Hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân liệt chi dưới sau do tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động

Đặt vấn đề: Tổn thương tủy sống thường dẫn đến suy giảm vận động, cảm giác, có liên quan đến các hạn

chế chức năng, giảm sự tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Tác động đó không chỉ riêng với bệnh nhân mà

còn đối với cả gia đình của họ, cả cộng đồng và cả hệ thống chăm sóc y tế trong suốt cuộc đời. Nhiều nghiên cứu

trước đây đã chứng minh sự cải thiện chức năng của bệnh nhân tổn thương tủy sống sau khi nhập viện để phục

hồi chức năng.

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng ở bệnh nhân liệt chi dưới sau tổn thương tủy sống bằng

phương pháp tập vận động.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu bao gồm 52 bệnh nhân tổn thương tủy sống nhập viện

trong vòng 6 tháng sau tổn thương và đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Chương trình phục hồi chức năng tổn

thương tủy sống tập trung vào những mục tiêu liên quan đến vận động như dịch chuyển tại giường, hoạt động

hằng ngày, sử dụng xe lăn, dịch chuyển, đứng, giữ thăng bằng, đi bộ.

pdf 6 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân liệt chi dưới sau do tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân liệt chi dưới sau do tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động

Hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân liệt chi dưới sau do tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 107 
HIỆU QUẢ PHỤC HỒI Ở BỆNH NHÂN LIỆT CHI DƯỚI SAU 
DO TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẬP VẬN ĐỘNG 
Trần Minh Đông1, Hoàng Thị Khánh Minh1, Lê Thị Kiều Phương1, Nguyễn Thị Thu Thủy1, 
Nguyễn Thị Thùy Trang1, Nguyễn Thị Nga1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Tổn thương tủy sống thường dẫn đến suy giảm vận động, cảm giác, có liên quan đến các hạn 
chế chức năng, giảm sự tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Tác động đó không chỉ riêng với bệnh nhân mà 
còn đối với cả gia đình của họ, cả cộng đồng và cả hệ thống chăm sóc y tế trong suốt cuộc đời. Nhiều nghiên cứu 
trước đây đã chứng minh sự cải thiện chức năng của bệnh nhân tổn thương tủy sống sau khi nhập viện để phục 
hồi chức năng. 
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng ở bệnh nhân liệt chi dưới sau tổn thương tủy sống bằng 
phương pháp tập vận động. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu bao gồm 52 bệnh nhân tổn thương tủy sống nhập viện 
trong vòng 6 tháng sau tổn thương và đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Chương trình phục hồi chức năng tổn 
thương tủy sống tập trung vào những mục tiêu liên quan đến vận động như dịch chuyển tại giường, hoạt động 
hằng ngày, sử dụng xe lăn, dịch chuyển, đứng, giữ thăng bằng, đi bộ. 
Kết quả: Có 50 bệnh nhân với dữ liệu đầy đủ. Điểm đo lường mức độ độc lập của tủy sống sau khi phục hồi 
chức năng với hiệu quả là 52,16 điểm (p <0,001). 
Kết luận: Phục hồi chức năng cho bệnh nhân được xem như một phần quan trọng để cải thiện chức năng 
của bệnh nhân tổn thương tủy sống. 
Từ khóa: tổn thương tủy sống, mức độ độc lập tủy sống, phục hồi chức năng 
ABSTRACT 
THE EFFECTIVENESS OF REHABILITATION IN PARALYZED LEGS 
OF PATIENTS AFTER SPINAL CORD INJURY BY THE EXERCISE METHOD 
Tran Minh Dong, Hoang Thi Khanh Minh, Le Thi Kieu Phuong, Nguyen Thi Thu Thuy, 
Nguyen Thi Thuy Trang, Nguyen Thi Nga 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 107 - 112 
Background: Spinal cord injury (SCI) often leads to profound motor, sensory, which are associated with 
functional limitations, reduced participation in daily activities. The following impact does not only limit to the 
patients but also to their families, communities and the health-care systems in the life-long period. Many of 
previous studies demonstrated the functional improvement of SCI patients after admission for rehabilitation. 
