Hóa chất liều cao và cấy ghép tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong ung thư

phụ khoa, khoảng 80% bệnh nhân có đáp ứng trên nền platin. Phác

đồ chuẩn hiện nay là paclitaxel kết hợp với carboplatin có tỷ lệ đáp

ứng khoảng 75%. Do độc tính thần kinh và giảm tiểu cầu, các nỗ lực

gia tăng thêm liều paclitaxel đang gây nhiều tranh cãi. Đường dùng

trong khoang phúc mạc có cường độ liều được tăng lên gấp 20 lần.

Trong trường hợp tái phát và đề kháng thuốc, hóa trị liều cao trên

nền Platinum cho thấy có sự cải thiện về thời gian sống còn trung bình

nói chung. Đối với điều trị ban đầu bệnh lý tiến triển, phác đồ 6 chu kỳ

đầu với liều thông thường cisplatin và cyclophosphamide, tiếp theo là

liều cao cisplatin, carboplatin, etoposide cho tỷ lệ khỏi bệnh hoàn toàn

là 42%. Cách tiếp cận thứ hai là dùng ngay nhiều đợt hóa trị liều cao

với sự hỗ trợ tế bào gốc cũng cho thấy kết quả khích lệ.

Với những tiến bộ về huyết học trong hỗ trợ tạo huyết, bao gồm sự

phát triển của các yếu tố kích thích dòng tế bào (CSFs) và cấy ghép

tế bào gốc máu ngoại vi cho phép tăng liều hóa chất so với điều trị cơ

bản. Các nghiên cứu về hóa trị liều cao với carboplatin và paclitaxel

được hỗ trợ bởi cấy ghép tế bào gốc tạo máu và các cytokine ở những

bệnh nhân ung thư buồng trứng tái phát hoặc ở giai đoạn muộn cho

thấy có sự cải thiện rõ về tỷ lệ đáp ứng với điều trị lên đến 89% (SWOG

9106), thời gian trung bình sống còn tổng thể (OS) là 18 tháng và tỷ lệ

sống còn lúc 60 tháng là 14%

pdf 7 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Hóa chất liều cao và cấy ghép tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư buồng trứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hóa chất liều cao và cấy ghép tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư buồng trứng

