Hiệu quả tập ngồi sớm trong phục hồi bệnh nhân sau đột quỵ

Phục hồi chức năng sớm là một vấn đề quan trọng trong phục hồi chức năng

bệnh nhân đột quỵ não. Trong đó, dịch chuyển sớm, đặc biệt là tập ngồi sớm có thể cải

thiện di chứng và dự hậu của bệnh nhân. Tập ngồi sớm sẽ giúp tối ưu hóa sự tái tổ chức

não và chống các biến chứng do bất động lâu ngày. Cho nên tập ngồi sớm là chìa khóa

trong chiến lược phục hồi bệnh nhân đột quỵ

pdf 9 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả tập ngồi sớm trong phục hồi bệnh nhân sau đột quỵ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả tập ngồi sớm trong phục hồi bệnh nhân sau đột quỵ

Hiệu quả tập ngồi sớm trong phục hồi bệnh nhân sau đột quỵ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
55
HIỆU QUẢ TẬP NGỒI SỚM TRONG PHỤC HỒI 
BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỴ
Trần Quang Khang1, Lương Vũ Dũng1, Vũ Đăng Quyền1, Quách Long Vỹ1,
 Trần Thiên Mai1, Nguyễn Hữu Mạnh1, Trần Đức Khoa1, Nguyễn Chí Đức1
TÓM TẮT
Phục hồi chức năng sớm là một vấn đề quan trọng trong phục hồi chức năng 
bệnh nhân đột quỵ não. Trong đó, dịch chuyển sớm, đặc biệt là tập ngồi sớm có thể cải 
thiện di chứng và dự hậu của bệnh nhân. Tập ngồi sớm sẽ giúp tối ưu hóa sự tái tổ chức 
não và chống các biến chứng do bất động lâu ngày. Cho nên tập ngồi sớm là chìa khóa 
trong chiến lược phục hồi bệnh nhân đột quỵ.
Từ khóa: ngồi sớm, sau đột quỵ.
ADVANTAGES OF EARLY SITTING IN POSTSTROKE 
REHABILITATION
SUMMARY
Early rehabilitation is essential in poststroke rehabilitation. Early mobilization, 
particularly early sitting can significantly improve both mortality and sequel. Early sitting 
might help to optimize brain reorganization and prevent immobilized complications. 
Therefore, early sitting is the key in poststroke rehabilitation strategy.
Keyword: early sitting, poststroke rehabilitation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phục hồi chức năng bệnh nhân đột 
quỵ não hiện nay không chỉ là vấn đề khó 
khăn của riêng ngành y tế mà còn là của 
toàn xã hội. Trong điều kiện suy thoái kinh 
tế toàn cầu nói chung thì gánh nặng về tài 
chính để khắc phục tình trạng di chứng của 
đột quỵ não càng trở lên khó giải quyết. 
Để nhanh chóng đưa người bệnh đột quỵ 
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Trần Quang Khang ([email protected])
Ngày nhận bài: 15/10/2019, ngày phản biện: 27/10/2019
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
56
trở về với cuộc sống hàng ngày tại cộng 
đồng, nhằm giảm bớt những gánh nặng 
cho người bệnh và gia đình, ngành phục 
hồi chức năng đã và đang ứng dụng tối đa 
những phát kiến mới áp dụng trong phục 
hồi bệnh nhân đột quỵ.
Từ khi phát hiện ra cơ chế tái tổ 
chức não sau tai biến mạch máu não và 
chấn thương sọ não, tư thế ngồi trong phục 
hồi người bệnh đột quỵ trở thành chìa khóa 
trong thực hành phục hồi hàng ngày. Vì tư 
thế ngồi là một trong những tư thế thoải 
mái, tự nhiên, vững vàng và được dùng 
nhiều nhất trong đời sống hàng ngày [1]
[2].
Ngồi là tư thế chức năng chính 
của nhiều hoạt động, và là tư thế trung 
gian giữa nằm và đứng. Ngồi giải phóng 
hai tay, thân ở tư thế thẳng, đồng thời giúp 
người bệnh dễ dàng học cách chuyển trọng 
lượng và kiểm soát đường giữa của thân và 
chậu giúp phát triển thăng bằng, sức mạnh, 
và kiểm soát thần kinh cơ cần cho dáng 
đi. Nhiều kết hợp vận động thân và chi có 
thể được thực hiện ở tư thế ngồi, cho phép 
phát triển vận động và làm vững ở nhiều 
vùng của cơ thể. Các phản ứng thăng bằng 
cũng có thể được tạo thuận ở tư thế này. 
