Hỗ trợ sinh sản dưới góc nhìn kinh tế sức khỏe: chi phí và khả năng tiếp cận điều trị

Hỗ trợ sinh sản đã trở thành giải pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân

vô sinh hiếm muộn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản. Bên

cạnh hiệu quả điều trị thì chi phí và khả năng tiếp cận điều trị của bệnh

nhân là điều cần quan tâm trong bối cảnh nhu cầu điều trị ngày càng gia

tăng. Tuy vậy, các đánh giá cũng như nghiên cứu từ góc độ kinh tế trong

hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế. Bài viết này tổng hợp

một số dữ liệu liên quan vấn đề kinh tế sức khỏe trong lĩnh vực điều trị vô

sinh hiếm muộn, gắn liền với bối cảnh trong và ngoài nước

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hỗ trợ sinh sản dưới góc nhìn kinh tế sức khỏe: chi phí và khả năng tiếp cận điều trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hỗ trợ sinh sản dưới góc nhìn kinh tế sức khỏe: chi phí và khả năng tiếp cận điều trị

Hỗ trợ sinh sản dưới góc nhìn kinh tế sức khỏe: chi phí và khả năng tiếp cận điều trị
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
17
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 17 - 21, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
Nguyễn Thị Phương Dung 
Bệnh viện Mỹ Đức Phú Nhuận
HỖ TRỢ SINH SẢN
DƯỚI GÓC NHÌN KINH TẾ SỨC KHỎE:
CHI PHÍ VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Thị Phương Dung,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/08/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
30/08/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, kinh 
tế sức khỏe, chi phí điều trị, 
tiếp cận điều trị vô sinh.
Keywords: assisted 
reproduction, health 
economics, cost, access to 
infertility treatment.
Tóm tắt
Hỗ trợ sinh sản đã trở thành giải pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân 
vô sinh hiếm muộn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản. Bên 
cạnh hiệu quả điều trị thì chi phí và khả năng tiếp cận điều trị của bệnh 
nhân là điều cần quan tâm trong bối cảnh nhu cầu điều trị ngày càng gia 
tăng. Tuy vậy, các đánh giá cũng như nghiên cứu từ góc độ kinh tế trong 
hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế. Bài viết này tổng hợp 
một số dữ liệu liên quan vấn đề kinh tế sức khỏe trong lĩnh vực điều trị vô 
sinh hiếm muộn, gắn liền với bối cảnh trong và ngoài nước. 
Từ khóa: hỗ trợ sinh sản, kinh tế sức khỏe, chi phí điều trị, tiếp cận 
điều trị vô sinh.
Abstract 
ECONOMIC ASPECTS OF ASSISTED REPRODUCTION: 
COST AND ACCESS TO IVF TREATMENT
Assisted reproduction has become the effective treatment for infertility, 
which meets the demand for reproductive health care. In addition to clinical 
efficacy, cost and access to infertility treatment should be considered in 
case of rising treatment demand. However, there are limited studies of 
health economics in the field of assisted reproduction in Vietnam. This is a 
review of economic aspects of infertility treatment in the situation of foreign 
countries and Vietnam.
Key words: assisted reproduction, health economics, cost, access to 
infertility treatment.
1. Giới thiệu
Khả năng sinh sản là yếu tố quan trọng trong chăm sóc sức khỏe sinh 
sản. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nhận định tình trạng mất khả năng 
sinh sản tự nhiên (vô sinh) là một vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu. 