Objectives: To evaluate the effectiveness of rehabilitation in paralyzed legs of patients after spinal cord 
injury by the exercise method. 
Method: The sample consisted of 52 SCI patients who were hospitalized within the first six months after 
injury and accepted into study. The rehabilitation process of SCI focuses on goals related to motor tasks such as 
moving in bed, daily living activities, pushing a wheelchair, transferring, standing, balance training and walking. 
Results: There were 50 admissions with complete data. Spinal Cord Independence Measure (SCIM) score 
1Bệnh viện Phục hồi Chức năng – Điều trị bệnh Nghề nghiệp 
Tác giả liên lạc: BS. Hoàng Thị Khánh Minh ĐT: 0945263945 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 108 
was significantly increased after patient rehabilitation with the effectiveness of 52,16 score (p <0.001). 
Conclusion: Patient rehabilitation is considered as important part for improving SCI patients’ 
functional abilities. 
Key words: spinal cord injury, spinal cord independence measure, rehabilitation 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Tổn thương tủy sống là những tổn thương 
lớn gây liệt hai chân hoặc liệt cả hai chân và hai 
tay, kèm theo những rối loạn khác về vận động, 
cảm giác, dinh dưỡng, bàng quang, ruột, sinh 
dục(1). Chấn thương là nguyên nhân hàng đầu 
gây tổn thương tủy sống, phần lớn bệnh nhân sẽ 
mất đi các chức năng về sinh hoạt, di chuyển, 
công việc và vị trí trong gia đình và xã hội. Đặc 
biệt đối với những bệnh nhân trẻ trong độ tuổi 
lao động thì tổn thương tủy sống càng là vấn đề 
đáng được quan tâm(2). 
Phục hồi chức năng sau tổn thương tủy sống 
trở thành một công việc rất quan trọng. Mục tiêu 
chính của phục hồi chức năng là giúp bệnh nhân 
khôi phục lại các chức năng sinh hoạt hàng 
ngày, độc lập tối đa trong các hoạt động, tái hoà 
nhập vào gia đình, cộng đồng và xã hội(3). Hiện 
nay, phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn 
thương tủy sống đang được áp dụng với nhiều 
phương pháp hiện đại khác nhau; tuy nhiên, tại 
Việt Nam lĩnh vực này vẫn chưa được chú 
trọng(2). Tại khoa Phục hồi Chức năng- Tổn 
thương Tủy Sống, Bệnh viện Phục hồi chức năng 
- Điều trị bệnh nghề nghiệp là một trong số ít các 
cơ sở y tế điều trị phục hồi chức năng cho bệnh 
nhân tổn thương tủy sống do chấn thương. Tại 
đây, chúng tôi đang áp dụng phương pháp tập 
vận động trị liệu trong các giai đoạn phục hồi 
chức năng ở bệnh nhân tổn thương tủy sống. 
Các nghiên cứu về phục hồi chức năng sau 
tổn thương tủy sống còn khá hạn chế, đặc biệt 
là các nghiên cứu can thiệp. Vì vậy, chúng tôi 
tiến nghiên cứu này nhằm mục đích “Đánh giá 
khả năng phục hồi về vận động, cảm giác và 
mức độ độc lập tủy sống của bệnh nhân liệt 
hai chi dưới sau tổn thương tủy sống, so sánh 
trước và sau thời gian thực hiện can thiệp bằng 
vận động trị liệu”. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Có 52 bệnh nhân liệt hai chi dưới do tổn 
thương tủy sống sau chấn thương đang điều trị 
tại khoa Phục hồi Chức năng – Tổn thương 
(PHCN – TT) tủy sống bệnh viện Phục hồi Chức 
năng – Điều trị bệnh Nghề nghiệp (PHCN – 
ĐTBNN) từ 01/01/2017 đến 31/10/2017. 
