tỷ lệ vô sinh là 7,7%, trong đó nguyên nhân do nam giới chiếm 25 - 40% [2]. Vô sinh được xem là một trọng tâm trong LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ KIỀU, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, CAO NGỌC THÀNH 116 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H dự báo khá tốt khả năng mắc HCCH. Cần có chiến lược tiếp cận sớm để hạn chế ảnh hưởng của HCCH lên khả năng sinh sản của nam giới. Từ khoá: Hội chứng chuyển hoá, khả năng sinh sản, nam giới, vô sinh. Abstract Objectives: Male infertility accounts for about 50% of infertile couples. Metabolic syndrome (MS) is very common in the world, results in some cardiovascular risks such as central obesity, insulin resistance, dyslipidemia, abnormal glucose tolerance and hypertension. These factors may be related to male fertility in both sexual function and sperm quality. This research aimed to investigate metabolic syndrome in the reproductive function in fertile. Methods: The study was conducted on 231 male partner from infertile couples who came to the Hue Center for Reproductive Endocrinology and Infertility, Hue University Hospital from May 18th in 2017 to January 12th 2019. Diagnosis of MS under the consensus statement of International Diabetes Federation (IDF), National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the Study of Obesity (IASO) in 2009. Results: The prevalence of MS in male infertility in this group is 25.1%, the group of 3 components accounts for the highest rate with 19.0%, the group of 4 components accounts for 3.9%, the group of 5 components accounts for 2, 2%. In which, hypertriglyceridemia is the highest (60.6%), followed by hyperglycemia (35.1%), decreased HDL-C (28.1%), increased waist (24.2%) and hypertension is 9.5%. The age over 35 years old, BMI ≥ 23 kg/m2, waist/height ratio ≥ 0.5, waist/hip ratio> 0.9 are independent risk factors for MS. Conclusion: MS in men from infertile couples accounts a considerable incidence. WC, WC/H, HDL-C were good predictors for MS. It is important to have a strategy for MS screening for MS in men to improve their fertility capacity. Key words: Metabolic syndrome, male infertility, reproductive function. chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều trị vô sinh là một nhu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo hạnh phúc gia đình và phát triển hài hòa xã hội. Chẩn đoán nguyên nhân vô sinh và vô sinh nam giới là hết sức cần thiết để thực hiện điều trị. Vô sinh do nam giới có thể do khiếm khuyết sinh tinh nguyên phát tại tinh hoàn, do rối loạn vận chuyển tinh trùng, do các bệnh lí nội tiết - rối loạn hệ thống thường liên quan đến suy sinh dục thứ phát và đôi khi không tìm được nguyên nhân. Gần đây, các rối loạn chuyển hóa được quan tâm nhiều đến như là một yếu tố đóng góp đóng góp tiềm năng cũng như là nguyên nhân gây ra tình trạng vô sinh ở nam giới TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 117 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 115 - 123, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 thông qua việc làm giảm số lượng cũng như chất lượng tinh dịch đồ, làm giảm ham muốn, rối loạn cương dương, xuất tinh ngược dòng [18]. Hội chứng chuyển hoá là một vấn đề toàn cầu phổ biến bao gồm tình trạng béo phì trung tâm, rối loạn lipid máu, đề kháng insulin và tăng huyết áp hệ thống. Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế ước tính rằng một phần tư dân số thế giới và khoảng 40% người trưởng thành ở Mỹ mắc hội chứng chuyển hóa [22]. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Lê Thị Hợp và cộng sự năm 2008 trên 8 vùng sinh thái trong toàn quốc cho thấy tỉ lệ mắc hội chứng chuyển hóa là 13,1% trong đó có 10,6 % nam giới mắc hội chứng này [1]. Những người bị hội chứng chuyển hóa có nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường týp 2 cao gấp 5 lần, nguy cơ tim mạch cao gấp 3 lần và nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với những người không mắc hội chứng này [22]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện và cho thấy rằng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường týp 2 và bệnh lí tim mạch cao hơn so với nhóm nam giới có vợ mang thai bình thường. Đồng thời ở những người nam của cặp vợ chồng vô sinh mắc hội chứng chuyển hóa thì hay gặp bất thường tinh dịch đồ và chức năng tình dục hơn những người không mắc [3], [12], [14], [19]. Sự gia tăng tỷ lệ vô sinh dường như song song với sự gia tăng tỷ lệ béo phì, rối loạn lipid máu và hội chứng chuyển hóa [11]. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về tình trạng rối loạn chuyển hóa và những yếu tố liên quan ở những nam giới vô sinh. Vì vậy để góp phần bổ sung thêm cho những nghiên cứu sau này trong việc tìm kiếm nguyên nhân và can thiệp sớm trong hỗ trợ sinh sản và chăm sóc sức khỏe cho đối tượng nam giới vô sinh tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm xác định tỷ lệ mắc HCCH và tỷ lệ rối loạn các thành tốcủa HCCH cũng như tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến HCCH trên những đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231 đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019. Đối tượng có đầy đủ thông tin về lối sống, đo các chỉ số nhân trắc học và sinh hóa máu gồm: đường máu tĩnh mạch đói và biland lipid máu. Có đủ điều kiện sức khỏe và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH theo đồng thuận của IDF, AHA/NHBLI, WHF, IAS và IASO năm 2009 HCCH được chẩn đoán khi có ít nhất 3 trong 5 yếu tố sau: - Vòng bụng tăng : tùy theo chủng tộc và địa dư quy định, ở các nước nam Á(Việt Nam) vòng bụng ≥90 cm ở nam và ≥80 cm ở nữ. - Tăng huyết áp (huyết áp tối đa ≥130 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu ≥85mmHg hoặc đã điều trị tăng huyết áp). - Tăng glucose máu lúc đói (FPG ≥5,6mmol/L) hoặc đang dùng thuốc điều trị ĐTĐ. - HDL-c<1,03mmol/L ở nam và HDL-c <1,29 mmol/L ở nữ hoặc đã điều trị). - Triglyceride ≥1,7 mmol/L hoặc đã điều trị). Các bước tiến hành Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập số liệu về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, đặc điểm vô sinh, tiền sử hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, bệnh mãn tính, chiều cao, cân nặng, vòng bụng và vòng mông, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu. Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cân nặng chia cho bình phương chiều cao (kg/m2), tính chỉ số vòng bụng/vòng mông, vòng bụng/ chiều cao. Bệnh nhân được yêu cầu nhịn đói qua đêm (ít nhất 8 giờ), sau đó tiến hành xét nghiệm máu với các chỉ số: FPG, HDL-C, LDL-C, triglyceride và cholesterol toàn phần. Glucose huyết được xác định bằng phương pháp oxy hóa khử glucose (GOD-PAP), các chỉ số lipid máu: HDL-C, LDL-C, triglyceride và cholesterol tổng số được đo bằng phương pháp enzyme so màu tại Phòng xét nghiệm sinh hóa, bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Phương pháp xử lí số liệu Xử lý theo phương pháp thống kê y học trên máy tình bằng chương trình SPSS ấn bản 20.0 và Excel 2010. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần xuất, tỷ lệ, trung bình, trung vị, vẽ biểu đồ). Các biến định lượng được kiểm tra phân phối chuẩn LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ KIỀU, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, CAO NGỌC THÀNH 118 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H trước khi phân tích và được so sánh bằng kiểm định t-test( cho phân phối chuẩn) hoặc kiểm định Mann- Withney ( cho phân phối không chuẩn). Kiểm tra mối liên quan giữa các biến định tính bằng test Chi-Square, sau đó sử dụng mô hình hồi quy nhị phân đa biến cho các yếu tố liên quan đến HCCH. Kết quả được biểu thị qua giá trị của tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% của OR kèm giá trị so sánh biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05, theo 2 phía. Sử dụng đường cong ROC để tìm điểm cắt của các chỉ số sinh hóa, VB, BMI, tỷ VB/VM, tỷ VB/CC trong dự đoán sự hiện diện của HCCH. 3. Kết quả Đặc điểm Tổng(n=231) Có HCCH (n=58) Không có HCCH (n=173) p Tuổi (năm) 35,27±5,74 36,97±6,38 34,71±5,42 <0,01 Thời gian vô sinh (năm) 3,99±2,84 4,47±3,30 3,83±2,67 0,18 BMI (kg/m2) 23,62±3,20 25.37±3.15 23,03±2,99 <0,01 Vòng bụng (cm) 83,26±8,12 89,95±7,42 81,01±7,07 <0,01 Tỷ số VB/VM 0,87±0,05 0,90±0,04 0,87±0,05 <0,01 Tỷ số VB/CC 0,50±0,05 0,54±0,04 0,48±0,04 <0,01 HATT (mmHg) 114,78±10,80 119,30±14,62 113,30±8,80 <0,01 HATTr (mmHg) 72,55±7,16 75,30±8,80 71,60±6,30 <0,01 Triglycerid (mmol/l) 2.38±1.48 3,73±1,61 1,93±1,12 <0,01 HDL-C (mmol/l) 1,24±0,32 1,03±0,24 1,31±0,32 <0,01 Glucose (mmol/l) 5,57±1,08 6,35±1,51 5,30±0,72 <0,01 LDL-C (mmol/l) 3,39±0,84 3,73±0,94 3,28±0,28 <0,01 Cholesterol TP (mmol/l) 5,01±0,94 5,55±1,06 4,83±0,83 <0,01 Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Thành tố Chung (n=231) HCCH pCó (n=58) Không (n=173) n(%) n(%) n(%) VB≥90 (cm) 56(24,2) 36(62,1) 20(11,6) <0,01 HA≥130/85(mmHg) 22(9,5) 15(25,9) 7(4,0) <0,01 Triglycerid≥1,7(mmol/l) 140(60,6) 57(98,3) 83(48,0) <0,01 HDL-C<1,03(mmol/l) 65(28,1) 37(63,8) 28(16,2) <0,01 Glucose máu≥5,6 (mmo/l) 81(35,1) 46(79,3) 35(20,2) <0,01 Bảng 2. Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn của từng thành tố Biểu đồ 1. Tỷ lệ mắc HCCH và sự phân bố số thành tố của HCCH 6 Bảng 2. Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn của từng thành tố Thành tố Chung (n=231) HCCH p Có (n=58) Không (n=173) n(%) n(%) n(%) VB≥90 (cm) 56(24,2) 36(62,1) 20(11,6) <0,01 HA≥130/85(mmHg) 22(9,5 15 25,9) 7(4,0) <0,01 Triglycerid≥1,7(mmol/l) 140(60,6) 57(98,3) 83(48,0) <0,01 HDL-C<1,03(mmol/l) 65(28,1) 37(63,8) 28(16,2) <0,01 Glucose máu≥5,6 (mmo/l) 81(35,1) 46(79,3) 35(20,2) <0,01 Biểu đồ 1. Tỷ lệ mắc HCCH và sự phân bố số thành tố của HCCH Tuổi trung bình là 35.27±5.74 , BMI trung bình là 23.62±3.20 kg/m2, Những đối tượng mắc HCCH lớn tuổi hơn và béo hơn so với nhóm không mắc HCCH. Tương tự chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương, Triglycerid, cholesterol