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
18
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Theo định nghĩa của WHO và Hội đồng Giám sát 
các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Mỹ (ICMART) thì vô 
sinh là tình trạng không có thai khi quan hệ tình 
dục đều đặn mà không áp dụng bất kỳ biện pháp 
tránh thai nào trong ít nhất một năm[1]. Điều trị hỗ 
trợ sinh sản (HTSS) hay thụ tinh trong ống nghiệm 
(IVF - in vitro fertilization) trở thành giải pháp nhân 
văn mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho các 
trường hợp vô sinh hoặc không thể có con theo 
cách tự nhiên. Theo thời gian, nhu cầu tiếp cận với 
các biện pháp HTSS (hay điều trị vô sinh) trên toàn 
thế giới ngày càng tăng, với tần suất vô sinh dao 
động từ 6% đến 24%. Theo thống kê, 8-18% nam 
giới và 12% nữ giới cần can thiệp HTSS tại một thời 
điểm nào đó trong đời[2].
Thực tế, điều trị HTSS là một quá trình không 
những tổn hao chi phí mà còn có tác động đến sức 
khỏe tinh thần của bệnh nhân và đời sống kinh tế 
xã hội của cả cộng đồng, đặc biệt là ở các quốc 
gia đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, việc 
nhìn nhận công tác điều trị HTSS dưới góc độ kinh 
tế vô cùng cần thiết nhằm cung cấp thêm dữ liệu 
cho công tác tư vấn của nhân viên y tế, cũng như 
xây dựng chính sách liên quan đến lĩnh vực HTSS. 
Tại Việt Nam hiện nay, đánh giá tác động của chi 
phí đến khả năng tiếp cận điều trị HTSS vẫn còn 
khá mới mẻ và cần được quan tâm. Bài viết này 
nhằm tổng hợp dữ liệu có liên quan đến vấn đề này 
từ một số quốc gia trên thế giới và liên hệ với tình 
hình trong nước, làm cơ sở định hướng cho nghiên 
cứu sâu hơn trong tương lai.
2. Xu hướng gia tăng nhu 
cầu điều trị hỗ trợ sinh sản
Từ thành công đầu tiên của IVF vào năm 1978 
(sự ra đời của Louise Brown tại Anh) đến cuối năm 
2013, ước tính có hơn 5 triệu trẻ ra đời từ IVF trên 
toàn thế giới. Tại các nước có hệ thống y tế công 
phát triển, khoảng 2-3% trẻ sinh mỗi năm là kết 
quả của điều trị IVF, con số này thậm chí còn tăng 
đến 5% tại Đan Mạch và Bỉ[3]. Nhu cầu điều trị 
HTSS gia tăng phản ánh xu hướng sinh con muộn 
và các tác động liên quan đến tuổi, sự gia tăng của 
béo phì và các bệnh lây truyền qua đường tình dục 
cũng như nhận thức, thành công và sự chấp nhận 
của cộng đồng đối với các kỹ thuật HTSS[4]. 
Tại Việt Nam, điều trị HTSS áp dụng thành công 
đầu tiên vào năm 1997 tại Bệnh viện Từ Dũ. Trải 
qua 20 năm phát triển, cả nước hiện có khoảng 30 
trung tâm HTSS và vẫn còn đang gia tăng nhanh 
chóng theo thống kê của Hội Nội tiết sinh sản và 
Vô sinh TPHCM. Theo ước tính, hiện có hơn 40.000 
trẻ sinh ra từ IVF tại Việt Nam. Mỗi năm, cả nước 
thực hiện gần 20.000 chu kỳ điều trị IVF. Đồng 
thời, nhờ tỉ lệ thành công và uy tín chuyên môn 
ngày càng cao, Việt Nam đã thu hút không ít bệnh 
nhân từ nước ngoài đến điều trị, với con số ước tính 
khoảng 1.000 chu kỳ mỗi năm. 