Tiêu chuẩn chọn vào 
Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán tổn 
thương tủy sống từ T1 trở xuống, có kèm theo 
MRI hoặc chẩn đoán ra viện từ bệnh viện tuyến 
trên chuyển qua như: bệnh viện Chợ Rẫy, Chấn 
Thương Chỉnh Hình. Hợp tác tuân thủ quá trình 
điều trị. 
Tiêu chuẩn loại ra 
Các trường hợp bệnh nhân không tuân thủ, 
hoặc bỏ tập khi chưa đủ thời gian tập 2 tháng, 
hoặc bệnh nhân đang trong giai đoạn sốc tủy, 
hoặc trạng thái thực vật, hoặc kèm theo các chấn 
thương nặng, hoặc bệnh nội khoa nặng (nhồi 
máu cơ tim, suy tim, suy thận mãn, viêm phổi 
nặng có suy hô hấp). 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu can thiệp không nhóm chứng, 
sử dụng mô hình đánh giá trước sau (so sánh kết 
quả trước và sau điều trị). 
Kỹ thuật chọn mẫu 
Chọn mẫu toàn bộ. 
Định nghĩa các biến số 
Vị trí tổn thương tủy: Là khoanh tủy thấp 
nhất còn chức năng vận động và cảm giác bình 
thường ở hai bên cơ thể, căn cứ vào mức vận 
động và cảm giác được xác định dựa vào bảng 
đánh giá ASIA Score. 
Phân loại tổn thương theo ASIA: Tổn thương 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 109 
được chia làm 5 mức phân loại từ nặng nhất tổn 
thương hoàn toàn độ A, các mức tổn thương 
không hoàn toàn độ B, C, D và mức E là mức 
bình thường không có tổn thương về vận động 
hay cảm giác. 
Những biến số định lượng để so sánh sự 
khác nhau lúc vào viện và ra viện: 
Điểm số vận động được tính là tổng điểm 
sức cơ các nhóm cơ chính của hai chi dưới từ L2 
đến S1 cả hai bên. Sức cơ được đánh gía từ 0/5 
đến 5/5 điểm. Điểm số vận động được ghi nhận 
tại hai thời điểm, lần 1 ngay khi nhập viện trước 
khi tập vật lý trị liệu gọi là điểm vận động lúc 
vào viện và lần 2 ngay ngày ra viện sau khi đã 
được tập vật lý trị liệu theo chương trình gọi là 
điểm vận động lúc ra viện. 
Điểm số cảm giác được tính là tổng điểm 
cảm giác sờ nông và kim châm và hai bên cơ thể 
từ C2 đến S4-5. Điểm cảm giác được đánh giá từ 
0-2 điểm. Điểm số cảm giác được ghi nhận tại 
hai thời điểm, lần 1 ngay khi nhập viện trước khi 
tập vật lý trị liệu gọi là điểm cảm giác lúc vào 
viện và lần 2 ngay ngày ra viện sau khi đã được 
tập vật lý trị liệu theo chương trình gọi là điểm 
cảm giác lúc ra viện. 
Điểm tự chăm sóc là điểm tổng của 4 phần 
gồm Ăn, tắm, mặc quần áo và vệ sinh vùng đầu 
mặt. Tổng điểm tự chăm sóc là từ 0-20 điểm. 
Điểm tự chăm sóc đánh giá lần 1 lúc vào viện và 
lần 2 lúc ra viện 
Điểm hô hấp và cơ thắt là tổng điểm của 4 
phần gồm hô hấp, cơ thắt bằng quang, cơ thắt 
đại tiện và đi vệ sinh. Tổng điểm hô hấp và cơ 
thắt từ 0-40 điểm. Điểm hô hấp và cơ thắt đánh 
giá lần 1 lúc vào viện và lần 2 lúc ra viện. 
