Hiệu quả quy trình điều trị khớp giả thân xương dài chi trên bằng ghép tế bào gốc tuỷ xương tự thân qua các đường hầm
Nhằm đánh giá hiệu quả củaquy trình ghép khối tế bào gốc tuỷ xươngtự thân
qua các đường hầm trong điều trịkhớp giả thân xương dài ở chi trên. Nghiên cứu
mô tả tiến cứu trên 30 bệnh nhân khớp giả thân xương dài ở chi trên được ghép
khối tế bào gốc tuỷ xương tự thân qua các đường hầm khoan xuyên ổ khớp giả,tại
Viện Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Việt Đức và Khoa Miễn dịch-di truyền
& sinh học phân tử, Viện Huyết học truyền máu TƯ. Tất cả các bệnh nhân đều
được thực hiện đầy đủ theo quy trình đề ra. Không có biến chứng tại nơi lấy và
ghép tuỷ xương. Trung bình dịch tủy xương sau tách có số lượng TB CD34(+) và
TB CD73(+) là 481,2 ± 211,0 TB/µlvà395,1 ± 175,3 TB/µl,được ghép chobệnh
nhân.Thời gian tiến hành quy trình trong phòng mổ trung bình là 201 ± 47phút.
Thời gian nằm viện trung bình là 2,8 ± 0,6 ngày . Tỷ lệ liền xương 93,3% (28/30
bệnh nhân) với thời gian theo dõi trung bình trên 12 tháng cho thấyquy trình ghép
tế bào gốc tuỷ xương tự thân qua các đường hầm điều trị khớp giảthân xương
dàichi trên làquy trìnhđơn giản, an toàn và hiệu quả với tỷ lệ liền xương cao.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả quy trình điều trị khớp giả thân xương dài chi trên bằng ghép tế bào gốc tuỷ xương tự thân qua các đường hầm
Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung 265 HIỆU QUẢ QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ KHỚP GIẢ THÂN XƯƠNG DÀI CHI TRÊN BẰNG GHÉP TẾ BÀO GỐC TUỶ XƯƠNG TỰ THÂN QUA CÁC ĐƯỜNG HẦM THE EFFECTIVENESSOF PROCEDURES : PECUTANEOUS DRILLING AND AUTOLOGOUS BONE MARROW DERIVED STEM CELL GRAFTING FORUPPER LIMB LONG BONE DIAPHYSEAL NONUNIONS TÓM TẮT Nhằm đánh giá hiệu quả củaquy trình ghép khối tế bào gốc tuỷ xươngtự thân qua các đường hầm trong điều trịkhớp giả thân xương dài ở chi trên. Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 30 bệnh nhân khớp giả thân xương dài ở chi trên được ghép khối tế bào gốc tuỷ xương tự thân qua các đường hầm khoan xuyên ổ khớp giả,tại Viện Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Việt Đức và Khoa Miễn dịch-di truyền & sinh học phân tử, Viện Huyết học truyền máu TƯ. Tất cả các bệnh nhân đều được thực hiện đầy đủ theo quy trình đề ra. Không có biến chứng tại nơi lấy và ghép tuỷ xương. Trung bình dịch tủy xương sau tách có số lượng TB CD34(+) và TB CD73(+) là 481,2 ± 211,0 TB/µlvà395,1 ± 175,3 TB/µl,được ghép chobệnh nhân.Thời gian tiến hành quy trình trong phòng mổ trung bình là 201 ± 47phút. Thời gian nằm viện trung bình là 2,8 ± 0,6 ngày . Tỷ lệ liền xương 93,3% (28/30 bệnh nhân) với thời gian theo dõi trung bình trên 12 tháng cho thấyquy trình ghép tế bào gốc tuỷ xương tự thân qua các đường hầm điều trị khớp giảthân xương dàichi trên làquy trìnhđơn giản, an toàn và hiệu quả với tỷ lệ liền xương cao. Từ khóa : khớp giả, tế bào gốc, khoan đường hầm. Ngô Bá Toàn1 Trần Đình Chiến2 1Bệnh viện Việt Đức Hà nội 2Học viện quân y, Hà nội Ngo Ba Toan1 Tran Dinh Chien2 1VietDuc hospital, Hanoi, Vietnam 2Vietnam military medical university, Hanoi, Vietnam ABTRACT To evaluate the effectiveness of procedures : percutaneous drilling and autologous bone marrow derived stem cells grafting to treat the upper limb long bone diaphyseal nonunions. 