Hóa chất liều cao và cấy ghép tế bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung thư buồng trứng
NGUYỄN DUY THĂNG, LÊ SỸ PHƯƠNG, CHÂU KHẮC TÚ
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
10
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Duy Thăng, Lê Sỹ Phương, Châu Khắc Tú
Bệnh viện Trung ương Huế
HÓA CHẤT LIỀU CAO VÀ CẤY GHÉP TẾ BÀO GỐC 
TẠO MÁU TỰ THÂN
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG(*)
Tóm tắt
Ung thư buồng trứng chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong ung thư 
phụ khoa, khoảng 80% bệnh nhân có đáp ứng trên nền platin. Phác 
đồ chuẩn hiện nay là paclitaxel kết hợp với carboplatin có tỷ lệ đáp 
ứng khoảng 75%. Do độc tính thần kinh và giảm tiểu cầu, các nỗ lực 
gia tăng thêm liều paclitaxel đang gây nhiều tranh cãi. Đường dùng 
trong khoang phúc mạc có cường độ liều được tăng lên gấp 20 lần.
Trong trường hợp tái phát và đề kháng thuốc, hóa trị liều cao trên 
nền Platinum cho thấy có sự cải thiện về thời gian sống còn trung bình 
nói chung. Đối với điều trị ban đầu bệnh lý tiến triển, phác đồ 6 chu kỳ 
đầu với liều thông thường cisplatin và cyclophosphamide, tiếp theo là 
liều cao cisplatin, carboplatin, etoposide cho tỷ lệ khỏi bệnh hoàn toàn 
là 42%. Cách tiếp cận thứ hai là dùng ngay nhiều đợt hóa trị liều cao 
với sự hỗ trợ tế bào gốc cũng cho thấy kết quả khích lệ. 
Với những tiến bộ về huyết học trong hỗ trợ tạo huyết, bao gồm sự 
phát triển của các yếu tố kích thích dòng tế bào (CSFs) và cấy ghép 
tế bào gốc máu ngoại vi cho phép tăng liều hóa chất so với điều trị cơ 
bản. Các nghiên cứu về hóa trị liều cao với carboplatin và paclitaxel 
được hỗ trợ bởi cấy ghép tế bào gốc tạo máu và các cytokine ở những 
bệnh nhân ung thư buồng trứng tái phát hoặc ở giai đoạn muộn cho 
thấy có sự cải thiện rõ về tỷ lệ đáp ứng với điều trị lên đến 89% (SWOG 
9106), thời gian trung bình sống còn tổng thể (OS) là 18 tháng và tỷ lệ 
sống còn lúc 60 tháng là 14%.
Từ khóa: Hóa trị liều cao, cấy ghép tế bào gốc, ung thư buồng trứng 
Abstract 
HIGH-DOSE CHEMOTHERAPY AND AUTOLOGOUS 
HEMATOPOIETIC STEM CELL TRANSPLANTATION IN THE 
TREATMENT OF OVARIAN CANCER
Ovarian cancer accounted leading mortality in gynecologic cancer, 
about 80% of patients having platinum-based response. Current 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Sỹ Phương,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 05/04/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 25/04/2016
(*) Chuyên đề thuộc đề tài cấp nhà nước 
ĐTĐL 2012-G/31 Nghiên cứu sử dụng tế 
bào gốc tạo máu tự thân trong điều trị ung 
thư vú và ung thư buồng trứng.
Từ khoá: Hóa trị liều cao, 
cấy ghép tế bào gốc, ung thư 
buồng trứng. 
Key words: High-dose therapy, 
Stem cell transplantation, 
Ovarian cancer
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 10 - 16, 2016
11
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Hóa trị trong ung thư 
buồng trứng 
Phẫu thuật giảm khối tiếp nối với hóa trị nền 
platin là điều trị chuẩn cho bệnh nhân ung thư biểu 
mô buồng trứng tiến triển. Tuy nhiên khoảng 70% 
bệnh nhân đến khám ở giai đoạn bệnh đã tiến 
triển và phẫu thuật cắt toàn bộ khối u thường khó 
hoặc không thể thực hiện. Vì vậy bất chấp ưu điểm 
của chiến lược điều trị này, phần lớn bệnh nhân ở 
giai đoạn III hoặc IV theo FIGO sẽ tái phát bệnh, 
chất lượng cuộc sống thấp và cuối cùng chết khi 
bệnh tiến triển[4,5]. 
Ung thư buồng trứng là bệnh nhạy cảm với hóa trị 
và khoảng 80% bệnh nhân sẽ đáp ứng với hóa trị nền 
platin. Một số nghiên cứu gần đây đã thừa nhận hóa 
trị hỗ trợ trước mổ tiếp nối với phẫu thuật giảm khối 
cho phép phẫu thuật giảm khối tối ưu dễ dàng hơn, 
chất lượng sống tốt, thời gian sống và tiên lượng của 
bệnh nhân có vẻ khả quan hơn [6,7]. 
Mặc dù ung thư biểu mô buồng trứng đáp ứng 
tốt với điều trị hóa chất, hầu hết bệnh nhân cuối 
cùng cũng không chịu nổi và tử vong vì bệnh tái 
phát và kháng thuốc. Bệnh sẽ không được chữa 
khỏi ở gần 40% trong vòng 2 năm và 20% khác 
trong vòng 2-5 năm tiếp theo, chỉ khoảng 20% sẽ 
kéo dài thời gian sống sót > 5 năm [6].
Phác đồ chuẩn trước đây dùng Cisplatin phối 
hợp Cyclophosphamide. Cách đây hơn 15 năm, 
phác đồ mới bao gồm Paclitaxel phối hợp cisplatin 
đã được đưa vào sử dụng và hiện nay đã trở thành 
phác đồ chuẩn cho ung thư biểu mô buồng trứng vì 
