Hiệu quả và sự chấp nhận dụng cụ ring pessary trong điều trị sa sinh dục tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: 1) Nghiên cứu hiệu quả và tác dụng không mong muốn của

dụng cụ Ring Pessary trong điều trị sa sinh dục và 2) Đánh giá sự chấp

nhận của phụ nữ đặt dụng cụ Ring Pessary trong điều trị sa sinh dục tại

Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối

chứng trên 30 đối tượng được chẩn đoán sa sinh dục tại Bệnh viện Phụ

Sản Trung ương từ 9/2015 đến 9/2016.

Kết quả: sau 6 tháng sử dụng dụng cụ, điểm mức độ triệu chứng âm đạo

theo bộ câu hỏi ICIQ-VS giảm từ 24 ± 7,7 xuống 0,6 ± 1,2; điểm mức độ

ảnh hưởng đến sinh hoạt tình dục và chất lượng cuộc sống giảm lần lượt

từ 43,9 ± 18,5 xuống 15,2 ± 6,3; và từ 8,4 ± 1,1 xuống 0,7 ± 0,9 (p<>

Sau 6 tháng 100% đã khỏi hẳn các triệu chứng rối loạn đại, tiểu tiện. Tỷ

lệ thành công (đẩy được khối sa lên mà không gây đau tức; không gây bế

tắc; không gây viêm, loét niêm mạc âm đạo) sau 1, 3, và 6 tháng lần lượt là

56,7%, 51,9% và 44,4%. Tác dụng không mong muốn phổ biến nhất bao

gồm: xung huyết (44,4%); tăng tiết dịch (40,7%). Sau 6 tháng, 90% muốn

tiếp tục sử dụng, 93,3% cảm thấy hài lòng và rất hài lòng với dụng cụ RP.

Kết luận: Dụng cụ Ring Pessary giúp giảm đáng kể các triệu chứng

âm đạo và ảnh hưởng đến tình dục và chất lượng cuộc sống; loại bỏ

hoàn toàn các rối loạn đại-tiểu tiện. Đại đa số phụ nữ chấp nhận và hài

lòng với dụng cụ.