30 patients with nonunions of long bone were treated with percutaneous drilling and autologous bone marrow derived stem cells grafting in Institute of Orthopaedic-Traumatology, VietDuc Hospital and Department of Immunology-Cytogenetic & Molecular Biology, National Institute of Hematology and Blood Transfusion of Vietnam. All these patients were followed the procedures. None of the patients had post-op complications. The bone marrow grafts used for these patients contained a mean of 481,2 ± 211,0 TB/µland395,1 ± 175,3 TB/µl. The time of process in the operation room was 201 ± 47 minutes. The mean time TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 266 I. ĐẶTVẤNĐỀ Khớp giảthân xương dàilàbiến chứngcó thể gặp sau gãy xương do những nguyên nhân cơ học, sinh học khác nhau gây nên. Việc điều trị khớp giả có thểđể lại nhiều di chứng nặng nề, thậm chí cắt cụt chi, đặc biệt với những trường hợp có phần mềm xấu, tiền sử nhiễm trùng, khuyết xương hoặc diện gãy teo đét...Có nhiều phương pháp can thiệp được đưa ra để điều trị ổ khớp giả xương dài với mục tiêu cuối cùng đem lại liền xương cho ổ khớp giả.Một trong các phương pháp tiên phong trong điều trị khớp giả là khoan tạo đường hầm qua ổ khớp giả ít xâm lấn của Beck với mục đích tăng cấp máu tủy xương vào ổ khớp giả nhằm phát động quá trình liền xương [1]. Hiện nay phương pháp này rất ít được sử dụng đơn thuần trên lâm sàng do tỉ lệ liền xương thấp. Nhiều nghiên cứugần đây cho thấy tế bào gốc tuỷ xương (TBGTX)có khả năng tạo xương mới. Friedenstein khi ghép khối tế bào tuỷ xương hoặc tuỷ xương invitro trong các khoang khuếch tán đều thấy sự hình thành xương và sụn [2]. Hernigou (2005) báo cáo 60 trường hợp khớp giả thân xương chày được tiêm tuỷ xương tự thân đã qua xử lýcó sử dụng máy tách tế bàođể tăng số lượng vàđộ tập trung tế bào gốc (TBG)được ghép, tỷ lệ liền xương đạt 88,3%, cho thấy đây là một phương pháp ít xâm lấn, đơn giản và hiệu quả [3], tuy nhiên việc tiêm khối dịch vào ổ khớp giả gặp nhiều khó khăn. Tại Việt nam các nghiên cứu ứng dụng TBGđiều trịkhớp giảcòn hạn chế. Năm 2009, Nguyễn Mạnh Khánh, Nguyễn Tiến Bình và cộng sựbáo cáo trên 52 bệnh nhân khớp giả thân xương dàiđược tiêm tủy xương tự thân đã qua xử lý tăng số lượng và mật độTBG đem lại tỷ lệ liền xương88,5% , tác giả cũng nhận thấy việc tiêm vào ổ khớp giả xơ sợi là rất khó khăn[4].Việc tiêm một khối lượng lớn dịch tủy xương côđặc vào vùng xơ của ổ khớp giả theo phương pháp thông thường rất khó khăn, tạo phân bố không đều thậm chí có thể gây vỡ tế bào hoặc trào ra ngoài da, các nghiên cứu ứng dụng ghép tuỷ xương điều trị khớp giảthân xương dài tại Việt nam cũng như trên thế giới vẫn chưa đề cập tới vấn đề này. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng quy trình lấy dịch tủy xương, tách khối dịch TBG, ghép khối dịch này vào ổ khớp giả qua các đường hầm khoan xuyên xương và theo dõi sau mổ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nàyvới mục tiêu :đánh giáhiệu quảliền xương của quy trình ghép khối dịch TBGTX qua các đường hầm trongđiều trị khớp giả thân xương dài ở chi trên. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:người trưởng thành tuổi từ 17 đến 71 tuổi được chẩn đoán khớp giảthân xương dàichi trên (theo phân loại Weber & Cech) trên phim Xquang có khe khớp giả nhỏ hơn 5mm, sau kết hợp xương hoặc điều trị bảo tồn bằng bột tại Viện Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Việt Đức từ tháng 4/2008 tới tháng 8/2015, không bị bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các bệnh cấp tính.Loại trừ các bệnh nhân khớp giả khuyết xương lớn, khớp giả có dấu hiệu nhiễm trùng hoặc không tự nguyện tham gia nghiên cứu. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Quy trình lấy khối dịch TBGTX: Tiến hành trong điều kiện vô trùng tại phòng mổ bệnh viện Việt đức, chúng tôi tiến hành lấy dịch tủy xương dựa theo qui trình của Hernigou [5]: Tuỷ xương được lấyqua da từgai chậu sau trên hai bên bằng kim lấy tuỷ cóđường kính 2,4 mm, đưa kim vào sâu trong phần xương xốp 4-6cmtráng chống đông bằng heparin (50UI/ ml huyết thanh mặn 0,9%). Mỗi lần hút không quá 4ml với các vị trí chọc hút thay đổi, để đạt tổng thể tíchdịch hospitalization was 2,8 ± 0,6 days. Bone union was obtained in 28 patients (93,3%) at an average of 12 months follow up. The procedures : Percutaneous drilling and autologous bone marrow derived stem cells grafting is simple, effective and safe process for the treatment of the upper limb long bone diaphyseal nonunions with the comparative bone healing rate. Key words: nonunions, stem cells, drilling. Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung 267 tủy xươngsau khi lấy là 150ml. Dịch tủy xương này được tách bằng phương pháp ly tâm tỷ trọng, để đạt thể tích cuối cùng chứa TBG là 20 ml.Tiến hành xét nghiệm xác định số lượng tế bào tuỷ xương,TBG CD34(+) và CD73(+) tại Khoa Miễn dịch-Di truyền và Sinh học phân tử,Viện Huyết học truyền máu TW. Quy trình khoan tạo các đường hầm và ghép dịch TBG: Tại phòng mổ, xác định ổkhớp giả thân xương dàiở chi trên dựa trên màn huỳnh quang tăng sáng (C-arm), dùng khoan y tế với mũi kim kirschner (1,2-2,0) khoan qua da tạo các đường hầm xuyên ổ khớp giả từ hai vị trí phía trong và ngoài thân xương (khoan trên 3 bình diện tạo góc 45 độ, 90 độ và 135 độ với trục thân xương, tránh các phương tiện kết xương nếu có), mỗi bên khoan 9-10 đường hầmđể đạt 18-20 đường hầm cho một ổ khớp giả. Khốidịch TBGTXsau tách (20 ml) được bơmqua các đường hầm vào vùng khớp giả và xung quanh bằng kim 18G qua hai vị trí khoan qua da đã mô tả trên, tốc độ bơm khoảng 20ml/phút. Khối dịch TBGTX được ghép cho bệnh nhân trong vòng 6 giờ kể từ khi lấy tuỷ. Quy trình theo dõi sau ghép: Đánh giá diễn biến vùng lấy tủy xương, vùng ghép và tình trạng toàn thân sau mổ.Giữ nguyên phương tiện kết hợp xương và bó bột tăng cường4 tuần cho tất cả các bệnh nhân, không tỳ đè, chịu lực trong thời gian này. Các bệnh nhân