TP, HDL-C, LDL-C và glucose máu đều cao hơn ở nhóm có HCCH so với nhóm không có HCCH (Bảng 1). Tỷ lệ phổ biến các thành tố của HCCH theo thứ tự là triglyceride (60,6%), tăng đường máu (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), vòng bụng lớn (24,2%) và thấp nhất là tăng huyết 75.4% 75,9% 15,5% 8,6% 25.1% Không có HCCH 3 thành tố 4 thành tố 5 thành tố Tuổi trung bình là 35,27±5,74 , BMI trung bình là 23,62±3,20 kg/m2, Những đối tượng mắc HCCH lớn tuổi hơn và béo hơn so với nhóm không mắc HCCH. Tương tự chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương, Triglycerid, cholesterol TP, HDL-C, LDL-C và glucose máu đều cao hơn ở nhóm có HCCH so với nhóm không có HCCH (Bảng 1). Tỷ lệ phổ biến các thành tố của HCCH theo thứ tự là triglyceride (60,6%), tăng đường máu (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), vòng bụng lớn (24,2%) và thấp nhất là tăng huyết áp (Bảng 2). Tỷ lệ mắc HCCH là 25,1%, trong đó nhóm 3 thành tố chiến tỷ lệ cao nhất 75,9%, nhóm 4 thành tố đạt 15,5%, nhóm 5 thành tố chiếm 8,6% (Biểu đồ 1). Ở những người mắc HCCH thì rối loạn chuyển hóa phổ biến nhất là tăng Triglycerid máu (98,3%), theo sau đó là tăng glucose máu (79,3%), giảm HDL-C (63,8%), béo bụng (62,1%), thấp nhất là tăng huyết áp (25,9%). Các tỷ lệ này đều cao hơn so với nhóm nam giới không có HCCH có ý nghĩa thống kê (p<0,01) (Bảng 1). Các yếu tố liên quan HCCH(n=58) Không có HCCH (n=137) p n(%) n(%) Tuổi ≥35 36(31,9) 77(68,1) <0,05<35 22(18,6) 96(81,4) BMI (kg/m2) ≥23 43(36,1) 76(63,9) <0,01 <23 15(13,4) 79(86,6) VB/CC ≥0,5 49(37,4) 82(62,6) <0,01 ... ết áp, tăng glucose máu [17]. Nghiên cứu trên những đối tượng nam giới vô sinh cũng cho kết luận tương tự [7], [20]. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 121 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 115 - 123, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Nam giới tuổi lớn hơn có sự suy giảm khả năng sinh sản so với nam giới trẻ tuổi hơn. Theo Ford và cộng sự việc thụ thai trong thời gian 12 tháng ở nam giới trên 40 tuổi ít hơn 30% so với nam giới dưới 30 tuổi. Hầu hết sự giảm hoạt động tình dục, rối loạn chức năng cương dương, kèm suy giảm thể tích tinh dịch, mật độ giảm vận động của tinh trùng bất thường hình thái cũng có sự gia tăng theo tuổi [15]. Do vậy có thể tuổi tác thông qua trung gian là các rối loạn chuyển hóa ảnh hưởng lên chức năng sinh sản ở nam giới. Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế là chưa đánh giá được tác động của các rối loạn chuyển hóa trên chức năng tình dục và sinh sản ở nam giới. Béo phì được đánh giá qua các chỉ số BMI, tỷ số VM/VM, VB/CC, từ lâu đã được biết đến là yếu tố nguy cơ cho bệnh lí toàn thân đặc biệt bệnh lí tim mạch, đái tháo đường. Gần đây là đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân ra ra vô sinh nam giới [18]. Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có BMI ≥23 kg/ m2 là 36,1% cao hơn so với nhóm có BMI<23 là 13,4%. Tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có tỷ số VB/VM >0,9 cũng cao hơn nhóm có VB/VM ≤0,9 (41,1% so với 14,9%), nhóm có tỷ số VB/CC lớn cũng làm tăng tỷ lệ mắc HCCH (37,7% so với 9,0%), các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Nhóm mắc HCCH có giá trị trung bình các chỉ số trên cao hơn nhóm không có HCCH với p<0,05. Trong mô hình hồi quy nhị phân đa biến cho thấy nhóm có chỉ số BMI, tỷ số VM/VM, VB/ CC cao là các yếu tố nguy cơ độc lập với HCCH. Trong đó Tỷ số VB/CC ≥ 0,5 có nguy cơ mắc HCCH cao nhất với OR=2,9, KTC 95% 1,16-7,28. Diện tích dưới đường cong ROC của chỉ số vòng bụng (81,2%), tỷ số VB/CC (79,0%) lớn hơn so với chỉ số BMI (71,6%) và tỷ số VB/VM (70,5%), như vậy theo nghiên cứu của chúng tôi giá trị dự báo khả năng mắc HCCH của chỉ số vòng bụng cao nhất (với điểm cắt 89,5 cm), tiếp đến là tỷ số VB/CC (điểm cắt 0,54), BMI (điểm cắt 23,1 kg/m2), giá trị dự báo khả năng mắc HCCH của tỷ số VB/VM thấp nhất (điểm cắt 0,9). Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ số VB/CC có giá trị hơn các chỉ số khác đánh giá béo phì khác( BMI, VB/VM) trong dự báo mắc HCCH [9]. Tuy nhiên do cách đo chỉ số vòng bụng khó đo chính xác hơn nên chưa được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng so với BMI để đánh giá béo phì. Các giá trị điểm cắt về BMI và vòng bụng cũng như tỷ số VB/VM của chúng tôi tương tự như các giá trị quốc tế được khuyến cáo cho người Châu Á, còn điểm cắt của tỷ số VB/CC chưa được khuyến cáo rõ ràng. Các điểm cắt này khác nhau ở một số nghiên cứu khác [26]. Trong khi đó kháng insulin là trung tâm của HCCH, nên tôi cũng đề nghị tiếp tục sử dụng các chỉ số nhân trắc đặc biệt là chỉ số vòng bụng, tỷ số VB/CC để dự báo khả năng mắc HCCH, cũng như khuyến cáo những người có tình trạng béo phì cần thay đổi lối sống tích cực hơn và phòng ngừa các bệnh lí tiểu, đường tim mạch và chuyển hóa. Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế bởi vì đây là nghiên cứu cắt ngang do đó không thể đánh giá được nhân quả giữa các chỉ số béo phì và hội chứng chuyển hóa, và được thực hiện trên nhóm đối tượng nhỏ là những người nam của cặp vợ chồng vô sinh. Việc hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa. Người hút thuốc chủ động thường có tình trạng kháng insulin và tăng insulin máu nghiêm trọng hơn, có thể làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ týp II [31]. Tác động của việc hút thuốc lá đối với chuyển hóa glucose và lipid có thể một phần là do kích thích hệ thần kinh giao cảm [32] và tăng nồng độ hormone đối kháng insulin, như cortisol và hormone tăng trưởng [30] làm tình trạng kháng insulin trầm trọng hơn có thể gây ra tích mỡ nội tạng và tăng chu vi vòng eo. Ở nam giới mỡ nội tạng tăng khi giảm nồng độ testosterone huyết tương, hút thuốc lá có thể làm giảm nồng độ hoocmon này [5], [6]. Ngừng hút thuốc làm giảm triglyceride và cải thiện độ nhạy insulin và LDL-C [16]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, có 40,6% đối tượng hút thuốc lá, tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm nam giới hút thuốc lá cao hơn so với nhóm nam giới không hút thuốc lá (26,6% so với 24,1%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Theo Kan Sun và cộng sự (2012) dựa trên dữ liệu từ 13 nghiên cứu thuần tập tương lai (56.691 người tham gia; 8.688 trường hợp mắc hội chứng chuyển hóa), những người hút thuốc LÊ MINH TÂM, NGUYỄN THỊ KIỀU, TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH, CAO NGỌC THÀNH 122 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H chủ động có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa tăng 26% so với những người không hút thuốc, có mối liên quan đáng kể giữa hút thuốc chủ động và nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (RR=1,26, KTC 95%: 1,10 -1,44) [27]. Hút thuốc lá ở nam làm tăng nguy cơ xuất hiện HCCH (OR=1,5; 95% Cl:1,1-2,2) , đồng thời là yếu tố nguy cơ độc lập cho sự phát triển của hội chứng chuyển hóa , liên quan đến LDL-C, tăng chu vi bụng và tăng mức độ TG, theo Bermudez V (2018) [6]. Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế vì dữ liệu về tình trạng hút thuốc dựa trên tự khai, nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa có thể bị đánh giá thấp nếu người tham gia không báo cáo hợp lý thói quen hút thuốc lá. Cần đánh giá thêm độ tin cậy của thói quen hút thuốc do bệnh nhân tự báo cáo bằng đánh giá tương quan với giá trị carbon monoxide thở ra [13]. Định nghĩa có thói quen hút thuốc lá của chúng tôi khác so với một số nghiên cứu khác. Tác động của rượu, bia đối với HCCH chưa rõ ràng. Tiêu thụ rượu mức độ từ nhẹ đến trung bình, đặc biệt tiêu thụ rượu trong bữa ăn tác động có lợi đến HCCH cũng như giảm nguy cơ tim mạch và tử vong, trong khi đó uống rượu mức độ nặng hay tiêu thụ rượu ngoài bữa ăn có liên quan đến nguy cơ gia tăng các bệnh lí trên. Tác dụng bảo vệ tim mạch của việc uống rượu có thể hoạt động thông qua một loạt các cơ chế, bao gồm tác dụng chống viêm, ức chế kết tập tiểu cầu và thay đổi chuyển hóa lipid giảm thấp các chất chỉ điểm viêm như fibrinogen, protein phản ứng C (CRP), bạch cầu và tốc độ lắng máu (VSS). Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tiêu thụ rượu vừa phải làm giảm nồng độ IL-6, IL-8, TNF-α , làm tăng giải phóng oxit nitric từ nội mô, tăng HDL-C [28]. Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc HCCH ở những người có thói quen uống rượu bia là 25,8% không khác biệt nhiều so với nhóm không uống rượu ( 25,0%), p>0,05. Một phân tích tổng hợp gần đây đã cho thấy rằng so với những người không uống rượu, người tiêu thụ đồ uống có cồn nhẹ (≤5g/ngày) có liên quan đến nguy cơ mắc hội chứng thấp hơn (RR = 0,86, KTC 95% 0,75 -0,99), trong khi tiêu thụ quá mức (>35g/ngày) có nguy cơ cao hơn (RR = 1,84, KTC 95% 1,34-2,52) [28]. Theo Bruna Angelo Vieira (2016) tiêu thụ nhẹ đồ uống có cồn trong bữa ăn có liên quan nghịch với hội chứng chuyển hóa (≤4 ly/tuần: OR = 0,85, KTC95% 0,74-0,97; 4 đến 7 ly/tuần: OR = 0,75, KTC 95% 0,61-0,92), so với kiêng hoặc uống thường xuyên. Mặt khác, tiêu thụ nhiều rượu hơn và tiêu thụ ngoài bữa ăn có liên quan đáng kể đến hội chứng chuyển hóa (7 đến 14 ly/tuần: OR = 1,32, KTC 95% 1,11-1,57; ≥14 ly/tuần: OR = 1,60, 95 % CI 1,29-1,98), p<0,05 [29]. Một nghiên cứu khác đã điều tra ảnh hưởng của thời điểm tiêu thụ đối với các bữa ăn đối với các thành phần hội chứng chuyển hóa báo cáo: tỷ lệ tăng huyết áp ở người Ý không uống rượu (42,8%) và người Mỹ (40,4%) cao hơn so với những người uống rượu trong bữa ăn (36,6% và 39,8%), nhưng không cao hơn so với những người uống rượu bên ngoài bữa ăn (42,8% và 41,4%) [8]. Hạn chế của nghiên cứu chúng tôi là không phân loại được các đồ uống có cồn vì mỗi loại được cho là có ảnh hưởng khác nhau lên chuyển hóa cũng như không đánh giá thời điểm uống rượu chủ yếu có liên quan đến bữa ăn hay không cũng không phân mức độ sử dụng chất có cồn nên kết quả có thể khác nhau đồng thời đánh giá tác động của nó lên chuyển