pdf 7 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả và sự chấp nhận dụng cụ ring pessary trong điều trị sa sinh dục tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả và sự chấp nhận dụng cụ ring pessary trong điều trị sa sinh dục tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Hiệu quả và sự chấp nhận dụng cụ ring pessary trong điều trị sa sinh dục tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
LÊ HOÀI CHƯƠNG, LƯƠNG THỊ THU, NGUYỄN THÙY TRANG
112
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
Lê Hoài Chương, Lương Thị Thu, Nguyễn Thùy Trang 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
HIỆU QUẢ VÀ SỰ CHẤP NHẬN DỤNG CỤ
RING PESSARY TRONG ĐIỀU TRỊ SA SINH DỤC
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lương Thị Thu, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: dụng cụ Ring Pessary, 
sa sinh dục, hiệu quả, triệu 
chứng, mức độ ảnh hưởng.
Keywords: Ring Pessary, 
genital prolaps, effectiveness, 
symptoms, impact.
Tóm tắt
Mục tiêu: 1) Nghiên cứu hiệu quả và tác dụng không mong muốn của 
dụng cụ Ring Pessary trong điều trị sa sinh dục và 2) Đánh giá sự chấp 
nhận của phụ nữ đặt dụng cụ Ring Pessary trong điều trị sa sinh dục tại 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối 
chứng trên 30 đối tượng được chẩn đoán sa sinh dục tại Bệnh viện Phụ 
Sản Trung ương từ 9/2015 đến 9/2016. 
Kết quả: sau 6 tháng sử dụng dụng cụ, điểm mức độ triệu chứng âm đạo 
theo bộ câu hỏi ICIQ-VS giảm từ 24 ± 7,7 xuống 0,6 ± 1,2; điểm mức độ 
ảnh hưởng đến sinh hoạt tình dục và chất lượng cuộc sống giảm lần lượt 
từ 43,9 ± 18,5 xuống 15,2 ± 6,3; và từ 8,4 ± 1,1 xuống 0,7 ± 0,9 (p<0,001). 
Sau 6 tháng 100% đã khỏi hẳn các triệu chứng rối loạn đại, tiểu tiện. Tỷ 
lệ thành công (đẩy được khối sa lên mà không gây đau tức; không gây bế 
tắc; không gây viêm, loét niêm mạc âm đạo) sau 1, 3, và 6 tháng lần lượt là 
56,7%, 51,9% và 44,4%. Tác dụng không mong muốn phổ biến nhất bao 
gồm: xung huyết (44,4%); tăng tiết dịch (40,7%). Sau 6 tháng, 90% muốn 
tiếp tục sử dụng, 93,3% cảm thấy hài lòng và rất hài lòng với dụng cụ RP. 
Kết luận: Dụng cụ Ring Pessary giúp giảm đáng kể các triệu chứng 
âm đạo và ảnh hưởng đến tình dục và chất lượng cuộc sống; loại bỏ 
hoàn toàn các rối loạn đại-tiểu tiện. Đại đa số phụ nữ chấp nhận và hài 
lòng với dụng cụ.
Từ khóa: dụng cụ Ring Pessary, sa sinh dục, hiệu quả, triệu chứng, 
mức độ ảnh hưởng.
Abstract 
EFFECTIVENESS OF RING PESSARY IN 
TREATMENT OF GENITAL PROLAPS AT THE 
HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY 
Objectives: 1) To study the effectiveness and side effects of the Ring 
Pessary in treatment of genital prolaps and 2) to assess the acceptability 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 112 - 118, 2017
113
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
among women using the Ring Pessary in treatment of genital prolaps at the National Hospital of 
Obstetrics and Gynecology. 
Subjects and Method: Clinical trial without control among 30 subjects diagnosed with genital prolaps 
at the National Hospital of Obstetrics and Gynecology from Sept. 2015 to Sept. 2016. 
Results: after 6 months of use, the ICIQ-VS score for severity of vaginal symptoms decreased from 
24 ± 7.7 to 0.6 ± 1.2; score for level of impact on sexual activity and quality of life declined from 43.9 
± 18.5 to 15.2 ± 6.3; and 8.4 ± 1.1 to 0.7 ± 0.9 (p<0.001); respectively. After 6 months, all (100%) are 
completely free of defecation and mictional disturbances. The success rate (lifting the prolaps without 