Thay đổi tư thế từ nằm sang ngồi là các 
vận động cần thiết cho các chức năng di 
chuyển thường nhật thông thường mà 
người bệnh cần tự thực hiện hay thực hiện 
có trợ giúp bằng dụng cụ hoặc bằng trợ 
giúp của người điều trị [1][2][3].
Trong tài liệu hướng dẫn mới nhất 
của Bộ Y Tế, 12/2017, về quy trình kỹ thuật 
Phục hồi chức năng người bệnh đột quỵ 
não đã xây dựng chi tiết quy trình kỹ thuật 
“Dịch chuyển sớm cho người bệnh đột quỵ 
não”. Nhấn mạnh Dịch chuyển sớm góp 
phần làm giảm tỷ lệ tử vong do biến chứng 
viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, cải thiện khả 
năng hô hấp, làm hưng phấn thần kinh, . 
hạn chế loét cùng cụt và giúp người bệnh 
mau hồi phục. Đồng thời nêu rõ việc chỉ 
cho người bệnh xoay trở hoặc / và tập vận 
động tại giường không được xem là Dịch 
chuyển sớm. Ngồi là nền tảng để Dịch 
chuyển sớm, chính vì vậy trong quá trình 
hoạt động thực tiễn chúng tôi nhận thấy ý 
nghĩa cần thiết nghiên cứu vai trò của tập 
Ngồi trong đột quỵ [1][2][4][5].
Với vai trò của tư thế ngồi đã 
được khẳng định thông qua nhiều công 
trình nghiên cứu có giá trị của các tác giả 
nước ngoài, nhưng ở trong nước chưa có 
nghiên cứu nào về vai trò của tập ngồi ở 
bệnh nhân sau đột quỵ cho nên chúng tôi 
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả tập 
ngồi sớm trong phục hồi bệnh nhân sau 
đột quỵ”, với hai mục tiêu:
+ Đánh giá hiệu quả tập ngồi sớm 
trong phục hồi chức năng bệnh nhân sau 
đột quỵ
+ Những yếu tố ảnh hưởng đến 
kết quả của tập ngồi sớm trong phục hồi 
chức năng bệnh nhân sau đột quỵ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
57
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 101 bệnh nhân sau đột quỵ 
não phục hồi tại bệnh viện, khoa nội thần 
kinh, ngoại thần kinh, đơn vị đột quỵ và 
điều trị nội,ngoại trú tại Khoa vật lý trị 
liệu – Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân 
y 175 từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 12 
năm 2019. 
Bệnh nhân đã đột quỵ một bên bán 
cầu não di chứng yếu liệt nửa người lần 
đầu trong vòng 12 tháng:
- Có giảm chức năng sinh hoạt
- Có thể hiểu và làm theo y lệnh 
đơn giản
- Có bệnh án ghi chép đầy đủ tình 
trạng thương tổn và phương pháp điều trị 
trước đó
Được tập PHCN trong vòng 3 
tuần đầu
- Được theo dõi và đánh giá đúng, 
đủ các thông số trong nghiên cứu.
- Bệnh nhân đồng ý tham gia 
nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp mô 
tả cắt ngang.
Phân tích dịch tễ học lâm sàng 
so sánh trước và sau can thiệp PHCN vận 
động bằng phương pháp tập ngồi cho bệnh 
nhân liệt nửa người sau tai biến mạch máu 
não.
Chọn mẫu có chủ đích.
Hình 2.1. Tạo thuận ngồi
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
58
Đánh giá kết quả điều trị
Bệnh nhân được theo dõi và đánh 
giá kết quả sau: 1 ngày -3 ngày, 3 ngày-1 
tuần, 1 tuần -2 tuần, sau 2 tuần điều trị 
PHCN.
