Hiệu quả sử dụng Chela-Ferr® hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2016

Mục tiêu: 1) Xác định tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt; và 2) Đánh giá hiệu quả

của viên uống Chela-Ferr® trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai

phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2016.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 628 thai

phụ tuổi thai 26-28 tuần và nghiên cứu can thiệp tiến cứu trong 20

trường hợp thiếu máu thiếu sắt sử dụng Chela-Ferr® trong 1 tháng.

Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai là 11,6%; không có sự

khác biệt theo nhóm tuổi hoặc số con đã sinh; Tỷ lệ thiếu sắt là 67,3%,

thiếu sắt ở mức độ nặng là 24,5% và 42,8% dự trữ sắt giảm; Hemoglobin

tăng trung bình 0,76 g/dL (p<0,005); ferritin="" huyết="" thanh="" tăng="" trung="">

4,75 µg/L (p<0,05). tỷ="" lệ,="" tình="" trạng="" thiếu="" máu="" và="" các="" triệu="" chứng="">

đáng kể: 90% phụ nữ thiếu máu thiếu sắt đã hết hẳn thiếu máu hoặc cải

thiện rõ; trong số đó 100% thiếu máu thể nhẹ đã hết hoàn toàn.

Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu là 11,6%; trong số thiếu máu, thiếu sắt ở

mức độ nặng là 24,5% và dự trữ sắt giảm là 42,8%. Hemoglobin và

Ferritin huyết thanh huyết thanh cải thiện rõ rệt. Tình trạng thiếu máu

và các triệu chứng giảm đáng kể

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả sử dụng Chela-Ferr® hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2016", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả sử dụng Chela-Ferr® hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2016