pain, vaginal inflammation, ulcers, no congestion or increased vaginal discharge or fibrous tissue) after 
1, 3, and 6 months was 56.7%, 51.9% and 44.4%, respectively. The most common side effects were: 
congestion (44.4%); increased vaginal discharge (40.7%); fibrous tissue (18.5%). After 6 months, 90% 
want to continue, 93.3% felt satisfied or highly satisfied with the device. 
Conclusion: The Ring Pessary helped significantly decrease the severity of symptoms and 
level of impact on sexual activity and quality of life; completely eliminate defecation and mictional 
disturbances. The vast majority of women accepted and was satisfied with the device.
Keywords: Ring Pessary, genital prolaps, effectiveness, symptoms, impact
1. Đặt vấn đề
Sa sinh dục (SSD) ảnh hưởng đến 50% phụ nữ 
đã sinh đẻ [1] với tỷ lệ phụ nữ có triệu chứng là 21% 
[2]. SSD không nguy hiểm đến tính mạng nhưng 
ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động và chất 
lượng cuộc sống của người phụ nữ [3]. Tỷ lệ SSD của 
phụ nữ Việt Nam là khoảng 2% trong độ tuổi dưới 
40; 8% ở độ tuổi 40 – 50; 8,5% ở độ tuổi 50 – 70 
tuổi và cao nhất ở độ tuổi 70 – 90 với 10% [4]. 
Hiện nay, điều trị bệnh lý SSD chủ yếu bằng 
phẫu thuật đường dưới với các phương pháp như 
Manchester, Crossen, Le Fort [5]. Tuy vậy, các phẫu 
thuật này có tỷ lệ thất bại chung khá cao [6],[7] và 
đòi hỏi chi phí đáng kể. Điều trị bảo tồn bằng dụng 
cụ (DC) nâng đỡ SSD có thể giúp khắc phục được 
điều này. Tại Mỹ, 77% bác sĩ phụ khoa chỉ định 
DC nâng đỡ là điều trị đầu tay cho phụ nữ sa tạng 
chậu [8]. Tại Anh có đến 86,7% bác sĩ phụ khoa sử 
dụng DC nâng đỡ để hỗ trợ điều trị SSD [9]. 
DC Ring Pessary (RP) là một loại DC đặt vào 
âm đạo có tác dụng nâng đỡ cho thành âm đạo bị 
sa, thường được sản xuất từ silicone y tế. Tại Việt 
Nam đã có báo cáo hàng loạt ca về hiệu quả đặt 
vòng nâng điều trị sa tạng chậu tại Bệnh viện Từ Dũ 
(2013)[10], nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đánh 
giá sự chấp nhận của phụ nữ và hiệu quả sử dụng 
DC RP cho bệnh nhân SSD. Vì vậy, chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả và sự chấp 
nhận dụng cụ Ring Pessary trong điều trị sa sinh 
dục tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương” với các mục 
tiêu: (1) Nghiên cứu hiệu quả và tác dụng không 
mong muốn của dụng cụ Ring Pessary trong điều 
trị sa sinh dục; và (2) Đánh giá sự chấp nhận của 
phụ nữ đặt dụng cụ Ring Pessary trong điều trị sa 
sinh dục tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2015 đến 
tháng 9/2016 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 
LÊ HOÀI CHƯƠNG, LƯƠNG THỊ THU, NGUYỄN THÙY TRANG
114
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng 
nghiên cứu (ĐTNC) là những phụ nữ được chẩn 
đoán SSD tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Không có tiền sử dị ứng với PVC
- Không có những bệnh lý viêm nhiễm hay 
những tổn thương thực thể khác tại vùng sinh dục.
- Còn nguyện vọng sinh đẻ hoặc không có 
khả năng phẫu thuật hoặc từ chối, muốn trì hoãn 
phẫu thuật.
- Tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi đã 
được tư vấn đầy đủ.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không thể theo dõi định kỳ theo lịch.
- Có rối loạn đông máu hoặc đang dùng thuốc 
chống đông.
- Đang có bệnh lý liên quan đến tử cung cần 
can thiệp.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không đối 
chứng. Sau khi được thu nhận và đặt DC RP, các 
ĐTNC được hẹn khám lại định kỳ sau 1, 3, và 6 
tháng để đánh giá. DC RP sử dụng trong nghiên 
cứu này là là một vòng bằng nhựa PVC, tròn, dẻo 