Điểm di động phòng và bồn cầu gồm tổng 
điểm của 3 phần di động trên giường và hoạt 
động để tránh loét tì đè, dịch chuyển giường – xe 
lăn và dịch chuyển xe lăn –bồn cầu – bồn tắm. 
Tổng điểm di động phòng và bồn cầu từ 0 – 10 
điểm. Điểm di động phòng và bồn cầu đánh giá 
lần 1 lúc vào viện và lần 2 lúc ra viện. 
Điểm di động trong nhà và bên ngoài là tổng 
điểm của 6 phần gồm di động trong nhà, di 
động khoảng cách vừa phải, di động bên ngoài, 
đi thang bộ, dịch chuyển xe lăn – xe hơi, dịch 
chuyển xe lăn – mặt đất. Tổng điểm di động 
trong nhà và bên ngoài từ 0 – 40 điểm. Điểm di 
động trong nhà và bên ngoài đánh giá lần 1 lúc 
vào viện và lần 2 lúc ra viện. 
Công cụ thu thập dữ liệu 
Công cụ thu thập số liệu gồm bộ câu hỏi bao 
gồm thông tin bệnh nhân và ghi nhận kết quả 
khám lâm sàng về nguyên nhân, vị trí tổn 
thương, phân loại tổn thương tủy sống theo 
ASIA score và chức năng độc lập tủy sống. 
Trong đó, chúng tôi sử dụng bảng đánh giá vị trí 
tổn thương và phân loại tổn thương tủy sống 
theo hiệp hội TTTS Hoa Kỳ (ASIA score)(4,5). Các 
điểm số về vận động được đánh giá theo thang 
đo “Đánh giá sự độc lập tủy sống phiên bản II” 
(SCIM II)(6). 
Phương pháp thu thập dữ liệu 
Khi bệnh nhân được nhận vào khoa Phục 
hồi chức năng – Tổn thương tủy sống, bác sĩ 
thăm khám trực tiếp và ghi nhận lại bệnh sử, kết 
quả khám lâm sàng, vị trí tổn thương tủy sống, 
điểm cảm giác và vận động, sự độc lập tủy sống 
lần 1 trước khi tiến hành tập vật lý trị liệu. Điểm 
SCIM II đo lường mức độ độc lập về tự chăm 
sóc, hô hấp và cơ thắt, di động trong phòng bồn 
cầu, di động trong nhà và bên ngoài, được đánh 
giá tính thông qua đánh giá của kỹ thuật viên 
vật lý trị liệu trước khi tập vật lý trị liệu(6). 
Sau thời gian tập, đánh giá lại khả năng phục 
hồi chi dưới của bệnh nhân bằng thang điểm 
ASIA, ghi nhận các điểm cảm giác và vận động 
và sự độc lập tủy sống bằng thang đo SCIM II. 
Tiến hành đánh giá lại lần cuối các thang điểm 
này trước khi cho bệnh nhân xuất viện, ghi nhận 
các điểm vận động, cảm giác và sự độc lập tủy 
sống SCIM II lần 2. 
Phương pháp can thiệp: tiến hành tập vận 
động gồm các bài tập theo chương trình, bao 
gồm: tập cử động tại giường, tập những sinh 
hoạt thường ngày, tập sử dụng xe lăn, tập dịch 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 110 
chuyển, tập quỳ bốn điểm, quỳ hai điểm, tập 
đứng, thăng bằng và đi bộ (với thanh song song, 
nạng, gậy, nẹp). Mỗi ngày tập một đến hai lần 
tùy theo sức khỏe bệnh nhân, thời gian cho mỗi 
lần tập khoảng 30 phút, có hướng dẫn và theo 
dõi của kỹ thuật viên vật lý trị liệu. 