Hiệu quả sử dụng Chela-Ferr® hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2016
ĐỖ QUAN HÀ, ĐINH BÍCH THỦY, NGUYỄN THÙY TRANG
18
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
Đỗ Quan Hà, Đinh Bích Thủy, Nguyễn Thùy Trang 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHELA-FERR®
HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU THIẾU SẮT
Ở THAI PHỤ TUỔI THAI 26-28 TUẦN
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2016
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đỗ Quan Hà, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: thiếu máu, thiếu sắt, 
phụ nữ mang thai, Chela-Ferr®.
Keywords: anemia, iron 
deficiency, pregnant women, 
Chela-Ferr®.
Tóm tắt
Mục tiêu: 1) Xác định tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt; và 2) Đánh giá hiệu quả 
của viên uống Chela-Ferr® trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai 
phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2016. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 628 thai 
phụ tuổi thai 26-28 tuần và nghiên cứu can thiệp tiến cứu trong 20 
trường hợp thiếu máu thiếu sắt sử dụng Chela-Ferr® trong 1 tháng. 
Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai là 11,6%; không có sự 
khác biệt theo nhóm tuổi hoặc số con đã sinh; Tỷ lệ thiếu sắt là 67,3%, 
thiếu sắt ở mức độ nặng là 24,5% và 42,8% dự trữ sắt giảm; Hemoglobin 
tăng trung bình 0,76 g/dL (p<0,005); Ferritin huyết thanh tăng trung bình 
4,75 µg/L (p<0,05). Tỷ lệ, tình trạng thiếu máu và các triệu chứng giảm 
đáng kể: 90% phụ nữ thiếu máu thiếu sắt đã hết hẳn thiếu máu hoặc cải 
thiện rõ; trong số đó 100% thiếu máu thể nhẹ đã hết hoàn toàn. 
Kết luận: Tỷ lệ thiếu máu là 11,6%; trong số thiếu máu, thiếu sắt ở 
mức độ nặng là 24,5% và dự trữ sắt giảm là 42,8%. Hemoglobin và 
Ferritin huyết thanh huyết thanh cải thiện rõ rệt. Tình trạng thiếu máu 
và các triệu chứng giảm đáng kể.
Từ khóa: thiếu máu, thiếu sắt, phụ nữ mang thai, Chela-Ferr®.
Abstract 
EFFECTIVENESS OF CHELA-FERR® IN SUPPORT FOR 
TREATMENT OF IRON DEFICIENCY ANEMIA AMONG 
PREGNANT WOMEN WITH GESTATIONAL AGE OF 26-28 
WEEKS AT THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS 
AND GYNECOLOGY 2016 
Objectives: (To determine the prevalence of anemia and iron 
deficiency among pregnant women; and 2) To evaluate the effectiveness 
of Chela-Ferr® in supporting treatment of iron deficiency anemia in 
pregnant women with gestational age of 26-28 weeks at the National 
Hospital of Obstetrics and Gynecology in 2016. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 18 - 23, 2017
19
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
1. Đặt vấn đề
Một vấn đề khá phổ biến ở phụ nữ mang thai 
(PNMT) là tình trạng thiếu máu dinh dưỡng, trong 
đó thường gặp nhất là thiếu máu thiếu sắt. Theo 
Tổ chức Y tế thế giới năm 2012, có khoảng 41,8% 
PNMT trên thế giới bị thiếu máu, một nửa trong số 
đó là thiếu máu do thiếu sắt [1].
Thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt có thể gây 
nhiều hậu quả đối với PNMT, thai và trẻ sau sinh. 
Thiếu máu làm tăng tỷ lệ các biến chứng trong thai 
nghén, tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và các biến cố 
sau đẻ. Thiếu máu thiếu sắt khi có thai làm tăng tỷ 
lệ sảy thai, đẻ non, thai chết lưu và giảm cân nặng 
khi sinh cũng như gây ảnh hưởng đến sự phát triển 
trí tuệ và vận động, làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ 
lệ tử vong của trẻ [2-4].
Một số nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ 
thiếu máu ở PNMT dao động khoảng 12,8% đến 
54,4% tùy thuộc vùng miền hoặc giai đoạn trong 