và có 16 cỡ khác nhau tính theo đường kính ngoài 
(từ 50 mm tới 110 mm).
Chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi ICIQ-VS để đánh 
giá mức độ ảnh hưởng của SSD [12]. Bộ câu hỏi 
gồm 14 câu hỏi chia thành ba nhóm điểm độc lập 
(điểm số cao hơn tương ứng với mức độ nghiêm 
trọng hoặc ảnh hưởng nặng hơn):
- Điểm các triệu chứng tại âm đạo: tối thiểu là 0 
và tối đa là 53 điểm.
- Điểm mức độ ảnh hưởng đến sinh hoạt tình 
dục: tối thiểu là 0 và tối đa là 58.
- Điểm mức độ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc 
sống theo thang điểm 10.
Hình 1. Hình dáng và các kích thước của vòng Ring Pessary [11]
2.4. Cỡ mẫu 
Tổng cộng đã thu nhận 30 trường hợp đủ điều 
kiện và tự nguyện đồng ý tham gia. Toàn bộ 30 
ĐTNC khám lại đầy đủ sau 1 tháng: trong đó 03 
trường hợp phải tháo DC, ngừng tham gia nghiên 
cứu và 01 trường hợp phải đặt lại. Sau 6 tháng có 
02 trường hợp phải tháo, 25 trường hợp được thay 
và tiếp tục sử dụng DC RP.
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu 
Đề tài đã được Hội đồng Khoa học và Đạo đức 
trong Nghiên cứu Y sinh học, Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương phê duyệt trước khi thực hiện. Quá 
trình thực hiện tuân thủ toàn bộ quy trình nghiên 
cứu. Mọi ĐTNC đều được giải thích, tư vấn đầy đủ 
và tự nguyện đồng ý tham gia. Thông tin cá nhân 
được giữ bí mật. Chúng tôi chỉ công bố các kết quả 
phân tích tổng hợp.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc điểm của đối tượng 
nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Tuổi trung bình của ĐTNC là 62,2 ± 11,9, thấp 
nhất là 33 và cao nhất là 88. Tỷ lệ ĐTNC là nông 
dân chiếm cao nhất (50%), tiếp đến là cán bộ hưu 
trí (26,6%), còn lại nghề nghiệp khác. Tỷ lệ đang 
sống cùng chồng là 73,3% và góa là 26,7%. Tỷ lệ 
thừa cân béo phì là 10%.
Các ĐTNC có số lần sinh trung bình là: 4,0 
± 1,8 lần (ít nhất 2 lần và nhiều nhất 8 lần). Tỷ 
lệ sinh 3-4 lần cao nhất với 40,0%; tiếp đến là 
sinh trên 4 lần (33,3%) và dưới 2 lần (26,7%); 
86,7% đã mãn kinh. Thời gian mắc SSD trung 
bình là 57,1 ± 98,5 tháng (từ 2 tháng đến là 45 
năm). Hơn một nửa mắc từ >1 năm đến 5 năm 
(53,3%); tỷ lệ mắc ≤ 1 năm là 26,7% và trên 5 
năm là 20,0%.
3.1.2. Đặc điểm lâm sàng và tiền sử
Toàn bộ các ĐTNC mắc SSD độ 2 và 3, trong 
đó SSD độ 2 chiếm 53,3%.
Biểu đồ 1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi (n=30)
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 112 - 118, 2017
115
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
± 1,1 xuống 0,7 ± 0,9. Cả ba nhóm điểm số đều 
giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,001 (t-test).
Sau 1 tháng sử dụng, hầu hết các ĐTNC đã 
khỏi; và sau 6 tháng toàn bộ 100% đã hết hẳn các 
triệu chứng do SSD gây ra như: són tiểu, tiểu dắt/
khó, tiểu không hết bãi; táo bón, đại tiện không hết 
bãi; đi lại/lao động khó khăn, ngồi khó khăn; sinh 
hoạt tình dục khó khăn. Riêng vấn đề vệ sinh khó 
khăn, mất nhiều thời gian vẫn còn ở một nhóm nhỏ 
(giảm 9 lần).
Thành công của DC RP trong nghiên cứu này 
được xác định khi đẩy được khối sa lên mà không 
gây đau tức; không gây bế tắc; không gây viêm, 
loét niêm mạc âm đạo; không gây xung huyết, 
chảy máu, mô xơ âm đạo. Kết quả cho thấy tỷ lệ 
thành công sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng lần lượt 
là 56,7%, 51,9% và 44,4%.
Sau 6 tháng, có 5/30 ĐTNC phải tháo DC RP 
(16,7%). Trong đó, có 3 người (10,0%) phải tháo 
DC do khó chịu ngay từ tháng đầu tiên và 2 người 
(6,7%) phải tháo sau 6 tháng sử dụng. Tỷ lệ tiếp 
tục sử dụng tại thời điểm 6 tháng là 83,3%. Chỉ có 