hóa còn chưa chi tiết rõ ràng. Sử dụng rượu bia và thuốc lá ngoài việc tác động tiêu cực lên chuyển hóa toàn thân cũng đã được chứng minh làm suy giảm chất lượng tinh dịch đồ [4], [10]. Do đó tư vấn bỏ thuốc lá, hạn chế lượng rượu tiêu thụ cần được thực hiện cho toàn dân đặc biệt là nhóm nam giới vô sinh. 5. Kết luận Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ đáng kể. Số đo vòng bụng ≥90 cm và tỷ số vòng bụng/ chiều cao ≥ 0,54 có giá trị dự báo khá tốt nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa, giá trị dự báo cao hơn so với chỉ số BMI và tỷ số vòng bụng/ vòng mông ở nhóm nam giới đến khám vô sinh. Cần có chiến lược tiếp cận sớm hơn để hạn chế ảnh hưởng của HCCH lên khả năng sinh sản của nam giới. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 123 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 115 - 123, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 Tài liệu tham khảo 1. Lê Thị Hợp, Lê Bạch Mai,Nguyễn Công Khẩn (2008), "Tình trạng béo phì và hội chứng chuyển hóa ở Việt Nam", Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm 4 2. Nguyễn Viết Tiến (2013), ”Cập nhật về hỗ trợ sinh sản”, Báo cáo tại hội thảo quốc tế, Hà Nội, 3. Sanjay Kumar, et al. (2015), "Association of Male Infertility to Metabolic Syndrome and Other Related Disorders", Journal of Integrative Nephrology and Andrology. 2 (4).107-116. 4. Anifandis G., et al. (2014), "The impact of cigarette smoking and alcohol consumption on sperm parameters and sperm DNA fragmentation (SDF) measured by Halosperm((R))", Arch Gynecol Obstet. 290 (4).pp. 777 - 82. 5. Bassey I. E., Gali R. M.,Udoh A. E. (2018), "Fertility hormones and vitamin E in active and passive adult male smokers in Calabar, Nigeria", PLoS One. 13 (11).pp. e0206504. 6. Bermudez V., et al. (2018), "Cigarette smoking and metabolic syndrome components: a cross-sectional study from Maracaibo City, Venezuela", F1000Res. 7 pp. 565. 7. Bungum A. B., et al. (2018), "Risk of metabolic disorders in childless men: a population-based cohort study", BMJ Open. 8 (8).pp. e020293. 8. Della Valle E., et al. (2009), "Drinking habits and health in Northern Italian and American men", Nutr Metab Cardiovasc Dis. 19 (2).pp. 115 - 22. 9. Dong J., et al. (2019), "Optimal Cut-off Point of Waist to Height Ratio in Beijing and Its Association with Clusters of Metabolic Risk Factors", Curr Med Sci. 39 (2).pp. 330 - 336. 10. Ehala-Aleksejev K.,Punab M. (2018), "The effect of metabolic syndrome on male reproductive health: A cross-sectional study in a group of fertile men and male partners of infertile couples", PLoS One. 13 (3). pp. e0194395. 11. Eisenberg M., et al. (2016), Diabetes, medical comorbidities and couple fecundity, 12. Elsamanoudy A.Z., et al. (2016), "Spermatozoal cell death-inducing DNA fragmentation factor-α-like effector A (CIDEA) gene expression and DNA fragmentation in infertile men with metabolic syndrome and normal seminogram", Diabetology & metabolic syndrome. 8 pp. 76 -76. 13. Frei M., et al. (2012), "Assessment of smoking behaviour in the dental setting. A study comparing self-reported questionnaire data and exhaled carbon monoxide levels", Clin Oral Investig. 16 (3).pp. 755 - 60. 14. Guo D., et al. (2017), "Hypertension and Male Fertility", The world journal of men's health. 