Xử lý số liệu 
Số liệu nhập bằng phần mềm EpiData 3.0 và 
phân tích bằng phần mềm STATA 12.0. Thống 
kê mô tả các biến số định tính (giới tính, nơi cư 
trú, nghề nghiệp, nguyên nhân tổn thương, biến 
chứng, phân loại tổn thương theo ASIA) bằng 
tần số và tỷ lệ. Thống kê mô tả biến số định 
lượng (tuổi) bằng trung vị, tứ phân vị. Thống kê 
phân tích, sử dụng kiểm định Ttest một mẫu để 
so sánh điểm trung bình vận động, điểm trung 
bình cảm giác, điểm trung bình SCIM II của 
bệnh nhân lúc nhập viện và xuất viện. 
KẾT QUẢ 
Kết quả nghiên cứu được phân tích trên 50 
bệnh nhân liệt hạ chi do chấn thương tủy sống 
sau chấn thương, loại đi 2 đối tượng bỏ tập khi 
chưa đủ thời gian tập 2 tháng. 
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 
Độ tuổi của bệnh nhân liệt chi dưới do tổn 
thương tủy sống từ chấn thương thường gặp là 
độ tuổi từ 32 đến 44 tuổi, trong đó nam chiếm 
phần lớn (68%). Khoảng 2/3 bệnh nhân đến từ 
tỉnh thành khác, 1/2 có công việc lao động chân 
tay. Nguyên nhân tổn thương do tai nạn giao 
thông chiếm gần một nửa (46%), thấp nhất là tai 
nạn lao động (18%) (Bảng 1). 
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu (n=50) 
Yếu tố Tần số Tỷ lệ (%) 
Tuổi* 36,5 (32-44) 
Giới tính 
Nam 
Nữ 
34 
16 
68 
32 
Nơi cư trú 
Thành phố Hồ Chí Minh 
Tỉnh thành khác 
12 
38 
24 
76 
Nghề nghiệp 
Lao động trí óc 
Lao động chân tay 
Khác (hưu trí, nội trợ) 
16 
26 
8 
32 
52 
18 
Yếu tố Tần số Tỷ lệ (%) 
Nguyên nhân tổn thương 
Tai nạn giao thông 
Tai nạn sinh hoạt 
Tai nạn lao động 
23 
18 
9 
46 
36 
18 
Vị trí tổn thương 
Ngực (T1 – T10) 
Ngực – lưng (T11-L2) 
Thắt lưng (L3 – S1) 
11 
34 
5 
22 
68 
10 
Biến chứng 
Loét tì đè 
Co rút 
Teo cơ 
Nhiễm trùng tiểu 
Không biến chứng 
4 
4 
4 
13 
25 
8 
8 
8 
26 
50 
* trung vị, tứ phân vị 
Vị trí tổn thương thường gặp nhất là đoạn 
đốt sống ngực - lưng (T11-L2) (68%), trong đó 
vị trí tổn thương ở đốt sống L1 chiếm tỷ lệ cao 
nhất (44%). Trong 50 trường hợp có 25 trường 
hợp có biết chứng, với nhiễm trùng tiểu là cao 
nhất (13 trường hợp), còn lại là các biến chứng 
khác với số trường hợp tương đương nhau (4 
trường hợp) (Bảng 1). 
Bảng 2: Phân loại tổn thương theo ASIA (n=50) 
Phân loại TTTS theo ASIA Tần số Tỷ lệ (%) 
A 
B 
C 
D 
32 
5 
6 
8 
64 
8 
12 
16 
Tổng số 50 100 
Tổn thương tủy loại A chiếm tỷ lệ cao nhất 
(64%), lần lượt là tổn thương tủy sống loại D 
(16%), tổn thương tủy sống loại C (12%) và thấp 
nhất là tổn thương tủy sống loại B (8%) (Bảng 2). 