01 ĐTNC bị tụt DC RP (chiếm 3,3%) sau 6 tháng. 
3.2.2. Tác dụng không móng muốn của dụng 
cụ Ring Pessary
Sau 6 tháng sử dụng RP, có sự gia tăng và xuất 
hiện thêm một số triệu chứng tại âm đạo; trong đó, 
cao nhất là tăng tiết dịch tăng từ 10,0% lên 40,7% 
và xung huyết từ 26,7% lên 44,4%. Kết quả so sánh 
Đại đa số ĐTNC tự nhận thấy có khối sa lồi ra 
vùng âm hộ. Các triệu chứng phổ biến tiếp theo 
là rối loạn đại, tiểu tiện, tức nặng bụng dưới, 
đau tức.
Đại đa số ĐTNC bị sa tử cung và bàng quang, 
phần lớn sa 2 tạng. Kích cỡ DC RP được đặt bao 
gồm: cỡ 65 là 40,0%; cỡ 71 là 40% và chỉ có 20% 
sử dụng cỡ 74. Thời gian đặt DC RP trung bình là 
14,8 ± 3,9 phút.
3.2. Hiệu quả và tác dụng không 
mong muốn của dụng cụ Ring Pessary
3.2.1. Hiệu quả của dụng cụ Ring Pessary 
trong điều trị sa sinh dục
Tổng điểm số về mức độ các triệu chứng tại âm 
đạo theo bộ câu hỏi ICIQ-VS giảm từ 24 ± 7,7 
trước khi đặt RP xuống 0,6 ± 1,2 sau đặt 6 tháng. 
Điểm số về mức độ ảnh hưởng của SDD đến sinh 
hoạt tình dục và chất lượng cuộc sống cũng giảm 
lần lượt từ 43,9 ± 18,5 xuống 15,2 ± 6,3 và 8,4 
Biểu đồ 2. Các triệu chứng cơ năng của đối tượng nghiên cứu (n=30)
Tạng bị sa Tần số Tỷ lệ %
Tạng bị sa
Sa tử cung 28 93,3
Sa trực tràng 9 30,0
Sa bàng quang 27 90,0
Số lượng tạng bị sa
Sa 1 tạng 5 16,7
Sa 2 tạng 16 53,3
Sa 3 tạng 9 30,0
Bảng 1. Các tạng bị sa (n=30)
Triệu chứng/ Vấn đề Trước khi đặt (n=30)
Sau 1 tháng
(n=30)
Sau 3 tháng
(n=27)
Sau 6 tháng
(n=27)
Són tiểu 16 (53,3) 1 (3,3) 1 (3,7) 0 (0)
Tiểu dắt/khó 17 (56,7) 0 (0) 0 (0) 0 (0)
Tiểu không hết bãi 17 (56,7) 0 (0) 0 (0) 0 (0)
Táo bón 13 (43,3) 1 (3,3) 0 (0) 0 (0)
Đại tiện không hết 14 (46,7) 2 (6,7) 0 (0) 0 (0)
Đi lại/lao động khó khăn 25 (83,3) 0 (0) 0 (0) 0 (0)
Ngồi khó khăn 15 (50,0) 1 (3,3) 0 (0) 0 (0)
Vệ sinh khó khăn 27 (90,0) 1 (3,3) 1 (3,7) 3 (11,1)
Sinh hoạt tình dục khó khăn 11 (36,7) 2 (6,7) 0 (0) 0 (0)
Bảng 2. Tỷ lệ các triệu chứng theo thời gian
Biểu đồ 3. Điểm đánh giá theo ICIQ-VS theo thời gian (n=27)
Triệu chứng Trước khi đặt (n=30)
Sau 1 tháng
(n=30)
Sau 3 tháng
(n=27)
Sau 6 tháng
(n=27)
Tăng tiết dịch 3 (10,0) 12 (40,0) 8 (29.6) 11 (40,7)
Xung huyết 8 (26,7) 8 (26,7) 11 (40,7) 12 (44,4)
Mô xơ âm đạo 0 (0) 1 (3,3) 1 (3,7) 5 (18,5)
Khó chịu, phải tháo 0 (0) 3 (10,0) 0 (0) 2 (7,4)
Bảng 3. Tác dụng không mong muốn của dụng cụ Ring Pessay
LÊ HOÀI CHƯƠNG, LƯƠNG THỊ THU, NGUYỄN THÙY TRANG
116
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
cho thấy nhóm có thời gian tự tháo - vệ sinh – đặt 
lại DC RP từ 1-3 ngày/lần có tỷ lệ tăng tiết dịch thấp 
nhất (33,3%) so với nhóm có thời gian tự đặt tháo từ 
4-7 ngày/lần (35%) và trên 7 ngày/lần (75%).
3.3. Sự chấp nhận dụng cụ Ring 
Pessary trong điều trị sa sinh dục
Sau 6 tháng, phần lớn (90,0%) mong muốn 
tiếp tục sử dụng DC RP trong hỗ trợ điều trị triệu 
chứng SSD.
Hầu hết ĐTNC hài lòng với DC RP (93,3%).
4. Bàn luận
4.1. Một số đặc điểm của đối tượng 
nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học
Tuổi trung bình của ĐTNC là 62,2 ± 11,9 tuổi 
với tỷ lệ dưới 50 tuổi chiếm 13,3% và trên 60 tuổi 
chiếm 50%; thấp hơn so với kết quả của Nguyễn 
Thị Vĩnh Thành với tuổi trung bình là 68,7 ± 9,2 
[10]. Manchan tại Thái Lan cho thấy tuổi trung 
bình của nhóm đặt thành công là 68,5 tuổi (44-
86) và nhóm đặt không thành công là 71 tuổi 
(53 – 85) [13]. 
Nhìn chung độ tuổi trung bình của phụ nữ sử 
dụng DC nâng đỡ SSD là khá cao, hầu hết là trên 
60 tuổi – đây là độ tuổi thường mắc một số bệnh 
cảnh phối hợp khác và khó tiến hành các phương 
pháp phẫu thuật trong điều trị SSD.
4.1.2. Đặc điểm lâm sàng và tiền sử