35 (2).pp. 59 - 64. 15. Harris Isiah D., et al. (2011), "Fertility and the aging male", Reviews in urology. 13 (4).pp. e184 - e190. 16. He Y., et al. (2009), "Combined effects of tobacco smoke exposure and metabolic syndrome on cardiovascular risk in older residents of China", J Am Coll Cardiol. 53 (4).pp. 363 - 71. 17. Hildrum Bjørn, et al. (2007), "Age-specific prevalence of the metabolic syndrome defined by the International Diabetes Federation and the National Cholesterol Education Program: the Norwegian HUNT 2 study", BMC public health. 7 pp. 220 - 220. 18. Kumar S., et al. (2015), "Association of Male Infertility to Metabolic Syndrome and Other Related Disorders", Journal of Integrative Nephrology and Andrology. 2 (4).pp. 107-116. 19. Leisegang K., et al. (2014), "Effect of the metabolic syndrome on male reproductive function: a case-controlled pilot study", Andrologia. 46 (2).pp. 167 - 76. 20. Lotti F., et al. (2013), "Seminal, ultrasound and psychobiological parameters correlate with metabolic syndrome in male members of infertile couples", Andrology. 1 (2).pp. 229 - 39. 21. Mansour R., et al. (2017), "Increased insulin resistance in men with unexplained infertility", Reproductive BioMedicine Online. 35 (5).pp. 571 - 575. 22. O'Neill S.,O'Driscoll L. (2015), "Metabolic syndrome: a closer look at the growing epidemic and its associated pathologies", Obes Rev. 16 (1). pp. 1-12. 23. Pico S. M., Bergonzoli G.,Contreras A. (2019), "Risk factors associated with the metabolic syndrome in Cali, Colombia (2013): A case- control study", Biomedica. 39 (1).46-54. 24. Razzouk L.,Muntner P. (2009), "Ethnic, gender, and age-related differences in patients with the metabolic syndrome", Curr Hypertens Rep. 11 (2).pp. 127 - 32. 25. Selvaraj P.,Muthunarayanan L. (2019), "Prevalence of Metabolic Syndrome and Associated Risk Factors among Men in a Rural Health Centre Area in Tamil Nadu", J Lifestyle Med. 9 (1).pp. 44 - 51. 26. Sinaga M., et al. (2018), "Optimal cut-off for obesity and markers of metabolic syndrome for Ethiopian adults", Nutr J. 17 (1).pp. 109. 27. Sun Kan, Liu Jianmin,Ning Guang (2012), "Active smoking and risk of metabolic syndrome: a meta-analysis of prospective studies", PloS one. 7 (10).pp. e47791-e47791. 28. Sun K., et al. (2014), "Alcohol consumption and risk of metabolic syndrome: a meta-analysis of prospective studies", Clin Nutr. 33 (4).pp. 596 - 602. 29. Vieira B. A., et al. (2016), "Timing and Type of Alcohol Consumption and the Metabolic Syndrome - ELSA-Brasil", PloS one. 11 (9).pp. e0163044-e0163044. 30. Wilkins J. N., et al. (1982), "Nicotine from cigarette smoking increases circulating levels of cortisol, growth hormone, and prolactin in male chronic smokers", Psychopharmacology (Berl). 78 (4).pp. 305 - 8. 31. Willi C., et al. (2007), "Active smoking and the risk of type 2 diabetes: a systematic review and meta-analysis", Jama. 298 (22).pp. 2654 - 64. 32. Williamson D. F., et al. (1991), "Smoking cessation and severity of weight gain in a national cohort", N Engl J Med. 324 (11).pp. 739 - 45. 33. World Health Organization Department of Reproductive Health and Research (2010), Laboratory Manual for the Examination and Processing of Human Semen, Geneva,
File đính kèm:
hoi_chung_chuyen_hoa_o_nam_gioi_cac_cap_vo_chong_vo_sinh.pdf