tính ưu việt hơn hẳn của nó so với phác đồ cũ. Sự 
phối hợp liều cơ bản giữa paclitaxel và carboplatin 
có hiệu quả đáng kể trong điều trị với tỷ lệ đáp ứng 
75% và 62% đối với ung thư buồng trứng tiến triển 
và ung thư phổi tế bào nhỏ di căn. Độc tính hạn 
chế liều của phác đồ điều trị này là suy tủy, ngay 
cả với việc hỗ trợ với các cytokine tạo máu như 
filgrastim (yếu tố kích thích dòng bạch cầu hạt). 
Các độc tính không thuộc tạo máu nói chung nhẹ, 
vì vậy việc tăng dần liều có thể kết hợp với cấy 
ghép tế bào gốc tạo máu nhằm phục hồi tủy [5].
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để cải thiện các 
phương pháp điều trị trong ung thư buồng trứng 
giai đoạn tiến triển, tỉ lệ sống 5 năm vẫn không 
thay đổi, từ 5 -20%. Cuối cùng, đa số bệnh nhân 
chết do kháng thuốc.
2. Liều lượng điều trị và hóa 
trị liều cao
Hóa trị liều cao cho bệnh ung thư buồng trứng 
đang sử dụng ngày càng nhiều và đã được ghi 
conventional therapy with carboplatin and paclitaxel has the response rate of about 75%. Due to 
Neurotoxicity and thrombocytopenia, the efforts to further doses of paclitaxel are still controversial. 
The dose intensity with the use in peritoneal cavity was increased 20-fold.
In case of relapse and drug resistance, Platinum based high-dose chemotherapy showed an 
improvement in median overall survival. The protocol of 6 first cycles of cisplatin and cyclophosphamide 
with usual dose, and then followed by high-dose cisplatin, carboplatin, etoposide had the complete 
cure rate of 42%. The second approach with uses right of high-dose chemotherapies with stem cell 
support also showed encouraging results.
With the hematological advances in hematopoietic support, including the development of the 
Colony Stimulating Factors (CSFs) and transplantation of peripheral blood stem cells allows for 
increasing doses of chemotherapy higher than doses in the conventional treatment. The study of 
high-dose chemotherapy with carboplatin and paclitaxel is supported by transplanted hematopoietic 
stem cells and cytokines in patients with recurrent ovarian cancer, or in late stage showed a significant 
improvement for the rate of response to treatment, up to 89% (SWOG 9106), while the average 
overall survival (OS) was 18 months and the overalsurvival at 60 months was 14%.
Key words: High-dose therapy, Stem cell transplantation, Ovarian cancer
NGUYỄN DUY THĂNG, LÊ SỸ PHƯƠNG, CHÂU KHẮC TÚ
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
12
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
nhận [8,9]. Mặc dù chưa hoàn tất đánh giá thử 
nghiệm giai đoạn III, những nỗ lực đáng kể để xác 
định các nhóm bệnh nhân có thể được hưởng lợi 
từ liệu pháp này đã dẫn đến việc mở ra một số thử 
nghiệm giai đoạn III. Một nghiên cứu ở Mỹ tiến 
hành so sánh việc cấy ghép đơn độc với liệu pháp 
thông thường như điều trị nâng đỡ cho bệnh nhân 
với sự đáp ứng tiến triển của bệnh giai đoạn III, IV. 
Với sự hiếm có của khối u tế bào mầm và tế bào 
đệm cùng tỷ lệ cao được điều trị bằng liệu pháp 
thông thường, không tồn tại đáng kể kinh nghiệm 
điều trị liều cao với các thể ung thư buồng trứng. 
Trong điều trị lâm sàng, khi tăng liều thì các 
thuốc có tác dụng làm tăng khả năng tiêu diệt 
khối u, các thuốc này cũng có tác dụng tương hỗ 
khi được dùng phối hợp [10,11,12,13,14]. trong 
thí nghiệm, một vài thuốc ít hiệu quả lâm sàng ở 
liều thông thường lại có hoạt tính khi dùng ở liều 
cao, tiêu biểu như mitoxantrone [10]. Nồng độ đạt 
được khi dùng liều thông thường cơ bản không diệt 
được tế bào kháng platinum , tuy nhiên, ở liều cao, 
hoạt động kháng u là có ý nghĩa. Liều đáp ứng với 
paclitaxel là bằng chứng cho một vài nhóm nghiên 
cứu sử dụng paclitaxel liều cao trong phác đồ phối 
hợp cấy ghép tế bào gốc tạo máu . Liều dung nạp 
tối đa là 775 mg/m2 trong 24h.
Do giới hạn số thuốc có hiệu quả trên lâm sàng 
trong bệnh ung thư buồng trứng, kết quả in vitro 
cho thấy một liều đáp ứng thuận lợi, và thực tế là 
hầu như các thuốc điều trị ít nhất có thể tăng liều 
lên gấp đôi so với liều chuẩn. Khi điều trị bệnh 
tái phát, liều gấp đôi của cisplatin và carboplatin 
cùng gây độc thần kinh và giảm tiểu cầu mà không 
đem lại nhiều lợi ích lâm sàng [15,16]. Dựa trên 
những nguyên cứu đó, các kết luận cho rằng điều 
trị liều cao không có giá trị hoặc quá độc. Thực 