thai kỳ [5-7]. Bệnh viện Phụ Sản Trung ương đã 
quản lý thai cùng với sàng lọc thiếu máu và thiếu 
máu thiếu sắt từ nhiều năm nhưng trong những năm 
gần đây không có nghiên cứu nào về vấn đề này.
Viên uống Chela – Ferr® có chứa sắt và axit 
folic mới được đưa vào sử dụng ở Việt Nam trong 
thời gian gần đây và chưa có nghiên cứu nào trong 
nước đánh giá việc sử dụng Chela – Ferr®. 
Báo cáo này có các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu 
sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần tại Khoa Khám 
bệnh theo Yêu cầu - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương 
năm 2016.
2. Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của viên 
uống Chela – Ferr® trong hỗ trợ điều trị thiếu máu 
thiếu sắt ở thai phụ tuổi thai 26-28 tuần
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2016 
đến hết tháng 11/2016 tại Khoa Khám bệnh theo 
yêu cầu, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Thai phụ tuổi thai 26-28 tuần.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
Mục tiêu 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Mục tiêu 2: Nghiên cứu can thiệp tiến cứu, có 
so sánh trước-sau.
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.4.1. Mục tiêu 1
Subjects and Method: Cross sectional study among 628 pregnant women with gestational age of 
26-28 weeks and prospective interventional study among 20 pregnant women with iron deficiency 
anemia using Chela-Ferr® for 1 month. 
Results: The prevalence of anemia among pregnant women was 11.6%; with no difference by age 
groups of parity; The ratio of iron deficiency was 67.3%, severe deficiency accounted for 24.5% and 
42.8% decreased iron reserve; Average increase of Hemoglobin was 0.76 g/dL (p<0,005), of serum 
Ferritin 4.75 µg/L (p<0,05). The percentage, level of anemia and symptoms declined significantly: 
90% women with iron deficiency anemia no longer had anemia or improved; among them 100% of 
those have mild anemia fully recovered.
Conclusion: The prevalence of anemia was 11.6%; among those with anemia, severe deficiency 
accounted for 24.5% and 42.8% decreased iron reserve. Hemoglobin and serum Ferritin improved 
significantly. The situation of anemia and symptoms clearly improved.
Keywords: anemia, iron deficiency, pregnant women, Chela-Ferr®.
ĐỖ QUAN HÀ, ĐINH BÍCH THỦY, NGUYỄN THÙY TRANG
20
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Toàn bộ những thai phụ tuổi thai 26-28 tuần 
đến khám và quản lý thai tại Khoa Khám bệnh theo 
yêu cầu Bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ tháng 
8-11/2016. 
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu 
cắt ngang xác định một tỷ lệ [8]:
2
2
2/1 ..)(
d
qpZn ∝−=
n = Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu 
α = Lực của mẫu, với α = 0,05 thì hệ số Z1-α/2 =1,96
p = tỷ lệ thiếu máu ở PNMT, lấy bằng 29,4% 
(hay 0,294) theo nghiên cứu của Phạm Vân Thúy và 
cộng sự (2014) tại Thái Bình [2]. q = 1-p = 0,706
d = Sai số mong đợi, chọn d = 5% hay 0,05 
Cỡ mẫu tối thiểu n = 319, làm tròn là 320 thai phụ.
Chọn mẫu toàn bộ theo phương pháp lấy mẫu 
liên tiếp những thai phụ đủ điều kiện tham gia. Thực 
tế nghiên cứu do thu nhận khá nhanh nên đến hết 
tháng 11/2016, chúng tôi đã thu nhận được 628 
thai phụ đủ điều kiện tham gia vào nghiên cứu.
2.4.2. Mục tiêu 2
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Toàn bộ những thai phụ tuổi thai 26-28 tuần 
được chẩn đoán thiếu máu thể nhẹ đến vừa do 
thiếu sắt.
- Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu và 
cam kết khám lại sau 1 tháng.
Thiếu sắt trong nghiên cứu này được định nghĩa 