3. Vai trò của kinh tế sức 
khỏe trong hỗ trợ sinh sản 
Mặc dù nhu cầu điều trị IVF gia tăng trên phạm 
vi toàn cầu, việc ứng dụng nền tảng kinh tế học 
trong hướng dẫn thực hành lâm sàng cũng như 
công tác xây dựng chính sách y tế liên quan, đặc 
biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt 
Nam vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, sự can thiệp của 
kinh tế học sức khỏe cũng như việc xây dựng chính 
sách trong HTSS có nhiều đặc thù khác biệt so với 
các hướng điều trị khác trong lĩnh vực chăm sóc 
sức khỏe. Khác biệt này xuất phát từ việc HTSS 
giúp tạo nên mầm sống mới, con người mới trong 
khi các can thiệp điều trị khác giúp cứu người, gia 
tăng hoặc cải thiện chất lượng cuộc sống. Hơn 
nữa, HTSS có liên quan đến đạo lý, đạo đức và 
tín ngưỡng nên khó đo lường và đánh giá bởi các 
phương pháp kinh tế. Tuy nhiên, nền tảng kinh tế 
trong HTSS đặc biệt quan trọng chính vì sự gia 
tăng nhanh chóng và khả năng áp dụng rộng rãi 
của kỹ thuật này trên toàn thế giới. Ngoài ra, vấn 
đề tài chính trong HTSS còn có tác động sâu xa 
đến sự tiếp cận điều trị và sau cùng là sức khỏe của 
trẻ được sinh ra sau điều trị IVF[4].
4. Chi phí điều trị IVF và khả 
năng tiếp cận điều trị của 
người dân
Chi phí điều trị IVF bao gồm chi phí trực tiếp 
(chi trả trực tiếp cho việc điều trị) và chi phí gián 
tiếp (chi phí liên đới đến hệ quả của điều trị). Chi 
phí điều trị trực tiếp bao gồm phí khám - tư vấn, 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
19
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 17 - 21, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
thuốc kích thích noãn phát triển, dịch vụ tạo phôi 
và xét nghiệm, siêu âm, thủ thuật thu nhận noãn, 
chuyển phôi, lưu trữ phôi, bù đắp cho đối tượng thứ 
3 (người cho tinh trùng, trứng, phôi, người mang 
thai hộ), viện phí, phí dịch vụ chăm sóc, dịch vụ tư 
vấn, phí quản lý, vận hành. Trong khi đó, chi phí 
gián tiếp thường liên quan đến điều trị biến chứng 
sau HTSS (như hội chứng quá kích buồng trứng), 
chi phí bệnh nhân đi lại khi điều trị, chi phí cơ hội 
khi nghỉ việc và đặc biệt chiếm nhiều nhất là chi 
phí cho việc chăm sóc sản khoa của trường hợp đa 
thai sau điều trị IVF. Theo thống kê, tỉ lệ đa thai sau 
điều trị IVF lần lượt chiếm đến 31%, 22% và 10% 
tại Mỹ, Châu Âu và Úc. Trong khi kết quả lâm sàng 
của đa thai được miêu tả chi tiết thì phần chi phí 
gián tiếp sau điều trị IVF liên quan đến chăm sóc 
mẹ và thai nhi ít được chú ý. Tuy nhiên, ước tính 
chi phí chăm sóc đa thai có thể vượt mức cả chi phí 
điều trị IVF[4]. Mặc dù trên lý thuyết, các chi phí 
gián tiếp được xem là chi phí cơ hội và hiếm được 
định lượng trong thị trường không hoàn hảo như thị 
trường chăm sóc sức khỏe, nơi có mức độ phúc lợi 
đan xen, chi phí chồng chéo và có sự điều tiết của 
thị trường. Trên phương diện xã hội, chi phí điều trị 
bao gồm cả phần phí trực tiếp và gián tiếp không 
kể đến ai là người gánh chịu. Trong khi đó, chi phí 
điều trị dưới góc độ của bệnh nhân thường đề cập 
đến giá trị phải chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp[5].