tế, cải thiện lâm sàng trong đáp ứng và kết cục 
đến chủ yếu từ việc cung cấp liều thông thường 
paclitaxel trong điều trị ban đầu. So với phác đồ 
cyclophosphamide/ platinum, thời gian sống trung 
bình trong phác đồ dựa trên paclitaxel ở bệnh 
nặng giai đoạn III, IV hiện nay là 3 năm so với 2 
năm [17].Các nỗ lực gia tăng liều paclitaxel gây 
nhiều tranh cãi. Độc tính và chi phí gây nhiều cản 
trở đến thói quen dùng paclitaxel liều cao thông 
thường trong thực hành lâm sàng.
Một dạng khác của liều tăng cường sẽ là thêm 
thuốc với độc tính không chồng chéo ở liều thông 
thường của mỗi loại. Sự kết hợp của 3 thuốc hiệu quả 
nhất cho bệnh này – paclitaxel, cyclophosphamide 
và cisplatin đã được kiểm nghiệm trong một số 
nghiên cứu [18]. Kohn và cộng sự đã tìm thấy một 
tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn khá cao khi kết hợp 
thuốc và thời gian sống vượt dự liến so với dùng 
paclitaxel và cisplatin đơn độc.
3. Trị liệu trong phúc mạc
Có lẽ bằng chứng lâm sàng hấp dẫn nhất để 
khám phá điều trị liều cao một cách hệ thống với tế 
bào gốc là giá trị lâm sàng của trị liệu trong khoang 
phúc mạc [19,20,21,22,23]. Thử nghiệm lâm sàng 
cho những bệnh nhân tái phát với platinum là thuốc 
chủ yếu. Trong khoang phúc mạc, cường độ liều được 
tăng lên gấp 20 lần và đạt được nồng độ trong huyết 
thanh tương đương điều trị platinum đường tiêm. Hiệu 
quả lâm sàng của nó bị giới hạn ở những bệnh nhân 
có khối u nhỏ (dưới 0,5cm), khu trú trong khoang 
phúc mạc và đáp ứng với điều trị platinum toàn thân 
mà không gây dính đáng kể . Vì nguyên do này, 
chỉ 1/3 bệnh nhân được dự đoán phù hợp điều trị. 
Tuy nhiên, với những bệnh nhân còn sót tổ chức vi 
thể sau điều trị cơ bản ban đầu, khi dùng platinum 
đường phúc mạc có tỷ lệ thuyên giảm hoàn toàn 
41% so với chỉ 5% ở những bệnh nhân có khối u hơn 
1cm theo nghiên cứu từ Trung tâm Ung thư Memorial 
Sloan – Kettering [23]. Lợi ích có cả trên bệnh tái phát 
nên được lưu ý với nhóm bệnh nhân nhạy cảm với 
platinum. Cũng theo các quan sát thử nghiệm hóa trị 
liều cao hệ thống, bệnh nhân kháng platinum không 
đạt tỷ lệ thoái triển hoàn toàn đáng kể. 
4. Hóa trị liều cao trong tái 
phát bệnh và đề kháng thuốc
Lựa chọn liều thông thường phải được xem xét 
ở những bệnh nhân điều trị liều thông thường thất 
bại khi so sánh với hóa trị liều cao. Những bệnh 
nhân có bệnh tiến triển hay tái phát sau đáp ứng 
ban đầu với liều thông thường được coi là không 
chữa khỏi với hóa trị thông thường; ngoại trừ, một 
số ít bệnh nhân phù hợp với liệu pháp đường phúc 
mạc [5]. Thời gian sống trung bình của nhóm này 
khi điều trị dựa trên platinum là 10 - 12 tháng 
[24,25,26,27].Những bệnh nhân này hiếm khi đáp 
ứng với cisplatin và carboplatin (5%-15%). Ngược 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 10 - 16, 2016
13
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
lại, những bệnh nhân tái phát sau thuyên giảm 6 
tháng hoặc hơn có thời gian sống trung bình từ 16 
- 20 tháng tùy thuộc thời gian thuyên giảm đầu tiên 
thì tỷ lệ đáp ứng với trị liệu platinum là 35% - 50%, 
và lần nữa tùy thuộc vào thời gian thuyên giảm ban 
đầu, được xem là nhạy cảm với platinum. 
Một loạt các thuốc và liệu pháp mới mang lại 
đáp ứng ngắn hạn ở một số ít bệnh nhân. Topotecan 
[28], etoposide uống [29], doxorubicin [30], và 
paclitaxel [31] mặc dù không có hiệu quả đáng 
kể hơn các thuốc cũ như hexamethylmelamine [32] 
và ifosfamide [33] nhưng ít độc tính hơn hẳn. Tỷ lệ 
đáp ứng từ 15% đến 35%, kéo dài trung bình 3-4 
tháng và thời gian sống trung bình là tương đương 
các loại thuốc được báo cáo trước đó. Với nhóm 
bệnh nhân nhạy cảm platinum, chưa có thuốc mới 
vượt trội để thay thể platinum. Tuy nhiên, việc đưa 
vào tuần tự những thuốc mới với sự đa dạng các cơ 
chế hoạt động khác nhau có thể cải thiện sự sống 
cho bệnh nhân đang trải qua đợt tái phát đầu tiên. 
Bởi liệu trình tối ưu của các thuốc mới là chưa rõ, 
hầu hết các chuyên gia khuyên nên tiếp tục điều trị 
vô thời hạn đối với bệnh nhân có đáp ứng, trừ khi 
bị ngăn cản bởi độc tính.
5. Hóa trị liều cao củng cố 
sau điều trị có thuyên giảm 
trước đó 
Sau 6 đợt hóa trị và đạt sự thuyên giảm ban 
đầu, việc kéo dài thêm liệu pháp thông thường 
với các thuốc và liều tương tự không cải thiện tỷ 
lệ thời gian sống không bệnh (PFS) hay thời gian 