Tình trạng SSD thường đi kèm đồng thời với 
các triệu chứng về rối loạn tiểu tiện vì sự gần 
gũi về mặt giải phẫu giữa các tạng trong khung 
Biểu đồ 4. Tỷ lệ muốn tiếp tục/ngừng sử dụng dụng cụ RP (n=30)
Biểu đồ 5. Sự hài lòng của ĐTNC đối với dụng cụ Ring Pessary (n=30)
chậu. Phần lớn ĐTNC thấy khối sa lồi vùng âm hộ 
(96,7%) và rối loạn tiểu tiện (76,7%); gần một nửa 
bị tức nặng bụng dưới (46,7%) và đau vùng thắt 
lưng (43,3%). Nghiên cứu của Sang Wook Bai 
cũng cho kết quả 82,7% bệnh nhân có các triệu 
chứng tiểu không kiểm soát [14].
Số lần sinh trung bình là 4,0 ± 1,8 lần (từ 2 
đến 8 lần). Nguyễn Thị Vĩnh Thành cho kết quả 
hơi cao hơn: 5,75 ± 2,79 lần (từ 1 đến 13 lần) 
[10]. Như vậy có thể thấy phần lớn phụ nữ bị SSD 
có tiền sử sinh đẻ nhiều lần. 
Trong nghiên cứu này, hầu hết ĐTNC sa tử 
cung (93,3%) và sa bàng quang (90,0%), tỷ lệ 
sa trực tràng chỉ chiếm 30,0%. Phần lớn sa từ 2 
tạng trở lên (53,3%). Nghiên cứu của Nguyễn 
Thị Vĩnh Thành cho kết quả 97,3% sa từ hai tạng 
trở lên; tỷ lệ sa độ 1 – 2 là 10,6% và sa từ độ 3 
trở lên là 89,4% [10].
Như vậy, nhìn chung tỷ lệ sa hai tạng trở lên là 
rất cao và trong nghiên cứu của chúng tôi mức độ 
sa là khá nặng.
Phần lớn ĐTNC sử dụng cỡ 65 (40%) và cỡ 71 
(40,0%); chỉ có 20% sử dụng cỡ 74. Thời gian đặt 
DC RP trung bình là 14,8 ± 3,9 phút.
4.2. Hiệu quả và tác dụng không 
mong muốn của dụng cụ Ring Pessary
4.2.1. Hiệu quả của dụng cụ Ring Pessary 
trong điều trị sa sinh dục
Kết quả theo bộ câu hỏi ICIQ-VS cho thấy các 
triệu chứng và mức độ ảnh hưởng của SSD đến 
ĐTNC 6 tháng sau khi đặt DC RP đã được cải 
thiện rõ rệt. Cụ thể, điểm số về mức độ nặng của 
các triệu chứng âm đạo; ảnh hưởng của SDD đến 
tình dục và chất lượng cuộc sống đều giảm có ý 
nghĩa thống kê.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ có 
hoạt động tình dục và sử dụng DC nâng đỡ SSD 
đã có một sự gia tăng đáng kể cả tần số và sự hài 
lòng trong sinh hoạt tình dục [15], [16]. Nghiên 
cứu năm 2015 tại Anh cho thấy những phụ nữ sau 
một năm sử dụng DC nâng đỡ SDD đã có sự cải 
thiện đáng kể tất cả các triệu chứng (trừ đau nhức 
âm đạo) và chất lượng cuộc sống [17]. 
Nghiên cứu này đã cho thấy bằng chứng rõ 
ràng về sự cải thiện các rối loạn tiểu tiện (như 
són tiểu, tiểu dắt/khó, tiểu không hết bãi) và rối 
loạn đại tiện (như táo bón, đại tiện không hết) 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 112 - 118, 2017
117
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
sau 6 tháng sử dụng DC RP; tương tự một số 
nghiên cứu khác [17]. Vấn đề vệ sinh khó khăn 
vẫn còn ở một nhóm nhỏ (giảm từ 90% xuống 
11,1%), có lẽ việc vệ sinh còn khó do liên quan 
đến bản thân việc vệ sinh DC RP; nhưng đã giảm 
đáng kể.
Bên cạnh đó, các triệu chứng ảnh hưởng đến 
sinh hoạt thường ngày của ĐTNC do bị SSD như 
đi lại, lao động khó khăn và ngồi khó khăn cũng 
cải thiện rất đáng kể. Tỷ lệ các triệu chứng trên 
trước khi đặt 83,3% và 50% và đã hết sau đặt 
6 tháng. 
Như vậy có thể thấy sử dụng DC RP cho các 
bệnh nhân SSD là một trong những lựa chọn 
đầu tiên ở những người lớn tuổi chưa muốn hoặc 
không có khả năng phẫu thuật để cải thiện các 
triệu chứng.
• Tỷ lệ thành công của DC nâng đỡ RP
Hiện nay chưa có sự thống nhất giữa các tác 
giả về tiêu chuẩn đánh giá sự thành công của 
DC nâng đỡ SSD. Trong nghiên cứu này, chúng 
tôi đánh giá sự thành công của DC RP khi đẩy 
được khối sa lên mà không gây các biến chứng 
tại chỗ. Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công có 
giảm dần theo thời gian: cụ thể sau 1 tháng là 
56,7%; sau 3 tháng còn 51,9%; sau 6 tháng chỉ 