Chi phí điều trị IVF trực tiếp có sự dao động lớn 
giữa các quốc gia. Theo thống kê trên 32 quốc gia 
có thu nhập trung bình và cao thì chi phí điều trị 
IVF trực tiếp khi không có hỗ trợ của nhà nước trung 
bình là 4.950 USD/chu kỳ điều trị, với khoảng dao 
động là 1.800-13.000 USD/chu kỳ. Chi phí điều 
trị IVF phản ánh theo mức chi phí dành cho y tế 
của một quốc gia. Ví dụ, Mỹ là quốc gia có chi tiêu 
dành cho y tế cao nhất thế giới tính trên phần trăm 
chi tiêu cho y tế trong tổng thu nhập quốc gia thì 
chi phí điều trị IVF tại Mỹ cũng đắt nhất thế giới. 
Tuy nhiên, do có sự dao động về nguồn quỹ hỗ trợ 
cho điều trị IVF giữa các quốc gia cũng như trong 
nội bộ từng nước nên phần phí thực trả của bệnh 
nhân có thể giảm nhiều sau khi hưởng phúc lợi. 
Nguồn tài chính công dành cho điều trị IVF khác 
nhau giữa các quốc gia, từ không chi trả như ở Mỹ 
và một số nước phát triển khác cho tới chi trả hoàn 
toàn trong một số giới hạn chu kỳ điều trị ở hầu hết 
các nước Châu Âu và hỗ trợ một phần thông qua 
đồng chi trả như ở Úc[5].
Gánh nặng chi phí điều trị IVF đối với bệnh 
nhân thể hiện qua mức độ chi trả phúc lợi của nhà 
nước, bên bảo hiểm và phần thu nhập sẵn có để chi 
trả của người dân. Chỉ khi các yếu tố này kết hợp 
với nhau tại một quốc gia nhất định thì khả năng 
chi trả tương đối cho điều trị IVF dưới góc độ bệnh 
nhân mới có thể được so sánh. Khoản chi trả cho 
điều trị IVF của người dân giữa các quốc gia, thậm 
chí là trong nội bộ từng nước chênh lệch nhiều do 
sự khác biệt trong chính sách hỗ trợ chi phí điều trị. 
Ví dụ, tại các bang của Mỹ không có nguồn quỹ 
hỗ trợ cho IVF thì chi phí phải trả cho điều trị IVF 
của người dân chiếm 52% thu nhập sau thuế so với 
con số tương đương 13% tại các bang có nguồn hỗ 
trợ. Điều này tạo nên rào cản tài chính đáng kể cho 
việc tiếp cận điều trị của người dân giữa các nơi có 
chính sách hỗ trợ khác nhau[5].
Nhìn từ góc độ xã hội, chi phí trực tiếp của điều 
trị IVF không những liên quan đến chi phí trên từng 
chu kỳ IVF mà còn liên quan đến gói điều trị ở từng 
quốc gia và phần chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe. 
Trong một tổng hợp của Chambers và cộng sự tại 
các quốc gia phát triển và có nguồn tài chính công 
hỗ trợ như Úc và các nước Bắc Âu thì điều trị IVF 
chiếm không quá 0,25% tổng chi tiêu cho chăm sóc 
sức khỏe. Trong khi đó, chi tiêu cho điều trị IVF tại 
Mỹ chiếm khoảng 0,06% chi tiêu cho chăm sóc sức 
khỏe và con số này có sự dao động lớn giữa các 
bang. Như vậy, chi phí điều trị IVF có thể đắt đỏ 
nếu đánh giá trên cá nhân, nhưng nó không đáng 
kể khi nhìn nhận dưới góc độ chăm sóc sức khỏe 
của một quốc gia. Đây là kết luận rút từ các phân 
tích về chi phí trong điều trị IVF của các dự án bảo 
hiểm y tế[4].
Trong khi đó, tại các quốc gia đang phát triển 
thì điều trị IVF chưa được xem trọng trong bối cảnh 
dân số còn gia tăng và chính phủ đang tập trung 
vào giải quyết nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản. 