Các tiêu chí và thang điểm đánh 
giá bao gồm
Chỉ số Barthel 
Bậc cơ
Khả năng ngồi
Khả năng đứng
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm lâm sàng theo tuổi và giới
Bảng 3.1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới
Giới tính
Nhóm tuổi
Nam Nữ Tổng cộng
n % n % n %
< 50 tuổi 11 10,9 7 6,9 18 17,8
51 - 60 10 6,9 7 6,9 17 16,8
61 - 70 28 27,7 10 9,9 38 37,6
>71 19 18,8 9 8,9 28 27,7
Tổng cộng 68 67,3 33 32,7 101 100,0
Nhận xét: Tuổi bệnh nhân đột quỵ não trung bình 63, 32. Tuổi bị ĐQN nhiều 
nhất là trên 60 tuổi (65,3%)
Tỉ lệ bệnh nhân nam bị ĐQN nhiều hơn nữ, 67,3% so với 32,7% (nam/nữ = 2/1)
3.2. Kết quả điều trị:
3.2.1. Chỉ số Barthel 
Bảng 3.2: Liên quan chỉ số Barthel và thời điểm tập
Thời điểm bắt đầu PHCN N Bathel trước ĐT Bathel sau ĐT P
1 ngày -3 ngày 38 12,89+ 4,59 66,32+ 8,51
0,0001
3 ngày-1 tuần 21 26,19+ 6,69 73,81+ 8,51
1 tuần -2 tuần 19 30,53+ 6,21 68,95 + 6,57
Sau 2 tuần 23 25,65+ 10,37 67,83 + 10,42
Kết quả chung 101 21,88 + 9,97 68,71 + 8,68
P 0,0001 0,43
Nhận xét: Trước tập khả năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản hàng ngày 
kết quả ở mức 21,88 + 9,97.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
59
Sau tập khả năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản hàng ngày kết quả ở mức 
68,71 + 8,68
Giữa các nhóm trước tập, khả năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản hàng 
ngày có sự khác biệt.
Giữa các nhóm sau tập, khả năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản hàng 
ngày không có sự khác biệt
3.2.2. Sức cơ
Bảng 3.3: Liên quan sức cơ và thời điểm tập
Thời điểm bắt đầu PHCN N Sức cơ trước ĐT Sức cơ sau ĐT p
1 ngày -3 ngày 38 0,16 + 0,44 3,03 + 0,49
0,0001
3 ngày-1 tuần 21 1,14 + 0,65 3,62 + 0,5
1 tuần-2 tuần 19 1,05 + 0,85 3,16 + 0,6
Sau 2 tuần 23 1,26 + 1,01 3,35 + 0,77
Kết quả chung 101 0,78 + 0,86 3,25 + 0,62
P 0,0001 0,003
Nhận xét: Sức cơ trước tập ở mức 0,78 + 0,86, sức cơ sau tập ở mức 3,25 + 0,62.
Giữa các nhóm sau ĐT mặc dù sức cơ khá tương đồng, nhưng có sự khác biệt 
về thống kê. 
3.2.3. Khả năng ngồi trước và sau tập
Bảng 3.4: Khả năng ngồi trước và sau điều trị
Thăng bằng tĩnh
Sau điều trị Tổng 
cộngThăng bằng động
Trước điều trị
Không ngồi được 62 30 92
Thăng bằng tĩnh 0 8 8
Thăng bằng động 0 1 1
Tổng cộng 62 39 101
p = 0,0001
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
60
Nhận xét: Có sự cải thiện khả năng ngồi trước và sau tập, sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê, P = 0,0001.
Trước tập có 92 bệnh nhân không ngồi được, 8 bệnh nhân ngồi được thăng bằng 
tĩnh và 1 bệnh nhân ngồi được thăng bằng động.
Sau tập có 62 bệnh nhân ngồi được thăng bằng tĩnh và 39 bệnh nhân ngồi được 
thăng bằng động.