Hiệu quả can thiệp 
Bảng 3: Điểm trung bình vận động của bệnh nhân 
lúc vào viện và ra viện 
Điểm Tần số Trung bình KTC 95% p 
Điểm vận động lúc 
ra viện 
50 11,74 7,06-16,42 
Điểm vận động lúc 
vào viện 
50 6,82 3,50-10,14 
Chênh lệch 50 4,92 3,04-6,80 <0,001
Điểm trung bình vận động của bệnh nhân 
lúc ra viện cao hơn lúc vào viện là 4,92 điểm. Sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001 và 
KTC 95% là 3,04-6,80 (Bảng 3). 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 111 
Điểm trung bình cảm giác của bệnh nhân lúc 
ra viện cao hơn lúc vào viện là 6,88 điểm. Sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,009 và 
KTC 95% là 1,83-11,93 (Bảng 4). 
Bảng 4: Điểm trung bình cảm giác của bệnh nhân lúc 
vào viện và ra viện 
Điểm 
Tần 
số 
Trung 
bình 
KTC 95% p 
Điểm cảm giác lúc ra 
viện 
50 163,76 151,23-176,28 
Điểm cảm giác lúc 
vào viện 
50 156,88 144,96-168,80 
Chênh lệch 50 6,88 1,83-11,93 0,009 
Bảng 5: Điểm trung bình SCIM II của bệnh nhân lúc 
vào viện và ra viện 
Điểm 
Tần 
số 
Trung 
bình 
KTC 95% p 
Điểm SCIM II lúc ra 
viện 
50 69,24 63,13-75,34 
Điểm SCIM II lúc vào 
viện 
50 17,08 13,35-20,81 
Chênh lệch 50 52,16 47,15-57,17 <0,001
Điểm trung bình SCIM II của bệnh nhân lúc 
ra viện cao hơn nhiều lúc vào viện là 52,16 điểm. 
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và 
KTC 95% là 47,15-57,17 (Bảng 5). 
BÀN LUẬN 
Vị trí tổn thương thường gặp nhất là đoạn 
đốt sống ngực - lưng (T11-L2) (68%), trong đó vị 
trí tổn thương ở đốt sống L1 chiếm tỷ lệ cao nhất 
(44%). Tương tự với nghiên cứu của Nguyễn 
Trọng Tín (2008), vị trí tổn thương đốt sống L1 
cao nhất (45,6%). Kết quả này cũng phù hợp với 
y văn, bởi vì cột sống ngực thường vững chắc do 
có khung xương sườn cố định vào nên vị trí tổn 
thương thường gặp nhất là đoạn nối cổ ngực và 
đoạn nối ngực thắt lưng(7). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh 
nhân có biến chứng là 50%. Trong đó nhiễm 
trùng tiểu là biến chứng thường gặp nhất chiếm 
26%, tiếp đó là các biến chứng loét do tì đè, co 
rút, teo cơ đều chiếm 8%. Kết quả có sự khác biệt 
với nghiên cứu của tác giả Cù Mỹ Hiếu Hạnh 
(2006), với 50% biến chứng loét do tì đè, 4,17% 
nhiễm trùng tiểu và 21,88% trường hợp không 
có biến chứng(8). Điều này cho thấy hiệu quả tích 
cực khi tỷ lệ bệnh nhân không biến chứng tăng 
lên tới 50%. Tỷ lệ loét do tì đè thấp hơn đáng kể, 
cho thấy công tác điều dưỡng và tư vấn cho 
bệnh nhân, người nhà để phòng ngừa loét có 
hiệu quả, giúp giảm chi phí điều trị, nâng tổng 
trạng và giúp bệnh nhân tập vận động sớm. Tuy 
nhiên biến chứng nhiễm trùng tiểu lại cao hơn 
nhiều, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của 
Cầm Bá Thức (2008) (55%)(9). Điều này cho thấy 
mối lo ngại về công tác phòng ngừa nhiễm 
khuẩn bệnh viện. Phân loại tổn thương theo 
ASIA là cách phân loại thường dùng và đơn 
giản. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổn thương 
tủy loại A chiếm tỷ lệ cao nhất (64%), tiếp theo là 
tổn thương tủy sống loại D (16%), tổn thương 
tủy sống loại C (12%) và thấp nhất là tổn thương 
tủy sống loại B (8%), không ghi nhận tổn thương 
độ E. Tương tự với nghiên cứu của Cù Mỹ Hiếu 
Hạnh (2006) và Cầm Bá Thức (2008)(8,9). 