Mặc dù vậy, tỉ lệ vô sinh ở các quốc gia này ước 
tính vẫn tương tự như các quốc gia đang phát triển, 
khoảng 9%. Đặc biệt, tình trạng vô sinh ở các quốc 
gia đang phát triển thường là vô sinh thứ phát do 
hậu quả của viêm nhiễm cơ quan sinh dục hoặc 
các bệnh lây lan qua đường tình dục[5]. Hơn nữa, 
tại các quốc gia này, con cái được xem là nguồn 
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
20
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
lao động chính trong tương lai để chăm lo không 
những vấn đề kinh tế và còn là chỗ dựa tinh thần 
cho thế hệ cha mẹ, ông bà[6]. Điều này trở thành 
văn hóa thấm sâu vào ý thức cộng đồng. Do đó, 
áp lực vô sinh tại các quốc gia đang phát triển 
gây khó khăn không những về kinh tế mà còn ảnh 
hưởng đến tâm lý xã hội. Trong khi nguồn lực của 
Nhà nước đang tập trung vào vấn đề chăm sóc 
sức khỏe cơ bản, chi phí điều trị IVF gần như do 
người dân chi trả hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, 
việc điều trị IVF với chi phí thấp thường được các 
tổ chức chăm sóc sức khỏe chú trọng nhằm giảm 
gánh nặng chi phí cho bệnh nhân và tạo điều kiện 
cho người dân tiếp cận điều trị. Tuy nhiên, việc cắt 
giảm chi phí đồng nghĩa với việc cân nhắc giảm 
sử dụng thuốc, đơn giản quy trình điều trị, đầu tư 
trang thiết bị điều trị ở mức giá thấp, chi phí lao 
động thấp mà vẫn đảm bảo tỉ lệ điều trị thành 
công và an toàn cho bệnh nhân trở thành bài toán 
khó tại các quốc gia này. 
Xét về phương diện công bằng trong chăm sóc 
sức khỏe thì nhu cầu điều trị IVF chưa được đáp 
ứng đầy đủ. Theo thống kê toàn cầu, điều trị IVF 
chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu ở các nước 
phát triển, ít hơn 20%. Trong khi ở các quốc gia 
đang phát triển, chỉ dưới 10% nhu cầu điều trị IVF 
được đáp ứng. Chi phí điều trị IVF ở các quốc gia 
đang phát triển cao hơn 50% so với thu nhập của 
người dân là yếu tố chính cản trở người dân tiếp 
cận điều trị[7]. 
Tại Việt Nam, chi phí điều trị IVF có sự dao 
động giữa các vùng miền qua các năm tùy theo 
sự phát triển của kỹ thuật điều trị, gói điều trị cho 
bệnh nhân. Hiện dữ liệu thống kê trong điều trị 
IVF cũng chưa được quản lý chặt chẽ và báo cáo 
đầy đủ giữa các đơn vị HTSS và cơ quan quản lý. 
Tuy nhiên, theo ước tính của các chuyên gia trong 
lĩnh vực IVF thì chi phí điều trị trực tiếp dao động 
trong khoảng 60 triệu đến 100 triệu đồng/chu kỳ. 
Ngoài ra, các chi phí gián tiếp trong điều trị IVF 
ở Việt Nam hiện vẫn còn là một ẩn số lớn và liệu 
nó có phải là nguồn gốc gây cản trở việc tiếp cận 
điều trị hơn nhiều so với con số quan sát được hay 
không vẫn chưa được giải đáp. 