được phép hoạt động nhẹ với những động tác không chịu lực trong 4 tuần sau, khi có liền xương được chịu lực tăng dần. Nếu xương can tốt,bột hoặc phương tiện kết hợp xươngđược tháo bỏ, thời gian cố định bột không quá 3 tháng. Bệnh nhânđược khám lại và chụp X quang định kỳ sau ghép 1 tháng và hàng 3 tháng đến khi xương liền đểđánh giá tiến triển can xương. Đánh giá kết quả: Kết quả liền xương được đánh giá dựa trên dấu hiệu lâm sàng và X quang (mức độ can xương được đánh giá tuỳ theo sự hình thành xương mới qua ổ gãy tại 4 thành xương, liền xương là khi có hình ảnh can xương ít nhất 3 trên 4 thành xương trên phim thẳng và nghiêng).Nếu bệnh nhân không có tiến triển liền xương sau ghép TBGTX qua các đường hầm xuyên ổ khớp giả 6 tháng được coi là thất bại và chuyển điều trị phương pháp khác. III. KẾTQUẢ 3.1 Đặc điểm của bệnh nhân: 30 bệnh nhâncó những đặc điểm sau:Giới tính: 20 nam (66,7%) và10 nữ (33,3%).Tuổi: trung bình 33tuổi.Vị trí gãy: 25 bệnh nhân khớp giả vùng cẳng tay (83,3%), 5 bệnh nhân khớp giả vùng cánh tay (16,7%). Điều trị trước ghép: 2 bệnh nhân bó bột (6,7%), 28 bệnh nhân kết hợp xương bên trong (93,7%). Có 17 bệnh nhân(56,7%) có sẹo mổ cũ xấu, xơ sẹo nhiều hoặc sau vá da, chuyển vạt che xương... Bảng 1. Kết quả liền xương sau ghép và phân loại khớp giả (n=30) Phân loại Weber & Cech Tổng C1 C2 C3 C4 C5 C6 C7 Liền xương 10 9 6 3 0 0 0 28 Không liền xương 0 0 0 0 2 0 0 2 Cả 2 trường hợp bệnh nhân không liền xương đều có ổ khớp giả nhiều mảnh (C5) và đều trên xương cánh tay. 3.2 Quy trình thực hiện: Tất cả các bệnh nhân đều được thực hiện đúng theo quy trình đề ra.Số lượng dịch tủy xương lấy ra là 150ml, tách khối dịch TBG là 20ml.Thời gian từ tiến hành mổ (từ khi lấy tủy tới sau khi ghép dịch TBG vào ổ khớp giả) trung bình là : 201 ± 47 phút.Không có biến chứng, tai biến nào trong quá trình phẫu thuật, hậu phẫu và theo dõi xa.Thời gian nằm viện trung bình ngắn : 2,8 ± 0,6 ngày (2-5 ngày). 3.3 Đặc điểm khối TBGTX: TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016 268 Sự khác biệt về số lượng TB CD34(+), CD73(+) trước và sau quy trình tách cô đặc TBGTX là có ý nghĩa thống kê (p<0,05). 3.4 Kết quả ghép khối dịch TBGTX: Qua theo dõi các bệnh nhân sau ghép trung bìnhtrên 12 tháng chúng tôi thu được kết quả liền xương : 28/30 bệnh nhân (93,3%). Sự khác biệt về tổng số TBG CD34(+)giữa hai nhóm bệnh nhân có liền xương và không liền xương là có ý nghĩa thống kê (p<0,05). IV. BÀNLUẬN Qua nghiên cứu trên 30 bệnh nhân khớp giả thân xương dài được phẫu thuật ghép khối dịch TBGTX tự thân qua các đường hầm xuyên ổ khớp giả chúng tôinhận thấy : 4.1 Đặc điểm bệnh nhân : Đa số là các bệnh nhân nam chiếm 66,7% và nữ chiếm 33,3% với độ tuổi trung bình trẻ hầu hết đang trong độ tuổi lao động : 33 tuổi, nên cần nhanh chóng trả lại khả năng lao động cho bệnh nhân. Đặc biệt có 17 bệnh nhân (56,7%) có sẹo mổ cũ xấu, xơ sẹo nhiều hoặc sau vá da, chuyển vạt che xương... với nguy cơ lộ xương hoặc nhiễm trùng cao nếu phải mổ mở ghép xương. Có 2 bệnh nhân không liền xương sau ghép là 2 bệnh nhân có ổ khớp giả nhiều mảnh thân xương