Điểm trung bình vận động và cảm giác của 
bệnh nhân lúc ra viện đều cao hơn lúc vào viện 
lần lượt là 4,92 điểm vận động và 6,88 điểm cảm 
giác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). 
Điều này cho thấy có sự hồi phục về mặt thần 
kinh của bệnh nhân. 
Điểm SCIM II đo lường mức độ độc lập về 
tự chăm sóc, hô hấp và cơ thắt, di động trong 
phòng và bồn cầu, di động trong nhà và bên 
ngoài của bệnh nhân lúc ra viện đều cao hơn 
lúc vào viện. Cụ thể điểm trung bình SCIM II 
của bệnh nhân lúc ra viện cao hơn 52,16 điểm 
so lúc vào viện, sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê (p <0,05). Kết quả phù hợp với nghiên cứu 
của Cù Mỹ Hiếu Hạnh (2006) và Cầm Bá Thức 
(2008)(8,9). Tuy nhiên, có sự khác biệt về bảng 
kiểm, nghiên cứu của tác giả Cù Mỹ Hiếu 
Hạnh dùng bảng kiểm hoạt động sống hằng 
ngày (Activities of Daily Living-ADL), nghiên 
cứu của tác giả Cầm Bá Thức sử dụng các bảng 
kiểm chỉ số Barthel. Kết quả hai nghiên cứu 
trên cũng cho thấy mức độ độc lập của bệnh 
nhân tổn thương tủy sống liệt chi dưới có sự 
cải thiện đáng kể, giúp bệnh nhân thích nghi 
và tự sinh hoạt một cách tích cực. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 112 
Trên thế giới cũng có những nghiên cứu với 
kết quả tương tự. Như, nghiên cứu của 
Muslumanoglu L (1997) cho thấy có sự cải thiện 
về cảm giác, vận động và chức năng sinh hoạt 
của các bệnh nhân tổn thương tủy sống(10). 
Nghiên cứu của Wirth B (2008) cũng cho thấy có 
sự tiến triển chức năng tốt của bệnh nhân tổn 
thương tủy sống với một chương trình phục hồi 
chức năng cho các bệnh nhân được đánh giá 
bằng thang đo SCIM II(11). 
Sự cải thiện điểm vận động, cảm giác và mức 
độ độc lập cho thấy chương trình tập vận động 
đã đạt được mục tiêu đề ra giúp người bệnh có 
thể sống chung với thương tổn một cách tích 
cực. Điều này cũng giúp cho các bác sĩ lâm sàng 
thiết lập các mục tiêu thực tế tối đa hóa tính độc 
lập chức năng cho bệnh nhân sau khi xuất viện 
trở về với cộng đồng, thuyết phục vận động 
những bệnh nhân mới và những bệnh nhân từ 
chối tham gia chương trình tập cùng những 
bệnh nhân đã tham gia tiếp tục duy trì những 
hiệu quả đã đạt được bằng cách tiếp tục vận 
động tại nhà một cách lâu dài. Giúp giảm gánh 
nặng kinh tế cho gia đình bệnh nhân cũng như 
xã hội(12). 