Gần đây, nghiên cứu phân tích hiệu quả chi 
phí của phương án điều trị IVF chỉ chuyển phôi trữ 
lạnh so với phương án điều trị IVF có chuyển phôi 
tươi ở nhóm bệnh nhân không có hội chứng buồng 
trứng đa nang điều trị tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản, 
Bệnh viện Mỹ Đức (IVFMD) cho thấy chi phí điều 
trị trung bình của bệnh nhân dao động quanh 100 
triệu đồng/chu kỳ. Kết quả nghiên cứu này cũng 
cho thấy phương án điều trị IVF có chuyển phôi 
tươi đạt hiệu quả chi phí cao hơn so với phương án 
chỉ chuyển phôi trữ lạnh. Đặc biệt, chi phí điều trị 
trực tiếp không liên quan đến y tế và chi phí điều trị 
gián tiếp chiếm khoảng 45-52% tổng chi phí của 
một chu kỳ điều trị. Đồng thời, chi phí điều trị IVF 
trong trường hợp sinh đôi cao hơn khoảng 1,28 lần 
so với trường hợp sinh một bé (khoảng 124 triệu 
đồng so với khoảng 96 triệu đồng)[8]. Như vậy, 
nếu chỉ nhìn trên mức chi phí trực tiếp trung bình 
so với thu nhập bình quân đầu người Việt Nam là 
2.164 USD, tương đương khoảng 50,5 triệu đồng 
(dữ liệu từ báo cáo kinh tế toàn cầu của Quỹ tiền tệ 
quốc tế - IMF vào tháng 03/2017) thì chi phí điều 
trị một chu kỳ IVF hiện đã vượt 100% thu nhập đầu 
người. Đặc biệt, người dân phải hoàn toàn chi trả 
từ túi tiền của mình cho việc điều trị IVF. Điều đó 
cho thấy gánh nặng chi phí khi điều trị IVF hiện 
rất lớn và khả năng tiếp cận điều trị IVF của người 
dân Việt Nam được dự đoán hiện rất thấp. Hiện 
vẫn chưa đủ số liệu đánh giá để thấy được mức độ 
ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội cũng như 
làm cơ sở xây dựng chính sách hướng tới việc cải 
thiện công bằng trong điều trị IVF dưới góc độ kinh 
tế xã hội. Ngoài ra, tác động chi phí điều trị IVF 
đến cuộc sống người dân sau điều trị, kể cả trường 
hợp thành công hay thất bại, hiện vẫn chưa được 
đánh giá. 
Theo phát biểu trên truyền thông gần đây của 
thứ trưởng Bộ Y tế Việt Nam, ông Nguyễn Viết 
Tiến, Bộ Y tế sẽ hướng đến áp dụng bảo hiểm y tế 
(BHYT) cho điều trị IVF trong thời gian tới. Đây là 
một tín hiệu đáng mừng cho người dân, giúp giảm 
số tiền túi chi tiêu cho điều trị IVF. Tuy nhiên, điều 
này cũng tạo thách thức cho cả cơ quan BHYT, các 
cơ sở HTSS và các bên liên quan trong việc duy trì 
sự cân bằng nguồn quỹ cũng như đảm bảo khả 
năng người dân tiếp cận điều trị IVF an toàn, hiệu 
quả và hiệu suất. Bởi vì chi phí và khả năng chi trả 
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiếp cận 
điều trị nên việc làm rõ mối liên hệ giữa giá cả và 
nhu cầu điều trị (sự co giãn cầu theo giá) trong 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
21
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 17 - 21, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
HTSS sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng 
chính sách tài chính can thiệp vào lĩnh vực HTSS tại 
Việt Nam trong thời gian tới.