sống toàn bộ (OS) cho bệnh nhân ung thư buồng 
trứng [34,35]. Vấn đề phẫu thuật giảm khối lần 
II sau khi hoàn tất hóa trị ban đầu vẫn còn tiếp 
tục tranh cãi. Hóa trị liều cao khu trú hay liệu 
pháp đường phúc mạc có thể có giá trị cho một 
vài trường hợp. Với phương pháp điều trị tốt nhất 
hiện nay, bệnh nhân ở giai đoạn III tối ưu có thời 
gian PFS và OS lần lượt từ 20-26 và 42-50 tháng, 
và những người có giai đoạn III hoặc IV cận tối ưu 
có thời gian PFS và OS từ 16 đến 18 và 30 đến 
36 tháng [17,20,21]. Liệu pháp tối ưu, platinum 
tĩnh mạch hoặc trong phúc mạc và paclitaxel, và 
cyclophosphamide. Các thử nghiệm về điều trị 
duy trì với các thuốc mới, bao gồm paclitaxel, 
đang được tiến hành.
6. Hóa trị liều cao để điều trị 
ban đầu bệnh lý tiến triển
Bệnh nhân giai đoạn I, II có tiên lượng sống dài 
với điều trị thông thường và vì thế không xét đến 
cấy ghép tế bào gốc. Đối với bệnh tiến triển, điều trị 
ban đầu tối ưu bao gồm paclitaxel và dẫn xuất của 
platinum [17]. Các kết quả của thử nghiệm so sánh 
đầu tiên từ McGuire và cộng sự [17] cho thấy sự 
cải thiện cả PFS và OS là 5 tháng và 12 tháng đối 
với nhóm bệnh không tối ưu điều trị bằng cisplatin 
và paclitaxel so với cisplatin và cyclophosphamide.
Thử nghiệm tiến cứu tại Mỹ cho nhóm bệnh 
tương tự so sánh giữa cùng phác đồ cisplatin và 
paclitaxel đó với các thuốc đơn độc khác [36].Thời 
gian sống trung bình của nhóm kết hợp 2 thuốc là 
38 tháng trong thử nghiệm đầu và 29 tháng ở đợt 
sau. Một thử nghiệm kiểm định so sánh paclitaxel 
và cisplatin với cyclophosphamide và cisplatin, 
được tiến hành bởi một công ty đa quốc gia và 
cũng đã chứng minh ưu thế sống còn đối với sự 
phối hợp paclitaxel [37].
Kiểm soát tốt nhất cho bệnh lý giai đoạn 
III tối ưu có vẻ như là cisplatin phúc mạc và 
cyclophosphamide tĩnh mạch hay paclitaxel và 
cisplatin tiêm [20]; hoặc là sự phối hợp platinum 
phúc mạc và carboplatin , paclitaxel tĩnh mạch 
[21] dựa trên 2 nghiên cứu đã hoàn tất. Trong 
thử nghiệm đầu, bổ sung cyclophosphamide tĩnh 
mạch bên cạnh cisplatin tiêm hay phúc mạc được 
so sánh. Thời gian OS của nhóm liệu pháp phúc 
mạc l ... ệ sống sót lúc 60 tháng là 14% [48]. Stiff PJ, J 
Veum-Stone (2000) ,trong một nghiên cứu đa trung 
tâm trên 421 bệnh nhân được hoá trị liều cao kết 
hợp với ghép tế bào gốc tự thân giữa năm 1989 và 
1996 . Tỷ lệ sống sót 2 năm không tái phát là 12% 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 10 - 16, 2016
15
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Tài liệu tham khảo
1. Kuhn W, Rutke S, Spa t¨he K, Schmalfeldt B, Florack G, von Hundelshausen B, 
Pachyn D, Ulm K, Graeff H. (2001). Neoadjuvant chemotherapy followed by tumor 
debulking prolongs survival for patients with poor prognosis in International Federation 
of Gynecology and Obstetrics Stage IIIC ovarian carcinoma. Cancer, 92: 2585.
2. AllanCovens,M.D., MarkCarey,M.D (2002),”First-Line Chemotherapyf or 
Newly Diagnosed Post operative Patients with StageII,III, or IV Epithelial Ovarian 
Cancer”, GynecologicOncology 85, pp: 71–80 
3. Bertucci F, Viens P, Delpero JR, Bardou VJ, Faucher C, Houvenaeghel 
G, Maraninchi D(2000), High-dose melphalan-based chemotherapy and 
autologous stem cell transplantation after second look laparotomy in patients 
with chemosensitive advanced ovarian carcinoma: long-term results, SO Bone 
Marrow Transplant.;26(1):61. 112 
4. GIOVANNI D. ALETTI, MD (2007), “Current Management Strategies for 
Ovarian Cancer”, Mayo Clin Proc. 2007;82(6):751-770
5. Kayikçioglu F. et al (2001). Neoadjuvant chemotherapy or primary surgery 
in advanced epithelial ovarian cancer. International Journal of Gynecological 
Cancer, 11: 466 – 470.251. 
6. RussellJ.Schilder, Steven Johnson (1999), “Phase I Trial of Multiple Cycles 
of High-Dose Chemotherapy Supported by Autologous Peripheral-Blood Stem 
Cells” Jclin Oncol 17:2198-2207.
7. Raymond E, Hanauske A, Faivre S, et al. Effects of prolonged versus short-
term exposure paclitaxel (Taxol) on human tumor colonyforming units. Anticancer 
Drugs 1997;8:379–385.
8. Kotz KW, Schilder RJ. High-dose chemotherapy and hematopoietic progenitor 
cell support for patients with epithelial ovarian cancer. Semin Oncol 1995;22:250–262. 
9. Fennelly D. The role of high-dose chemotherapy in the management of 