3.2.4. Khả năng ngồi với thời điểm tập
Bảng 3.5: Khả năng ngồi và thời điểm tập
Thời điểm bắt 
đầu PHCN
Không ngồi được
Kết quả điều trị
Thăng bằng tĩnh Thăng bằng động Tổng
1 ngày - 
3 ngày
Trước ĐT 38 0 0 38
Sau ĐT 0 29 9 38
3 ngày - 
1 tuần
Trước ĐT 19 1 1 21
Sau ĐT 0 10 11 21
1 tuần- 2 
tuần
Trước ĐT 17 2 0 19
Sau ĐT 0 13 6 19
Sau 2 
tuần
Trước ĐT 18 10 13 23
Sau ĐT 0 14 9 23
p* trước điều trị = 0,53 ; p** : sau điều trị = 0,01
Nhận xét: Trước tập không có sự khác biệt về khả năng ngồi giữa các nhóm, với 
P = 0,53
Sau tập có sự khác biệt về khả năng ngồi giữa các nhóm, với P = 0,01
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
61
3.2.5. Mối liên quan với kết quả tập ngồi ở chỉ số Barthel
Bảng 3.6: Liên quan chỉ số Bathel và một số yếu tố liên quan khác
Yếu tố ảnh hưởng
Trước
Barthel
Sau
Giới
Nam 21,91 + 10,82 67.94 + 9,86
Nữ 21,82 + 8,08 70,30 + 5,29
P 0,965 0,201
Nghề nghiệp
Bộ đội 26,41 + 9,86 69,23 + 8,70
Văn phòng 25,00 + 8,36 70,00
Lao động 18,39 + 8,89 68,21 + 9,16
P 0,0001 0,799
Bệnh kèm theo
Tăng huyết áp 20,75 + 10,48 69,00 + 8,65
Đái tháo đường 26,67 + 11,12 66,00 + 6,32
Khác 25,00 + 10,48 71,67 + 13,29
P 0,78 0,325
Vị trí tổn thương
Vỏ não 21,35 + 10,85 68,85 + 9,42
Thân não 23,17 + 9,33 69,02 + 7,35
Khác 18,75 + 6,40 18,75 + 10,60
P 0,448 0,706
Bên tổn thương
Phải 23.06 + 10.45 69.80 + 8.77
Trái 20.77 + 9.46 67.69 + 8.54
P 0,250 0,225
Thể đột quỵ
NMN 21.38 + 11.15 69.31 + 9.52
XHN 22.56 + 8.192 67.91 + 7.42
P 0,560 0,424
Nhận xét: Có sự khác biệt ở khả 
năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản 
hàng ngày với đối tượng bệnh nhân có 
nghề nghiệp khác nhau trước tập ngồi, với 
p = 0,0001.
Không có sự khác biệt về khả 
năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản 
hàng ngày giữa đối tượng liên quan đến 
giới tính, nghề nghiệp, bệnh kèm theo, vị 
trí tổn thương, thể ĐQN trước và sau tập 
ngồi.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
62
BÀN LUẬN
Kết quả bảng 3.2 cho thấy trước 
tập khả năng thực hiện các hoạt động sống 
cơ bản hàng ngày của đối tượng nghiên 
cứu ở mức 21,88 + 9,97 điểm. Đặc biệt 
giữa các nhóm trước tập, khả năng thực 
hiện các hoạt động sống cơ bản hàng ngày 
có sự khác biệt. Nhóm tập sớm, từ 1 đến 3 
ngày, có khả năng thực hiện các hoạt động 
sống cơ bản hàng ngày thấp nhất, ở mức 
12,89+ 4,59 điểm.
Sau tập khả năng thực hiện các 
hoạt động sống cơ bản hàng ngày kết quả 
ở mức 68,71 + 8,68 điểm và giữa các nhóm 
sau tập, khả năng thực hiện các hoạt động 
sống cơ bản hàng ngày không có sự khác 
biệt. Chứng tỏ có sự can thiệp tập ngồi về 
mặt thời gian càng sớm là cần thiết, để 
người bệnh sau ĐQN nhanh chóng lấy lại 
thói quen vận động, sinh hoạt hàng ngày, 
xa hơn nữa là trở về với thói quen nghề 
nghiệp trước đây.
Ở đây chúng tôi nhấn mạnh kết 
quả đạt được từ sự tự tin của người bệnh 
khi ngồi dậy và sự gia tăng đáng kể khả 
năng hoạt động chi bên lành khi được giải 
phóng vào không gian rộng rãi nhờ tư thế 
ngồi. Mặc dù sức cơ bên liệt cần phải có 
thời gian hồi phục mới đáp ứng được khả 
năng thực hiện các hoạt động sống cơ bản 
hàng ngày một cách độc lập được ở người 
bệnh sau ĐQN. Cho nên hỗ trợ người bệnh 
sau ĐQN ngồi dậy sớm làm thay đổi nhận 
thức của người bệnh về khả năng còn lại 
của mình, để phát huy tối đa sự độc lập [1]
[2][4]. Mặt khác ngồi sớm còn tạo thuận 
cho việc cải thiện sức cơ bên liệt khi chi 
lành hoàn toàn có thể vận động thụ động 
chi liệt với không gian cởi mở hơn và thời 
gian thoải mái tùy thuộc vào sự nỗ lực của 
chính người bệnh, cùng với sự động viên 
của những người xung quanh, mà không 
cần sự có mặt thường xuyên của KTV, điều 
này rất có ý nghĩa với bài toán về nhân lực 
KTV PHCN trong khối lượng công việc 
khổng lồ của ngành PHCN [3][4][5].