là xét nghiệm có hàm lượng Ferritin huyết thanh 
dưới 30,0 µg/L (giảm dự trữ sắt).
Tiêu chuẩn loại trừ.
- Đang có bệnh nhiễm trùng cấp, bệnh mạn tính.
- Dị ứng hoặc mẫn cảm với các thành phần 
của thuốc.
- Thiếu máu nặng.
Cách chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ.
Thực tế sàng lọc 628 thai phụ đã phát hiện 73 
trường hợp thiếu máu thể nhẹ đến vừa. Tuy nhiên, 
trong số đó chỉ có 49 trường hợp được chỉ định làm 
xét nghiệm Ferritin. Những trường hợp thiếu máu 
có thiếu sắt đều được mời tham gia nghiên cứu 
Đối tượng
Thiếu máu, Hb (g/dL)
Thiếu máu Thiếu máu nhẹ Thiếu máu vừa Thiếu máu nặng
Phụ nữ có thai <11,0 10,0-10,9 7,0-9,9 <7,0
Bảng 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu sử dụng trong nghiên cứu [9]
nhưng chỉ có 20 trường hợp đồng ý tham gia và 
cam kết đến khám, xét nghiệm lại.
Thuốc sử dụng trong nghiên cứu: 
Viên uống Chela-Ferr® có chứa Ferrochel®, là 
một dạng sắt hữu cơ, một chiết xuất amino axit – 
sắt bisglycinate (II), với khả dụng sinh học tương tự 
như sắt heme. Mỗi viên Chela – Ferr® chứa 28mg 
sắt dạng Ferrochel®. Liều dùng 1-2 viên Chela – 
Ferr® mỗi ngày để điều trị thiếu máu thiếu sắt ở 
PNMT là phù hợp với khuyến cáo của WHO [1]. 
Thai phụ được chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt 
đồng ý tham gia nghiên cứu được cấp 2 hộp (60 
viên) ChelaFerr® để sử dụng và được hẹn khám lại 
sau 1 tháng để làm lại xét nghiệm và phỏng vấn.
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu 
Đề tài đã được Hội đồng Khoa học và Đạo đức 
trong Nghiên cứu Y sinh học, Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương phê duyệt trước khi thực hiện. Nghiên 
cứu không thay đổi quy trình chăm sóc thai nghén 
thường quy tại Bệnh viện, kể cả đối với những thai 
phụ từ chối tham gia. Mọi ĐTNC đều được giải 
thích, tư vấn đầy đủ và tự nguyện đồng ý tham gia. 
Thông tin cá nhân được giữ bí mật, chỉ công bố kết 
quả tổng hợp.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc điểm của đối tượng 
nghiên cứu
Tuổi trung bình của ĐTNC là 30,19 ± 5,02; ít 
nhất là 18, lớn nhất là 49.
ĐTNC chưa sinh lần nào chiếm tỷ lệ cao nhất 
48,9%, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên chiếm 14%. Số 
thai phụ đã phá thai 1-2 lần chiếm tỷ lệ 32,3%, 
5,9% đã phá thai từ 3 lần trở lên.
3.2. Tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu 
thiếu sắt
Trong 628 ĐTNC được sàng lọc, có 73 ca thiếu 
máu, chiếm 11,6%. Trong số 73 trường hợp có 49 
Nhóm tuổi Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
< 20 tuổi 4 0,6
20 – 24 tuổi 56 8,9
25 – 29 tuổi 245 39,0
30 – 34 tuổi 201 32,0
35 – 39 tuổi 93 14,8
≥ 40 tuổi 29 4,7
Tổng 628 100
Bảng 2. Phân bố nhóm tuổi 
ca (67,1%) thiếu máu nhẹ và 24 (32,9%) thiếu máu 
vừa, không có ca nào thiếu máu nặng. Không có sự 
khác biệt về tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ theo nhóm 
tuổi và số lần sinh. Trong số này chỉ có 49 trường 
hợp được làm xét nghiệm Ferritin.
Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt là 67,3%, trong đó 
24,5% thiếu sắt ở mức độ nặng; và 42,8% dự trữ 
sắt giảm. Số thiếu máu có Ferritin bình thường 
chiếm 32,7%.
3.3. Hiệu quả hỗ trợ điều trị thiếu máu 
thiếu sắt
Tổng cộng có 20 người đồng ý tự nguyện tham 
gia, cam kết khám lại sau 1 tháng và được thu 
nhận vào nghiên cứu can thiệp. Họ được cấp 2 hộp 
(60 viên) ChelaFerr® để sử dụng và được hẹn khám 
lại sau 1 tháng. Tại lần khám lại, số viên trung bình 
các ĐTNC đã sử dụng là 48 viên. 
Mức tăng hemoglobin trung bình của các ĐTNC 
là 0,76 g/dL với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ 