advanced ovarian cancer. Curr Opin Oncol 1996;8:415–425. 
10. Alberts DS, Young L, Mason N, Salmon SE. in vitro evaluation of anticancer 
drugs against ovarian cancer at concentrations achievable by intraperitoneal 
administration. Semin Oncol 1985;12(Suppl 4):38–42. 
11. Andrews PA, Velurg S, Mann SC, et al. Cis-diamminedichloroplatinum (II) 
accumulation in sensitive and resistant ovarian carcinoma cells. Cancer Res 
1988;48:68–73. 
12. Beherns BC, Hamilton TC, Masuda H, et al. Characterization of a cisdiamine 
dichloroplatinum (II)-resistant human ovarian cancer cell line and its use in 
(CI, 9% đến 16%), và tỷ lệ sống sót chung sau 2 năm 
là 35% (CI, 30% đến 41%) [49]. Schilder RJ, Brady 
MF, Spriggs D, Shea T(2003) đánh đánh giá hiệu 
quả và an toàn của chu kỳ carboplatin và paclitaxel 
liều cao được hỗ trợ bởi các tế bào gốc tạo máu và 
các cytokine, ở những bệnh nhân trước đây đã được 
điều trị với giảm khối trong ung thư biểu mô buồng 
trứng giai đoạn III. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn bệnh lý 
là 12,5% (95% CI: 0,3-52,7%). Độc tính huyết học là 
nghiêm trọng nhưng được kiểm soát. 11 trong số 45 
chu kỳ (24,4%) bệnh nhân nhập viện với tình trạng 
mất nước và giảm bạch cầu trung tính, sốt, tiêu chảy, 
ngất xỉu, khó thở và đau thứ phát [50].
Với sự hỗ trợ của những tiến bộ về huyết học 
cho phép tăng liều hóa chất so với điều trị hỗ trợ 
cơ bản. Hóa trị liều cao kết hợp với truyền tế bào 
gốc tạo máu được nghiên cứu như một liệu trình 
hóa trị cơ bản ở những bệnh nhân ung thư buồng 
trứng tái phát. Có hai nghiên cứu pha II được tiến 
hành tại Mỹ, đánh giá hiệu quả của liệu trình hóa 
trị liều cao. Aghajanian và cộng sự đã công bố một 
nghiên cứu ban đầu trên 56 bệnh nhân được điều 
trị với hóa trị liều cao có hỗ trợ truyền tế bào gốc 
tạo máu ngoại vi. Họ đều sử dụng 3 chu kì liều cao 
carboplatin và một chu kì liều cao melphalan. Đáp 
ứng tối ưu trên 12/22 bệnh nhân (55%) [51,52].
 Mất hai thập kỉ để nghiên cứu tăng liều hóa 
chất trong điều trị ung thư buồng trứng đã nói lên 
rằng cần phải có các nghiên cứu ngẫu nhiên sớm 
để xác định và đánh giá phương pháp điều trị mới. 
Theo kinh điển, hóa trị liều cao bao gồm một đơn 
liều để củng cố và liều giải bằng truyền lại tế bào 
tủy xương. Những tiến bộ trong hỗ trợ tạo huyết, 
bao gồm sự phát triển của các yếu tố kích thích 
dòng tế bào (CSFs) và tế bào gốc máu ngoại vi 
đã giúp giảm độc tính, sự phức tạp và sự tiêu phí 
của việc điều trị. Những công cụ mới này cho phép 
bệnh nhân được điều trị nhiều đợt hóa trị liều cao 
ban đầu. Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy hóa trị lặp 
lại bằng một liều ngắn xen kẽ giúp cải thiện tính 
hiệu quả và các chỉ số điều trị so với điều trị đơn 
độc. Hơn nữa, đa số các khối u có những phần nhỏ 
tương đối phát triển kém, thuận lợi cho phác đồ 
hóa trị liều cao với các đợt lặp lại.
Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên sau này 
cho thấy lợi ích của liều cao platium so với liều cơ 
bản. Sự phát triển của một phác đồ điều trị đáp 
ứng tốt và an toàn với sử dụng đa liều hóa trị liều 
cao có hỗ trợ tế bào gốc sẽ được so sánh với điều 
trị cơ bản. Hơn nữa, ứng dụng này xây dựng một 
khuôn khổ để đưa ra các nhân tố mới trong điều trị 
kết hợp. Hóa trị liều cao với hỗ trợ tế bào tạo máu 
tự thân có thể dẫn đến sự thuyên giảm bệnh lâu dài 
và giúp điều trị ung thư buồng trứng.
Nói tóm lại, cho đến nay mặc dù đã có nhiều 
tiến bộ trong các lĩnh vực về y học kể cả phân tử, 
điều trị ung thư buồng trứng vẫn còn là vấn đề khó 
khăn. Nhiều phác đồ mới đã được đưa ra nghiên 
cứu nhằm kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân, nhất 
là ở các giai đoạn bệnh tiến triển.
NGUYỄN DUY THĂNG, LÊ SỸ PHƯƠNG, CHÂU KHẮC TÚ
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
16
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
evaluation of platinum analogs. Cancer Res 1987;47:414–418. 
13. Teicher B, Holden SA, Jones SM, Eder JP, Herman TS. Influence of 
scheduling in two-day combinations of alkylating agents in vivo . Cancer 
Chemother Pharmacol 1989;25:161–166. 
14. Lidor YJ, Shpall EJ, Peters WP, Bast RC. Synergistic cytotoxicity of different 
alkylating agents for epithelial ovarian cancer. Int J Cancer 1991;49:704–707. 
15. Ozols RF, Ostchego Y, Myers CE, Young RC. High-dose cisplatin in 