còn 44,4%. 
Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với một 
số nghiên cứu khác. Theo Lamers R.H.C (2011), 
hầu hết các nghiên cứu có tỷ lệ thành công cao 
hơn 85% [18].
Kết quả có sự khác nhau này có thể được giải 
thích bởi tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thành công 
khác nhau. Hơn nữa, phần lớn ĐTNC của chúng 
tôi là người lớn tuổi và mức độ sa khá nặng (độ 2 
và độ 3). Trong khi đó, các khuyến cáo sử dụng RP 
nên ưu tiên cho sa nhẹ đến trung bình (sa độ 1 và 
2). Riêng với các trường hợp sa nặng, loại vòng 
nâng hình lập phương (Cube Pessary) có thể đem 
lại kết quả thành công [19].
4.2.2. Tác dụng không mong muốn của dụng 
cụ Ring Pessary
Bên cạnh việc cải thiện rất tốt các triệu chứng cơ 
năng và các triệu chứng rối loạn đại tiểu tiện cũng 
như những khó chịu, bất tiện, nghiên cứu cũng 
cho thấy sự xuất hiện và gia tăng một số tác dụng 
không mong muốn của DC RP như tăng tiết dịch (từ 
10% lên 40,7%); xung huyết (26,7% lên 44,4%); 
mô xơ âm đạo (0% lên 18,5%). 
Nghiên cứu của Robert M cho thấy biến chứng 
của việc sử dụng DC nâng đỡ SSD thường nhẹ 
và tăng tiết dịch âm đạo là triệu chứng thường 
gặp nhất [19]. 
Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện gia tăng 
các biến chứng theo thời gian đặt DC có thể do 
giảm lưu lượng máu tới các vị trí đặt DC, từ đó có 
thể hình thành tổn thương như vết loét và hoại tử 
do tăng áp lực liên tục lên thành quàng quang – 
âm đạo hay trực tràng - âm đạo nếu không được 
chăm sóc tốt. Ngoài ra, khi một DC nâng đỡ SSD 
được đặt lâu ngày trong âm đạo có thể là yếu 
tố góp phần gây ra tình trạng nhiễm trùng hoặc 
viêm mãn tính [20]. 
Các ĐTNC của chúng tôi đã được tư vấn cụ thể 
về cách tự tháo - vệ sinh – đặt lại DC RP. Những 
ĐTNC thực hiện việc này thường xuyên có tỷ lệ 
tăng tiết dịch thấp hơn hẳn so với các nhóm không 
thường xuyên, cho thấy rõ tầm quan trọng của vệ 
sinh DC RP trong ngăn ngừa kích thích niêm mạc 
âm đạo. Như vậy, để giảm các biến chứng trong 
quá trình sử dụng DC RP, cần thiết phải hướng dẫn 
người phụ nữ tự tháo – vệ sinh – đặt lại DC cũng 
như tái khám thường xuyên. 
4.3. Sự chấp nhận dụng cụ Ring 
Pessary trong điều trị sa sinh dục
Sau 6 tháng, phần lớn ĐTNC vẫn muốn tiếp 
tục sử dụng (90%) và 93,3% cảm thấy hài lòng 
và rất hài lòng về DC Ring Pessary. Kết quả này 
khá tương tự với các nghiên cứu khác. Nghiên cứu 
của Robert M và cộng sự cũng đưa ra kết luận 
mức độ hài lòng với việc sử dụng DC nâng đỡ là 
rất cao [19]. 
Trong nghiên cứu này, sau 1 tháng, tỷ lệ tiếp tục 
sử dụng là 90%. Sau 6 tháng, có 5/30 đối tượng 
nghiên cứu phải tháo DC (16,7%) và 83,3% tiếp 
tục sử dụng. Lý do ngừng sử dụng bao gồm đau, 
chảy máu, viêm loét và đến thời điểm có thể được 
tiến hành phẫu thuật. Kết quả này hơi cao hơn so 
với nghiên cứu năm 2013 với tỷ lệ thất bại điều trị 
là 5,31% [10]. 
5. Kết luận
Qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trên 30 
bệnh nhân SSD độ 2 và 3, được theo dõi 6 tháng 
LÊ HOÀI CHƯƠNG, LƯƠNG THỊ THU, NGUYỄN THÙY TRANG
118
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
sau đặt DC RP, chúng tôi có một số kết luận sau:
5.1. Về hiệu quả và tác dụng không 
mong muốn của dụng cụ Ring Pessary 
trong điều trị sa sinh dục
- DC RP giúp giảm đáng kể mức độ các triệu 
chứng tại âm đạo, ảnh hưởng của SSD đối với hoạt 
động tình dục và chất lượng cuộc sống
- DC RP giảm hoàn toàn các triệu chứng rối 
loạn đại-tiểu tiện của SSD.
- Các tác dụng không mong muốn phổ biến 
nhất bao gồm: xung huyết (44,4%); tăng tiết dịch 
(40,7%); mô xơ âm đạo (18,5%).