rệt (t-test ghép cặp một phía). Do có sự thay đổi như 
vậy, tất cả các ĐTNC thiếu máu nhẹ được xét nghiệm 
lại đều hết thiếu máu. Trong số 5 ĐTNC thiếu máu vừa 
được cấp và sử dụng ChelaFerr® và xét nghiệm lại, 3 
người chuyển sang thiếu máu mức độ nhẹ (60%- số 
liệu không trình bày trong bảng). Như vậy, tỷ lệ thiếu 
máu đã giảm khoảng 6 lần với 3 người sau can thiệp 
còn thiếu máu nhưng đều ở mức độ nhẹ.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 18 - 23, 2017
21
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Biểu đồ 1. Tỷ lệ thiếu máu (n=628)
Biểu đồ 2. Ferritin huyết tương trong nhóm thiếu máu (n=49)
Hemoglobin (g/dL)
Giá trị p
Trước (trung bình) Sau (trung bình) Mức tăng trung bình
10,49 ± 0,24 11,25 ± 0,30 0,76 ± 0,23 0,003
Bảng 3. So sánh hàm lượng Hemoglobin trước và sau can thiệp
Mức tăng Ferritin huyết thanh trung bình của 
các ĐTNC là 4,75 µg/L với sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê rõ rệt (t-test ghép cặp một phía).
Các kết quả thu được số người có từng triệu 
chứng (mệt mỏi/hoa mắt/ chóng mặt; hồi hộp/
đánh trống ngực/nhịp tim nhanh; táo bón và cảm 
giác chán ăn) đều giảm sau khi được sử dụng thuốc.
4. Bàn luận
4.1. Một số đặc điểm của đối tượng 
nghiên cứu 
Kết quả của chúng tôi cho thấy ĐTNC có độ 
tuổi từ 25-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (39,0%), sau đó 
là nhóm tuổi từ 30-34 (32,0%); tương tự nghiên cứu 
tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội (2012-2013) với tỷ 
lệ cao nhất ở nhóm 20-34 tuổi (89,4%) [5]. Cả 2 
nghiên cứu đều thực hiện ở Hà Nội trong thời gian 
gần đây nên có lẽ có sự tương đồng cao.
4.2. Tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu 
thiếu sắt
Kết quả của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thiếu máu 
ở PNMT là 11,6%. So với một số nghiên cứu tại 
nước ngoài, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trong nghiên 
cứu này thấp hơn một số nước như Malaysia 34,6% 
[10], Ấn độ 84,9% [11]. Sự khác biệt này cho thấy 
thiếu máu ở PNMT ở Việt Nam tuy đã thấp hơn so 
với các nước khác trong khu vực nhưng vẫn đang 
là một vấn đề đáng quan tâm.
Bảng 5 so sánh kết quả của chúng tôi với tỷ lệ 
thiếu máu ở PNMT trong các nghiên cứu trước đây 
tại Việt Nam:
Có thể thấy một xu hướng chung là tỷ lệ thiếu 
máu ở PNMT đã giảm dần qua các năm vừa qua, 
Ferritin huyết thanh (µg/L)
Giá trị p
Trước (trung bình) Sau (trung bình) Mức tăng trung bình
22,80 ± 2,48 27,55 ± 2,15 4,75 ± 2,12 0,02
Bảng 4. So sánh hàm lượng Ferritin huyết thanh trước và sau sử dụng thuốc
Biểu đồ 3. Số người mắc triệu chứng trước và sau sử dụng ChelaFerr®
ĐỖ QUAN HÀ, ĐINH BÍCH THỦY, NGUYỄN THÙY TRANG
22
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tác giả Năm NC Địa điểm NC Tỷ lệ (%)
Đặng Thị Hà [12] 2000 TP. Hồ Chí Minh 38,1
Nguyễn Viết Trung [13] 2002 Hà Nội 37,02
Nguyễn Xuân Ninh [14] 2006 Hà Nội 36,7
Võ Thị Thu Nguyệt [7] 2008 TP. Hồ Chí Minh 20,19
Phạm Vân Thúy và CS [2] 2014 Thái Bình 29,4
Nguyễn Quang Tùng [5] 2012-2013 Hà Nội 12,8
NC của chúng tôi 2016 Hà Nội 11,6
Bảng 5. Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trong nghiên cứu của các tác giả
có lẽ do sự phát triển kinh tế xã hội giúp cho người 
dân có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, đặc 
biệt là chăm sóc sức khỏe thai nghén. 
Kết quả của chúng tôi thấp hơn nhiều so với các 
nghiên cứu khác nhưng khá tương đồng và chỉ hơi 
thấp hơn so với của Nguyễn Quang Tùng (2012-
2013) tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội [5]. Điều này 
có thể giải thích được do hai nghiên cứu trong thời 