hypertonic saline in refractory ovarian cancer. J Clin Oncol 1985;3:1246–1250. 
16. Ozols RF, Ostchega Y, Curt G, Young RC. High-dose carboplatin in 
refractory ovarian cancer patients. J Clin Oncol 1987;5:197–201. 
17. McGuire WP, Hoskins WJ, Brady MF, et al. Cyclophosphamide and cisplatin 
compared with paclitaxel and cisplatin in patients with stage III and stage IV 
ovarian cancer. N Engl J Med 1996;334:16.
18. Kohn EC, Sarosy GA, Davis P, et al. A pilot study of cyclophosphamide, 
paclitaxel and cisplatin with granulocytecolony stimulating factor for newly 
diagnosed ovarian cancer patients. Gynecol Oncol 1996;62:181–191. 
19. Markman M. Intraperitoneal therapy of ovarian cancer. Semin Oncol 
1998;25:356–360. 
20. Alberts DS, Liu PY, Hannign EV, et al. Phase III study of intraperitoneal 
cisplatin and intravenous cyclophosphamide cersus intravenous cusplatin and iv 
cyclophosphamide in patients with optimal stage III ovarian cancer. N Engl J Med 
1996;335:1950–1955. 
21. Markman M, Bundy B, Benda J, et al. Randomized phase 3 study of 
intravenous (IV) cisplatin (CIS)/paclitaxed (PAC) versus moderately high dose IV 
carboplatin (CARB) followed by IV PAC and intraperitoneal (IP) CIS in optimal 
residual ovarian cancer (OC): an intergroup trial (GOG, SWOP, ECG). Proc Am 
Soc Clin Oncol 1998;17:361a. 
22. Lopez JA, Krikorian JG, Reich S, et al. Clinical pharmacology of intraperitoneal 
cisplatin. Gynecol Oncol 1985;20:1–9. 
23. Markman M, Reichman B, Hakes T, et al. Responses to second-line cisplatin-
based intraperitoneal therapy in ovarian cancer: influence of a prior response to 
intravenous cisplatin. J CLin Oncol 1991;9:1801–1805. 
24. Fennelly D, Schneider J, Spriggs D, et al. Dose escalation of paclitaxel with high 
dose cyclophosphamide with analysis of progenitor cell mobilization and hematologic 
support of advanced ovarian cancer patients receiving rapidly sequenced high-dose 
carboplatin/cyclophosphamide courses. J Clin Oncol 1995;13:1160–1166. 
25. Seltzer V, Vogl S, Kaplan B. Recurrent ovarian carcinoma: retreatment using 
combination chemotherapy including cis-diaminedichloroplatinum in patients 
previously responding to this agent. Gynecol Oncol 1985;21:167–176. 
26. Eisenhauer EA, Vermorken JB, van Glabbeke M. Predictors of response to 
subsequent chemotherapy in platinum pretreated ovarian cancer: A multivariate 
analysis of 704 patients. Ann Oncol 1997;8:963–968. 
27. Markman M, Rothman R, Hakes T, et al. Second-line platinum therapy in patients 
with ovarian cancer previously treated with cisplatin. J Clin Oncol 1991;9:389–393. 
28. Ten Bokkel Huinik W, Gore M, Carmichael J, et al. Topotecan vs paclitaxel for 
the treatment of recurrent epithelial ovarian cancer. J Clin Oncol 1997;15:2183–2193. 
29. Rose PG, Blessing JA, Mayer AR, Homesley HD. Prolonged oral etoposide 
as second-line therapy for platinum-resistant and platinum-sensitive ovarian 
carcinoma: a gynecologic oncology group study. J Clin Oncol 1998;16:405–410. 
30. Muggia FM, Hainsworth JD, Jeffers S, et al. Phase II study of liposomal 
doxorubicin in refractory ovarian cancer: Antitumor acitiviy and toxicity modification 
by liposomal encapsulation. J Clin Oncol 1997;15:987–993. 
31. Thigpen JT, Blessing JA, Ball H, et al. Phase II trial of paclitaxel in patients 
with progressive ovarian carcinoms after platinum based chemotherapy. A 
gynecologic oncology group study. J Clin Oncol 1994;12:1748–1753. 
32. Vergote I, Himmelmann A, Frankendal B, et al. Hexamethylmelamine 
as second line therapy in platinum-resistant ovarian cancer. Gynecol Oncol 
1992;47:282–286. 
33. Markman M, Hakes T, Reichman B, et al. Ifosfamide and mesna in previously 
treated advanced epithelial ovarian cancer: Activity in platinum-resistant disease. 
J Clin Oncol 1992;10:243–248. 
34. Kristensen GB, Trope C. Epithelial ovarian cancer. Lancet 1997;349:113–117. 
35. NIH consensus conference. Ovarian cancer: screening, treatment and followup. 
NIH consensus development on ovarian cancer. JAMA 1995;273:491–497. 
36. Muggia FM, Brally PS, Brady MF, et al. Phase III of cisplatin (P) or paclitaxel 
(T) versus their combination in suboptimal stage III and IV epithelial ovarian 
cancer (EOC): gynecologic oncology study group (GOG) study #132. Proceed 
Am Soc Clin Oncol 1997;16:352a. 