- Sau 6 tháng: tỷ lệ phải tháo DC RP là 16,7% 
(5/30).
5.2. Về sự chấp nhận dụng cụ Ring 
Pessary trong điều trị sa sinh dục
Đại đa số phụ nữ chấp nhận và hài lòng với:
- 90% muốn tiếp tục sử dụng sau 6 tháng.
- 93,3% cảm thấy hài lòng và rất hài lòng 
với DC RP.
Tài liệu tham khảo
1. Thakar R and Stanton S. Management of genital prolapse. British 
Medical Journal. 2002; 324(7348): p. 1258-1262.
2. Slieker-ten Hove MCP, et al., The prevalence of pelvic organ prolapse 
symptoms and signs and their relation with bladder and bowel disorders 
in a general female population. International Urogynecological Journal. 
2009; 20: p. 1037-1045.
3. Swift SE, et al. Pelvic Organ Support Study (POSST): the distribution, 
clinical definition and epidemiologic condition of pelvic organ support defects. 
American Journal of Obstetrics and Gynecology. 2005; 192: p. 795–806.
4. Phan Xuân Khôi and Hoàng Nữ Phú Xuân. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi 
treo tử cung trực tiếp vào thành bụng trong điều trị sa sinh dục. Tạp chí Y 
học Thành phố Hồ Chí Minh. 2010; 14(2).
5. Phan Trường Duyệt. Phẫu thuật sản phụ khoa. Nhà xuất bản Y học. 
1989; 463-474, 538-577.
6. Nguyễn Bá Mỹ Nhi, et al.. Đánh giá bước đầu phẫu thuật điều trị sa 
tạng chậu nữ có đặt mảnh ghép tổng hợp tại Bệnh viện Từ Dũ. Y học 
Thành phố Hồ Chí Minh. 2011; 15(2).
7. Whiteside JL, Weber AM, and Meyn L. Risk factors for prolapse 
recurrence after vaginal repair. American Journal of Obstetrics and 
Gynecology. 2004; 191: p. 1533-1538.
8. Cundiff GW, et al.. A survey of pessary use by members of the American 
urogynecologic society. Obstetrics & Gynecology. 2000; 95(6): p. 931-935.
9. Gorti M, Hudelist G, and Simons A. Evaluation of vaginal pessary 
management: A UK-based survey. Journal of Obstetrics and Gynaecology. 
2009; 29(2): p. 129-131.
10. Nguyễn Thị Vĩnh Thành. Hiệu quả đặt vòng nâng (Pessary) điều 
trị sa tạng chậu nữ tại Bệnh viện Từ Dũ: đặc điểm và các yếu tố thành 
công. Hội nghị Việt - Pháp 2013.
11. Assisted Production obstetric and gynaecology. Wallace Ring Pessaries.
12. Price N. Development and psychometric avaluation of the ICIQ 
Vaginal Symptoms Questionnaire the ICIQ-VS. BIOG An International 
Journal of Obstetrics and Gynaecology. 2006; p. 1-13.
13. Manchana T, Ring pessary for all pelvic organ prolapse. Arch Gynecol 
Obstet, 2011. 284: p. 391-395.
14. Bai S.W, et al. Survey of the characteristics and satisfaction degree 
of the patients using a pessary. Int Urogynecol J. 2005; 16: p. 182–186.
15. Fernando RJ, et al. Effect of vaginal pessaries on symptoms 
associated with pelvic organ prolapse. Obstet Gynecol. 2006; 108(93-99).
16. Abdool Z, et al. Prospective evaluation of outcome of vaginal 
pessaries versus surgery in women with symptomatic pelvic organ 
prolapse. Int Urogynecol J Pelvic Floor Dysfunction. 2010; 16.
17. Lone F, Thakar R, and Sultan A.H. One-year prospective comparison of 
vaginal pessaries and surgery for pelvic organ prolapse using the validated 
ICIQ-VS and ICIQ-UI (SF) questionnaires. Int Urogynecol J. 2015.
18. Lamers B.H.C, Broekman B.M.W, and Milani A.L. Pessary treatment 
for pelvic organ prolapse and health-related quality of life: a review. Int 
Urogynecol J. 2011; 22: p. 637-644.
19. Robert M, Schulz J.A, and Harvey M.A. Technical Update on Pessary 
Use. JULY JOGC JUILLET. 2013; 294: p. S1-S11.
20. Schraub S, et al. Cervical and vaginal cancer associated with pessary 
use. Cancer. 1992; 69: p. 2505–2509.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_va_su_chap_nhan_dung_cu_ring_pessary_trong_dieu_tri.pdf