gian khá gần nhau và trên cùng địa bàn Hà Nội. 
Ngoài ra, đối tượng đến Khoa Khám bệnh theo 
yêu cầu cũng có thể có điều kiện kinh tế và dinh 
dưỡng tốt hơn so với mặt bằng chung.
Trong số 73 trường hợp thiếu máu có tới hai 
phần ba (67,1%) là thiếu máu nhẹ, 32,9% thiếu 
máu mức độ vừa, không có thiếu máu nặng; tương 
tự của Võ Thị Thu Nguyệt với tỷ lệ thiếu máu nhẹ và 
trung bình lần lượt là 62,3% và 37,7% [7]. 
Trong số 73 thai phụ thiếu máu, chỉ có 49 được 
làm xét nghiệm Ferritin huyết thanh cho thấy xét 
nghiệm này còn chưa được thực sự coi trọng. Trong 
số đó, có 33 trường hợp được khẳng định là thiếu 
máu thiếu sắt, chiếm tỷ lệ 67,3%, trong đó 24,5% 
(SF<12µg/l) thiếu sắt ở mức độ nặng và 42,8% dự 
trữ sắt giảm (SF=12-30µg/l).
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của 
Đặng Thị Hà (2000) cho thấy trong số thai phụ 
thiếu máu, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt là 82,64% [12] 
và Võ Thị Thu Nguyệt (2008) cho thấy tỷ lệ này là 
85,25% [7]; đều cao hơn của chúng tôi.
Nguyễn Quang Tùng (2012-2013) cho kết quả 
thiếu sắt nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội 
là 79,6% trong nhóm thiếu máu. Trong đó thiếu 
sắt ở mức độ nặng 67,1%, dự trữ sắt giảm chiếm 
12,5% [5].
Kết quả của chúng tôi có thấp hơn đôi chút so 
với các tác giả trên, một phần có thể do đặc thù về 
điều kiện kinh tế của ĐTNC. Tuy nhiên vẫn có thể 
thấy thiếu máu ở Việt Nam vẫn chủ yếu là do thiếu 
dinh dưỡng, trong đó thiếu sắt chiếm chủ yếu. 
4.3. Hiệu quả của viên uống Chela – Ferr® 
trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt
Việc sử dụng viên uống Chela – Ferr® đã giúp 
tăng đáng kể hàm lượng Hemoglobin ở những phụ 
nữ thiếu máu thiếu sắt trong nghiên cứu này. Sau 
một tháng sử dụng thuốc, Hemoglobin trung bình 
đã tăng từ 10,49 lên 11,25 g/dL. Mức tăng 0,76 
g/dL được ghi nhận chỉ trên một cỡ mẫu không lớn 
nhưng có ý nghĩa thống kê. 
Theo Võ Thị Thu Nguyệt (2008), tỷ lệ thiếu máu 
ở nhóm PNMT không được bổ sung viên sắt là 44% 
và ở nhóm được bổ sung viên sắt là 6,8%; ở nhóm 
sử dụng sữa có bố sung sắt là 11,6%, thấp hơn hẳn 
so với nhóm còn lại (47,8%) [7]. Tuy so sánh các 
quần thể khác nhau, khác với nghiên cứu của chúng 
tôi nhưng nhìn chung tỷ lệ thiếu máu ở nhóm có can 
thiệp thấp hơn 4-6 lần so với nhóm không can thiệp; 
khá tương tự mức giảm 6 lần trong nghiên cứu này.
Nghiên cứu bổ sung sắt trong 12 tuần tại Thái 
Bình cho thấy hàm lượng Hb tăng 0,86g/dL ở nhóm 
thai phụ 21-24 tuần [2] là một nhóm có tuổi thai 
gần tương đồng với ĐTNC của chúng tôi. Chúng 
tôi cho bổ sung ChelaFerr® chỉ trong 1 tháng cũng 
đã có mức tăng gần tương đương (0,76 g/dL) cho 
thấy hiệu quả rõ rệt của viên uống ChelaFerr®, mặc 
dù chỉ sử dụng trong thời gian 1 tháng.
Chúng tôi đã ghi nhận mức tăng rõ rệt hàm 
lượng Ferritin huyết thanh sau sử dụng thuốc. Với 
mức tăng trung bình 4,75 µg/L có ý nghĩa thống kê, 
sự gia tăng hàm lượng Hemoglobin đã nêu ở phần 
trên có thể giải thích được và rõ ràng là kết quả của 
việc bổ sung sắt trong vòng 1 tháng vừa qua.
Chính vì lý do đó, tính chung trong nghiên cứu 
này có tới 90% số đối tượng nghiên cứu thiếu máu 
thiếu sắt đã hết hẳn thiếu máu hoặc cải thiện đáng 
kể và nhiều khả năng sẽ còn được cải thiện nếu tiếp 
tục sử dụng thuốc; trong số đó 100% phụ nữ thiếu 
máu thể nhẹ đã hết hoàn toàn.
Kết quả cũng cho thấy số người có mắc các 
triệu chứng như: mệt mỏi/hoa mắt/ chóng mặt; 
hồi hộp/đánh trống ngực/nhịp tim nhanh; và cảm 
giác chán ăn đều đã giảm rõ rệt. Trong số các triệu 
chứng, một tác dụng phụ đáng quan tâm của việc 
sử dụng viên sắt là táo bón đã giảm (từ 5 xuống chỉ 