5. Kết luận
Bên cạnh các tranh luận trên khía cạnh điều trị 
lâm sàng, nền tảng khoa học, đạo lý trong điều 
trị HTSS, yếu tố kinh tế trong HTSS đã và đang trở 
thành vấn đề thu hút sự quan tâm, đánh giá của các 
nhà chuyên môn nhằm tạo nên một cơ chế tài chính 
phù hợp để người dân tiếp cận điều trị IVF công 
bằng, an toàn, hiệu quả và hiệu suất cao. Chi tiêu 
cho điều trị IVF của người dân có sự dao động lớn 
giữa các quốc gia trên thế giới, tùy thuộc vào phần 
chi tiêu cho sức khỏe theo thu nhập và chính sách 
phúc lợi xã hội dành cho điều trị IVF. Sự khác biệt 
về chi phí này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận 
điều trị của người dân cũng như phương thức điều 
trị IVF; cuối cùng, tác động đến sức khỏe của trẻ 
sinh ra từ HTSS[5]. Điều trị IVF ngày nay không chỉ 
dừng lại ở việc giúp ra đời các em bé khỏe mạnh, 
mang lại hạnh phúc làm cha, làm mẹ cho các gia 
đình mà còn phải quan tâm đến việc duy trì nền 
tảng kinh tế gia đình, giúp nuôi dưỡng, giáo dục trẻ 
trưởng thành. Nhìn trên phương diện này, sự can 
thiệp của tài chính công giúp người dân tiếp cận 
điều trị IVF sẽ mang lại phúc lợi xã hội không những 
trong hiện tại mà còn duy trì đến tương lai. Qua 20 
năm phát triển, IVF Việt Nam cần được nhìn nhận 
từ góc độ kinh tế để tạo nền tảng cho sự phát triển 
bền vững trong tương lai. Để kết lại bài viết này, tôi 
xin trích dẫn một nhìn nhận tâm đắc từ góc độ kinh 
tế xã hội đối với IVF “tất cả trẻ em xứng đáng được 
có một khởi đầu tốt đẹp nhất, bao gồm cả trẻ sinh 
ra từ IVF, đối tượng đang bị tác động của các quyết 
định chính sách và áp lực thị trường thậm chí trước 
khi sự sống được ươm mầm” [5]. 
Tài liệu tham khảo
1. Datta J, Palmer MJ,Tanton C, Gibson LJ, Jones KG, Macdowall W, 
Glasier A, Sonnenberg P, Field N, Mercer CH, Johnson AM and Wellings 
K. Prevalence of infertility and help seeking among 15 000 women and 
men. Human Reproduction 2016 September 1; 31(9):2108-18.
2. Wu Alex K, Odisho Anobel Y, Washington Samuel L, Katz Patricia 
P, Smith James F. Out-of-pocket fertility patient expense: data from a 
multicenter prospective infertility cohort. The Journal of urology 2014 
February; 191(2):427-32.
3. Kamphuis Esme I, Bhattacharya S, Veen F van der, Mol BWJ, 
Templeton A. Are we overusing IVF? BMJ: British Medical Journal 
(Online) 2014; 348.
4. Connolly Mark P, Hoorens Stijn and Chambers Georgina M. The costs 
and consequences of assisted reproductive technology: an economic 
perspective. Human reproduction update 2010 November 1; 16(6):603-13.
5. Chambers Georgina M, Adamson G David, Marinus JC. Eijkemans. 
Acceptable cost for the patient and society. Fertility and sterility 2013 
August; 100(2):319-27.
6. Wiersema Nicole J, Drukker Anouck J, Mai Dung Ba Tien, Huynh Nhu 
Giang, Nguyen Nhu Thanh and Lambalk Cornelis B. Consequences of 
infertility in developing countries: results of a questionnaire and interview 
survey in the South of Vietnam. Journal of Translational Medicine. 2006 
December 27; 4(1):54. 
7. Vayena E, Peterson HB, Adamson D, Nygren KG. Assisted 
reproductive technologies in developing countries: are we caring yet? 
Fertility and sterility 2009 August; 92(2):413-16.
8. Le Khoa D, Vuong Lan N, Ho Tuong M, Dang Vinh Q, Pham Toan 
D, Pham Clarabelle T, Norman Robert J and Mol Ben Willem J. A cost-
effectiveness analysis of freeze-only or fresh embryo transfer in IVF of non-
PCOS women. Human Reproduction 2018 August 24; 33(10):1907-14.

File đính kèm:

  • pdfho_tro_sinh_san_duoi_goc_nhin_kinh_te_suc_khoe_chi_phi_va_kh.pdf