Bên cạnh những điểm mạnh, nghiên cứu của 
chúng tôi cũng còn một số điểm hạn chế. Vì thời 
gian lấy mẫu ngắn, đặc điểm bệnh không phổ 
biến nghiên cứu có cỡ mẫu khá nhỏ. Nghiên cứu 
chưa có nhóm chứng nên chỉ so sánh trước và 
sau, mà chưa đánh giá được hiệu quả thực sự 
của phương pháp can thiệp. Tuy nhiên đây là 
một trong số ít các nghiên cứu lâm sàng về phục 
hồi chứng năng trên bệnh nhân tổn thương tủy 
sống, chúng tôi hy vọng đóng góp một phần vào 
y văn, làm tiền đề thực hiện các nghiên cứu tiếp 
theo, cũng như mở rộng can thiệp cho bệnh 
nhân tổn thương tủy sống. 
KẾT LUẬN 
Có sự cải thiện đáng kể về điểm số vận 
động, cảm giác và điểm mức độ tự lập của bệnh 
nhân khi ra viện so với lúc vào viện với p <0,05 
cho thấy có sự hồi phục về vận động, cảm giác 
về mặt chức năng thần kinh ở bệnh nhân liệt hạ 
chi do tổn thương tủy sống. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Tan JC (1998). Practical Manual of Physical Medicine and 
Rehabilitation: Diagnostics, Therapeutics, and Basic Problems, 
pp.1-830. Mosby Publisher. 
2. Sekhon LH, Fehlings MG (2001) Epidemiology, demographics, 
and pathophysiology of acute spinal cord injury. Spine, 
26(24):S2-12. 
3. Bộ Y Tế (2008). Sổ tay hướng dẫn Phục hồi chức năng tổn 
thương tủy sống. 
4. Hiệp hội Tủy sống Châu Á (2006). Các nguyên tắc hướng dẫn 
điều trị tổn thương tủy sống. 
5. Roberts TT, Leonard GR, Cepela DJ (2017). Classifications In 
Brief: American Spinal Injury Association (ASIA) Impairment 
Scale. Clinical Orthopaedics and Related Research, 475(5):1499-
1504. 
6. Amiram Catz, Malka Itzkovich (2007). Spinal Cord 
Independence Measure: Comprehensive ability rating scale for 
the spinal cord lesion patient. Journal of Rehabilitation Research & 
Development, 44(1):665-68. 
7. Nguyễn Trọng Tín (2008). Tình hình chấn thương cột sống 
ngực thắt lưng tại Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh Hình, Hội 
Nghị Thường Niên Kết Hợp: Lần thứ XV Hội Chấn Thương 
Chỉnh Hình và lần thứ XIV Hội Chỉnh Hình Nhi, pp.269-275. 
8. Cù Mỹ Hiếu Hạnh (2006). Đánh giá khả năng phục hồi liệt hai 
chi dưới ở bệnh nhân tổn thương tủy sống bằng phương pháp 
tập vận động. Luận văn Thạc sĩ Y học, ĐH Y Dược TP. HCM. 
9. Cầm Bá Thức (2008). Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai 
chi dưới do chấn thương tủy sống tại cộng đồng và đề xuất 
một số giải pháp can thiệp. Luận văn Tiến sĩ Y học, ĐH Y Dược 
TP. HCM. 
10. Muslumanoglu L, Aki S, Ozturk Y, Soy D, Filiz M, Karan A, 
Berker E (1997). Motor, sensory and functional recovery in 
patients with spinal cord lesions. Spinal Cord, 35(6):386-389. 
11. Wirth B, van Hedel HJ, Kometer B, Dietz V, Curt A (2008). 
Changes in activity after a complete spinal cord injury as 
measured by the Spinal Cord Independence Measure II. 
Neurorehabil Neural Repair, 22(3):279-287. 
12. Cardenas DD, Dalal K (2014). Spinal Cord Injury 
Rehabilitation. Physical Medicine and Rehabilitation Clinics of 
North America, 394:27. 
Ngày nhận bài báo: 10/07/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_phuc_hoi_o_benh_nhan_liet_chi_duoi_sau_do_ton_thuon.pdf