37. Piccart MJ, Bertelsen K, Stuart G, et al. Is cisplatinpaclitaxel (PT) the standard 
in first-line treatment of advanced ovarian cancer (OvCa)? the EORTCGCCG, 
NOCOVA, NCIC and Scottish intergroup experience. Proc Am Soc Clin Oncol 
1997;16:352a. 
38. Rubella J, Henriquez I, et al. High dose combination of carboplatin 
(CBDCA) and etoposide (VP16) followed by peripheral blood stem cell (PBSC) 
transplantation in the treatment of ovarian carcinoma. Proc Am Assoc Cancer 
Res 1991;32:172. 
39. Benedetti-Painica P, Greggi S, Scambia G, et al. Very high dose chemotherapy 
(VHDC) with autologous peripheral stem cell (APSC) as hematologic support (HS) 
in previously untreated advanced ovarian cancer (AOC). Proc Soc Gynecol Oncol 
1995:30. 
40. Mencichella G, Pereli L, Foddae, et al. Autologous blood stem cell harvesting 
and transplantation in patients with advanced ovarian cancer. Br J Haematol 
1991;79:444–450. 
41. Palmer PA, Schwartzberg L, Birch R, West W, Weaver CH. High dose 
melphalan ± mitoxantrone with peripheral blood progenitor cell support as a 
component of initial treatment of patiens with advanced ovarian cancer. Proc Am 
Soc Clin Oncol 1995;14:991. 
42. Fennelly D, Weisseiheit C, Schneider J, et al. Simultaneous dose escalation and 
schedule intensification of carboplatin-based chemotherapy using peripheral blood 
progenitor cells and filgrastim: a phase I trial. Cancer Res 1994;54:6137–6142. 
43. Shea T, Graham M, Steagall A, et al. Multiple cycles of high dose taxol plus 
carboplatin with GCSF and peripheral blood progenitor cell (PBPC) support. Proc 
Am Soc Clin Oncol 1994;14:395. 
44. Fennelly D, Schneider J, Spriggs D, et al. Dose escalation of paclitaxel 
with high dose cyclophosphamide with analysis of progenitor cell mobilization 
and hematologic support of advanced ovarian cancer patients receiving rapidly 
sequenced high-dose carboplatin/cyclophosphamide courses. J Clin Oncol 
1995;13:1160–1166. 
45. Wendt H, Birkmann J, Eckart-Schaefer K, et al. Sequential cycles of high-
dose chemotherapy supported by GCSF (filgrastim) mobilized peripheral blood 
progenitor cells (PBPC) in advanced ovarian cancer. A phase I/II dose escalation 
study for carboplatin. Proc Am Soc Clin Oncol 1997;16:92a. 
46. Schilder RJ, Shea TC. Multiple cycles of high dose chemotherapy for ovarian 
cancer. Semin Oncol 1998;25:349–355.
47. Stiff P, Bayer R, Camarda M, Tan S, Dolan J, Potkul R, Loutfi S, Kinch L, 
Sosman J, Peace D(1995), A phase II trial of high-dose mitoxantrone, carboplatin, 
and cyclophosphamide with autologous bone marrow rescue for recurrent 
epithelial ovarian carcinoma: analysis of risk factors for clinical outcome, SO 
Gynecol Oncol.;57(3):278
48. Lotz JP, Bouleuc C, André T, Touboul E, Macovei C, Hannoun L, Lefranc 
JP, Houry S, Uzan S, Izrael V(1996), Tandem high-dose chemotherapy 
with ifosfamide, carboplatin, and teniposide with autologous bone marrow 
transplantation for the treatment of poor prognosis common epithelial ovarian 
carcinoma,SO Cancer.;77(12):2550. 
49. Stiff PJ, Veum-Stone J, Lazarus HM, Ayash L, Edwards JR, Keating A, Klein 
JP, Oblon DJ, Shea TC, Thomé S, Horowitz MM, (2000), High-dose chemotherapy 
and autologous stem-cell transplantation for ovarian cancer: an autologous blood and 
marrow transplant registry report, SO Ann Intern Med.;133(7):504
50. Schilder RJ, Brady MF, Spriggs D, Shea T (2003), Pilot evaluation of high-
dose carboplatin and paclitaxel followed by high-dose melphalan supported by 
peripheral blood stem cells in previously untreated advanced ovarian cancer: a 
gynecologic oncology group study, SO Gynecol Oncol.;88(1):3.117 
51. Donato ML, Aleman A, Champlin RE, Saliba RM, Wharton JT, Burke TW, 
Bodurka DC, Bevers MW, Levenback CF, Wolf JK, Bast RC, Freedman RS, Ippoliti 
C, Brewer M, Gajewski JL, Gershenson D,(2004)M , Analysis of 96 patients with 
advanced ovarian carcinoma treated with high-dose chemotherapy and autologous 
stem cell transplantation. SO Bone Marrow transplant; 33(12):1219. 118 
52. AllanCovens,M.D., MarkCarey,M.D (2002),”First-Line Chemotherapyf or 
Newly Diagnosed Post operative Patients with StageII,III, or IV Epithelial Ovarian 
Cancer”, GynecologicOncology 85, pp: 71–80.

File đính kèm:

  • pdfhoa_chat_lieu_cao_va_cay_ghep_te_bao_goc_tao_mau_tu_than_tro.pdf