cánh tay (C5) (Bảng 1) cho thấy độ phức tạp của ổ khớp giả có ảnh hưởng đến khả năng liền xương sau ghép. 4.2 Quy trình thực hiện : Quy trình từ khi lấy dịch tủy xương cho tới khi ghép vào ổ khớp giả qua các đường hầm được tuân thủ nghiêm ngặt, qua thực hiện cho thấy các bước tiến hành khá thuận lợi, đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên việc khoan tạo các đường hầm với mũi khoan đường kính nhỏ (1,2) tương đối khó dễ gây cong hoặc gãy mũi khoan, có 1 bệnh nhân bị gãy mũi khoan phải thay bằng mũi khoan đường kính lớn hơn (1,4). Về số lượng đường hầm M. E. Pusitz và E. V. Davis sử dụng 30 đến 50 mũi khoan cho mỗi ổ khớp giả, các tác giả cho rằng việc khoan xuyên ổ khớp giả nhằm mục tiêu mở thông diện khớp giả với bên ngoài để các dịch máu, tủy xương và các tế bào hạt có thể xâm nhập nuôi dưỡng vùng khớp giả, do vậy nhiều đường khoan tạo nhiều cơ hội liền xương hơn [1], tuy nhiên tác giả khoan nhiều bình diện khác nhau với nhiều đường vào thân xương để xuyên đường hầm qua ổ khớp giả. Trên thực tế chúng tôi nhận thấy việc khoan số đường hầm trên 18 đường hầm cho một ổ khớp giả chi trên và 20 đường hầm cho một ổ khớp giả chi dưới với cùng một điểm vào qua da và thành ổ khớp giả là khá khó khăn, có 4 bệnh nhân (khớp giả xương trụ và xương quay) chỉ khoan được 18 đường hầm mặc dù có C-arm định hướng nhưng do xương nhỏ mũi khoan thường trượt vào các đường hầm cũ. Chính Bảng 2. Số lượng tế bào tuỷ xương trong khối dịch TBGTX(n=30) TB tuỷ xương Trước tách Sau tách Tổng số TB hồng cầu 3,9 ± 0,8 x106 TB 1,4 ± 0,8 x106 TB Tổng số TB bạch cầu 13,9 ± 4,6 x103 TB 61,7 ± 22,9 x103 TB Tổng số TB tiểu cầu 61,2 ± 37,8 x103 TB 157,8 ± 98,7 x103 TB Số lượng TB CD34(+) 101,8 ± 33,7 TB/µl 481,2 ± 211,0 TB/µl Số lượng TB CD73(+) 80,8 ± 23,5 TB/µl 395,1 ± 175,3 TB/µl Bảng 3. Kết quả liền xương sau ghép và số lượng TBG ghép (n=30) Kết quả Số BN Tổng SL TB CD73(+) Tổng SL TB CD34(+) Có liền xương 28 8,7 ± 3,0 x1066 10,1 ± 2,9 x1066 Không liền xương 2 5,2 ± 0,3 x1066 5,6 ± 0,4 x1066 Phần 3: Phẫu thuật chấn thương chung 269 qua các đường hầm này mà việc bơm khối dịch TBG vàoổ khớp giảxơ sụn và phần mềm xung quanh rất dễ dàng, không bị thất thoát dịch ghép.Thời gian tiến hành phẫu thuật (từ khi lấy tủy tới sau khi ghép dịch TBG vào ổ khớp giả) trung bình là : 201 ± 47phút. Phương pháp ghép khối dịch TBGTX qua các đường hầm ít tác động nhất cho tổ chức phần mềm xung quanh chúng tôi giữ nguyên phương tiện cố định xương, chỉ có lỗ khoan tạo các đường hầm qua da và bơm dịch chứa TBGTX nên sau mổ bệnh nhân hầu như không phải dùng thuốc giảm đau, không có bệnh nhân nào có biến chứng sau mổ(nhiễm trùng, hội chứng khoang, tổn thương thần kinh,...). Thời gian nằm viện ngắn trung bình là 2,8± 0,6ngày. Đây cũng là một trong những ưu điểm của phương pháp này. 4.3 Đặc điểm khối dịch TBGTX : Số lượng tế bào CD34(+),tế bào CD73(+) trong dịch ghép là 481,2 ± 211,0TB/µlvà395,1 ± 175,3TB/µl, kết quả bảng 2 cho thấy số lượng TB CD34(+), CD73(+) tăng cao hơn nhiều so với trước tách có ý nghĩa thống kê, điều này cho thấy quy trình tách, cô đặc khối TBGTX