Bảng 3.4 cho thấy có sự cải thiện 
khả năng ngồi trước và sau tập rõ rệt, càng 
củng cố thêm quan điểm rằng khả năng 
ngồi của người bệnh sau ĐQN không bị 
ảnh hưởng nhiều bởi tổn thương ở trên não 
và mạnh dạn đánh thức khả năng này của 
người bệnh sau ĐQN nên được khuyến 
nghị, vấn đề là thực hiện đúng quy trình và 
phối hợp chặt chẽ [3][4][5]. Kết quả bảng 
3.5 đánh giá sau tập có sự khác biệt về khả 
năng ngồi giữa các nhóm về thời điểm tập, 
trong đó nhóm tập sớm, từ 1 đến 3 ngày số 
lượng chiếm ưu thế hơn. Do được hỗ trợ 
tập ngồi của KTV hoặc người nhà, người 
bệnh dễ dàng thực hiện được khả năng 
này, nhưng khả năng kiểm soát thăng bằng 
đòi hỏi phải có sự tiến triển của sức cơ bên 
liệt. Nên trong số 38 bệnh nhân ngồi được, 
chỉ có 9 bệnh nhân ngồi được thăng bằng 
động và 29 bệnh nhân chỉ ngồi được thăng 
bằng tĩnh. Liên quan với bảng 3.2 đánh giá 
khả năng thực hiện các hoạt động sống cơ 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
63
bản hàng ngày, rõ ràng có sự bù trừ của bên 
lành nên khả năng này cải thiện là đương 
nhiên và không phụ thuộc vào sức cơ bên 
liệt, bảng 3.3. 
Trong nghiên cứu này có sự khác 
biệt ở khả năng thực hiện các hoạt động 
sống cơ bản hàng ngày với đối tượng bệnh 
nhân có nghề nghiệp khác nhau trước tập 
ngồi (bảng 3.6) trong đó đối tượng là lao 
động phổ thông có khả năng thấp nhất. 
Thực tế ĐQN có thể sẩy ra với bất kỳ ai 
và ở đâu, phải chăng đối tượng là lao động 
phổ thông không có thời gian rèn luyện 
sức khỏe nên khi bị bệnh nặng thường suy 
giảm khả năng nhiều hơn?
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
trên 101 bệnh nhân nhận thấy:
Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân:
Tuổi bệnh nhân đột quỵ não trung 
bình 63, 32. Tuổi bị ĐQN nhiều nhất là 
trên 60 tuổi (65,3%)
Đặc điểm về giới: ĐQN trong 
nghiên cứu này: nam nhiều hơn nữ (67,3% 
/ 32,7%)
Kết quả tập ngồi sớm:
Có sự cải thiện khả năng thực 
hiện các hoạt động sống cơ bản hàng ngày, 
Barthel trước tập mức 21,88 + 9,97 điểm. 
Sau tập ở mức 68,71 + 8,68 điểm.
Có sự cải thiện khả năng ngồi 
trước và sau tập.
Có sự khác biệt ở khả năng thực 
hiện các hoạt động sống cơ bản hàng ngày 
với đối tượng bệnh nhân có nghề nghiệp 
khác nhau trước tập ngồi, với p = 0,0001.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Trọng Lưu (2008), 
“ Nghiên cứu một số đặc điểm điều trị 
PHCN bệnh nhân sau đột quỵ não”, Y học 
thực hành, số 622, tr 79-84.
2. Bộ Y Tế (1997) , PHCN vận 
động cho bệnh nhân TBMMN _ Tài liệu 
hướng dẫn cho nhân viên y tế PHCN, tr 
25-31 và 55-60.
3. Nguyễn Đăng Khoa (2013) , 
“Phục hồi chức năng tai biến mạch máu 
não và chấn thương sọ não _ Bệnh viện 
Chợ Rẫy” , tr 5-6-7-8.
4. Cumming TB, Thrift AG, 
et al. (2011), “Very early mobilization 
after stroke fast-tracks return to walking: 
further results from the phase II AVERT 
randomized controlled trial”, Stroke 
42(1):153-8.
5. Diserens K, Michel P, et 
al (2006), “Early mobilization after 
stroke:Review of the literature”, Cebrovasc 
Dis 22:183-90. 

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_tap_ngoi_som_trong_phuc_hoi_benh_nhan_sau_dot_quy.pdf