còn 2 người mắc); cho thấy viên uống ChelaFerr® 
không gây tăng, thậm chí có thể giảm nguy cơ táo 
bón cho người sử dụng.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 18 - 23, 2017
23
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
5. Kết luận
5.1. Tỷ lệ thiếu máu và thiếu máu thiếu sắt
• Tỷ lệ thiếu máu ở 628 PNMT là 11,6%; không 
có sự khác biệt theo nhóm tuổi hoặc số con đã sinh.
• Trong số 49 thai phụ thiếu máu được xét nghiệm 
Ferritin, tỷ lệ thiếu sắt là 67,3%, trong đó thiếu sắt ở 
mức độ nặng là 24,5% và 42,8% dự trữ sắt giảm.
5.2. Hiệu quả của viên uống Chela – Ferr® 
trong hỗ trợ điều trị thiếu máu thiếu sắt
Nghiên cứu thuần tập trên 20 phụ nữ thiếu máu 
vừa và nhẹ, có thiểu sắt, sử dụng viên uống Chela 
– Ferr® trong 1 tháng cho thấy:
• Hemoglobin và Ferritin huyết thanh huyết 
thanh cải thiện rõ rệt: Hemoglobin tăng từ 10,49 
lên 11,25 g/dL, mức tăng trung bình 0,76 g/dL; 
Ferritin huyết thanh tăng trung bình 4,75 µg/L (từ 
22,80 lên 27,55 µg/L).
Tài liệu tham khảo
1. WHO, Guideline: Daily iron and folic acid supplementation in pregnant 
women. 2012; Geneva: World Health Organization,.
2. Thúy, P.V. and N.T.M. Chính., Tình trạng thiếu máu của phụ nữ có 
thai 13-24 tuần sau 12 tuần thử nghiệm uống viên sắt tại Quỳnh Phụ, 
Thái Bình. Tạp chí Y học Dự phòng, 2014; 4(153)(xxiv): p. 68.
3. Lệ, N.T. and T.Q. Vinh, Tình hình thiếu máu thiếu sắt trong quý hai 
của thai kỳ và hiệu quả của điều trị hỗ trợ. Tạp chí Phụ Sản, 2013; 11 
(4)(12/2013).
4. Phạm Thị Thúy Hòa, Nguyễn Lân, and Trần Thúy Nga, So sánh hiệu 
quả bổ sung viên sắt với acid folic hàng tuần và hàng ngày lên tình 
trạng thiếu máu của phụ nữ nông thôn thời kỳ có thai. Tạp chí Y học 
Dự phòng, 2000; 4(46)(X): p. 24-30.
5. Nguyễn Quang Tùng, Thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai tại 
Hà Nội năm 2012-2013. Tạp chí Y học Thực hành, 2014; 940(11/2014).
6. Lê Minh Chính, Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ 
mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện 
pháp can thiệp. 2010; Trường Đại học Thái Nguyên.
7. Võ Thị Thu Nguyệt, et al., Khảo sát tình trạng thiếu máu thiếu sắt 
trong 3 tháng giữa thai kỳ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại 
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí 
Minh, 2008; 12(1).
8. Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Phương pháp nghiên cứu khoa học 
trong y học và sức khỏe cộng đồng. 2006; Nhà xuất bản Y học.
9. WHO, Haemoglobin concentrations for the diagnosis of anaemia and 
assessment of severity. 2011; Geneva, World Health Organization.
10. Hassan, R., W.Z. Abdullah, and N.H. Nik Hussain, Anemia and iron 
status of Malay women attending an antenatal clinic in Kubang Kerian, 
Kelantan, Malaysia. Southeast Asian J Trop Med Public Health. 2005; 
36(5): p. 1304-7.
11. G. S. Toteja, P. Singh, and e. all, Prevalence of anemia among 
pregnant women and adolescent girls in 16 districts of India. Food and 
Nutrition Bulletin, 2006; 27 no 4: p. 311-315.
12. Đặng Thị Hà, Tầm soát thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ tại Thành 
phố Hồ Chí Minh. Luận án Tiên sỹ Y học, 2000.
13. Nguyễn Viết Trung, Nghiên cứu một yếu tố liên quan đến nguyên 
nhân và cơ chế gây thiếu máu ở phụ nữ có thai. 2003; Học viên Quân Y.
14. Nguyễn Xuân Ninh, et al., Tình trạng thiếu máu ở trẻ em và phụ nữ 
tuổi sinh đẻ tại 6 tỉnh đại diện ở Việt Nam 2006. Chuyên đề Hội nghị 
khoa học Hội dinh dưỡng lần thứ 3, 2006; p. 15-18.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_su_dung_chela_ferr_ho_tro_dieu_tri_thieu_mau_thieu.pdf