là rất hiệu quả. Các tác giả cũng thống nhất rằng tuỷ xương trước khi ghép vào ổ gãy nên được tách bỏ những tế bào không cần thiết để làm tăng số lượng TBG cần thiết cho quá trình tạo xương tại ổ gãy [3][4].Mặt khác số lượng tiểu cầu trong dịch ghép cũng khá cao : 157,8 ± 98,7 x103 điều này cũng giúp thúc đẩy quá trình biệt hóa và sinh sản các TBG trong quá trình liền xương với yếu tố phát triển nguồn gốc tiểu cầu. 4.4 Kết quả ghép khối dịch TBGTX: Qua nghiên cứu chúng tôi thu được tỉ lệ liền xương là 93,3% (28/30 BN).Theo nghiên cứu của Hernigou và cộng sự (2005) ghép tủy xương tự thân qua da trên 60 bệnh nhân tỉ lệ liền xương là 88,3% [3].Gần đây nhất tại Việt nam Nguyễn Mạnh Khánh (2009) nghiên cứu cho thấytỉ lệ liền xương là 88,5% [4], tác giả mô tả việc tiêm trực tiếp khối dịch TBGTX vào ổ khớp giả là khá khó khăn, dễ bị thất thoát dịch ra ngoài da. Trong quá trình ghép chúng tôinhận thấyviệc bơm khối dịch TBGTXqua da trên cơ sở các đường hầm khoan xuyên ổ khớp giả dễ dàng hơn tránh bị thất thoát dịch ghép ra ngoài da, giúp làm tăng khả năng phân tán, độ tập trung của TBGTX vào ổ khớp giả, mặt khác các đường hầm cũng làm tăng cấp máu tủy xương vào ổ khớp giả, tạo cục máu đông giúp tái khởi động quá trình liền xương [1]. Chúng tôi gặp 2 bệnh nhân không có can xương (6,7%). Bảng 3cho thấy tổng số lượng tế bào CD34(+) trong khối TBGTXở 2bệnh nhânnày thấp hơn so với 28bệnh nhâncó can xươngcó ý nghĩa thống kê (p<0,05). Theo Hernigou, số lượng TBG trong tuỷ xương ghép cho bệnh nhân có ảnh hưởng tới kết quả liền xương [3]. V. KẾTLUẬN Đánh giá hiệu quả cho thấyquy trình ghép khối dịch TBGTX tự thânqua các đường hầmđểđiều trị khớp giả thân xương dài làquy trình đơn giản, hiệu quả cao với tỷ lệ liền xương đạt 93,3%, thời gian nằm viện ngắn, an toàn, đặc biệt ưu điểm với những trường hợp gãy hở cũ, nguy cơ nhiễm trùng cao, sẹo mổ xấu, dính sát xương..., độ nặng theo phân loại ổ khớp giả có tác động tới khả năng liền xương vàcần có thêm những nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Tài liệu tham khảo 1. Pusitz ME, Davis EV , Bone-drilling in delayed union of fractures,J Bone Joint Sur, 1944;26(3): 560-565. 2. Friedenstein AJ, Chailakhyan RK, Gerasimov UV.Bone marrow osteogenic stem cells. In vitro cultivation and transplantation in diffusion chambers,Cell Tissue Kinet, 1987; 20: 263-272. 3. Hernigou P, Poignard A, Beaujean F, Rouard H. Percutaneous autologous bone-marrow grafting for nonunions. Influence of the number and concentration of progenitor cells,J Bone Joint Surg2005; 87A: 1430-1437. 4. Nguyễn Mạnh Khánh, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Bình, Lý Tuấn Khải, Nguyễn Thanh Bình, Ngô Văn Toàn, Nguyễn Tiến Quyết . Ứng dụng tế bào gốc điều trị khớp giả thân xương dài, Việt Nam, Tạp chí Y học Việt nam2009; 353(1): 34-40. 5. Hernigou P, Mathieu G, Poignard A, Manicom O, Beaujean F, Rourd H. Percutaneous autologous bone-marrow grafting for nonunions. Surgical technique, J Bone Joint Surg,2006; 88A(1): 322-327.
File đính kèm:
hieu_qua_quy_trinh_dieu_tri_khop_gia_than_xuong_dai_chi_tren.pdf

