Hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân liệt chi dưới sau do tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động
Đặt vấn đề: Tổn thương tủy sống thường dẫn đến suy giảm vận động, cảm giác, có liên quan đến các hạn
chế chức năng, giảm sự tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Tác động đó không chỉ riêng với bệnh nhân mà
còn đối với cả gia đình của họ, cả cộng đồng và cả hệ thống chăm sóc y tế trong suốt cuộc đời. Nhiều nghiên cứu
trước đây đã chứng minh sự cải thiện chức năng của bệnh nhân tổn thương tủy sống sau khi nhập viện để phục
hồi chức năng.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng ở bệnh nhân liệt chi dưới sau tổn thương tủy sống bằng
phương pháp tập vận động.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu bao gồm 52 bệnh nhân tổn thương tủy sống nhập viện
trong vòng 6 tháng sau tổn thương và đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Chương trình phục hồi chức năng tổn
thương tủy sống tập trung vào những mục tiêu liên quan đến vận động như dịch chuyển tại giường, hoạt động
hằng ngày, sử dụng xe lăn, dịch chuyển, đứng, giữ thăng bằng, đi bộ.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả phục hồi ở bệnh nhân liệt chi dưới sau do tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 107 HIỆU QUẢ PHỤC HỒI Ở BỆNH NHÂN LIỆT CHI DƯỚI SAU DO TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP TẬP VẬN ĐỘNG Trần Minh Đông1, Hoàng Thị Khánh Minh1, Lê Thị Kiều Phương1, Nguyễn Thị Thu Thủy1, Nguyễn Thị Thùy Trang1, Nguyễn Thị Nga1 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Tổn thương tủy sống thường dẫn đến suy giảm vận động, cảm giác, có liên quan đến các hạn chế chức năng, giảm sự tham gia vào các hoạt động hàng ngày. Tác động đó không chỉ riêng với bệnh nhân mà còn đối với cả gia đình của họ, cả cộng đồng và cả hệ thống chăm sóc y tế trong suốt cuộc đời. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh sự cải thiện chức năng của bệnh nhân tổn thương tủy sống sau khi nhập viện để phục hồi chức năng. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng ở bệnh nhân liệt chi dưới sau tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu bao gồm 52 bệnh nhân tổn thương tủy sống nhập viện trong vòng 6 tháng sau tổn thương và đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Chương trình phục hồi chức năng tổn thương tủy sống tập trung vào những mục tiêu liên quan đến vận động như dịch chuyển tại giường, hoạt động hằng ngày, sử dụng xe lăn, dịch chuyển, đứng, giữ thăng bằng, đi bộ. Kết quả: Có 50 bệnh nhân với dữ liệu đầy đủ. Điểm đo lường mức độ độc lập của tủy sống sau khi phục hồi chức năng với hiệu quả là 52,16 điểm (p <0,001). Kết luận: Phục hồi chức năng cho bệnh nhân được xem như một phần quan trọng để cải thiện chức năng của bệnh nhân tổn thương tủy sống. Từ khóa: tổn thương tủy sống, mức độ độc lập tủy sống, phục hồi chức năng ABSTRACT THE EFFECTIVENESS OF REHABILITATION IN PARALYZED LEGS OF PATIENTS AFTER SPINAL CORD INJURY BY THE EXERCISE METHOD Tran Minh Dong, Hoang Thi Khanh Minh, Le Thi Kieu Phuong, Nguyen Thi Thu Thuy, Nguyen Thi Thuy Trang, Nguyen Thi Nga * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 107 - 112 Background: Spinal cord injury (SCI) often leads to profound motor, sensory, which are associated with functional limitations, reduced participation in daily activities. The following impact does not only limit to the patients but also to their families, communities and the health-care systems in the life-long period. Many of previous studies demonstrated the functional improvement of SCI patients after admission for rehabilitation. Objectives: To evaluate the effectiveness of rehabilitation in paralyzed legs of patients after spinal cord injury by the exercise method. Method: The sample consisted of 52 SCI patients who were hospitalized within the first six months after injury and accepted into study. The rehabilitation process of SCI focuses on goals related to motor tasks such as moving in bed, daily living activities, pushing a wheelchair, transferring, standing, balance training and walking. Results: There were 50 admissions with complete data. Spinal Cord Independence Measure (SCIM) score 1Bệnh viện Phục hồi Chức năng – Điều trị bệnh Nghề nghiệp Tác giả liên lạc: BS. Hoàng Thị Khánh Minh ĐT: 0945263945 Email: [email protected] Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 108 was significantly increased after patient rehabilitation with the effectiveness of 52,16 score (p <0.001). Conclusion: Patient rehabilitation is considered as important part for improving SCI patients’ functional abilities. Key words: spinal cord injury, spinal cord independence measure, rehabilitation ĐẶT VẤN ĐỀ Tổn thương tủy sống là những tổn thương lớn gây liệt hai chân hoặc liệt cả hai chân và hai tay, kèm theo những rối loạn khác về vận động, cảm giác, dinh dưỡng, bàng quang, ruột, sinh dục(1). Chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương tủy sống, phần lớn bệnh nhân sẽ mất đi các chức năng về sinh hoạt, di chuyển, công việc và vị trí trong gia đình và xã hội. Đặc biệt đối với những bệnh nhân trẻ trong độ tuổi lao động thì tổn thương tủy sống càng là vấn đề đáng được quan tâm(2). Phục hồi chức năng sau tổn thương tủy sống trở thành một công việc rất quan trọng. Mục tiêu chính của phục hồi chức năng là giúp bệnh nhân khôi phục lại các chức năng sinh hoạt hàng ngày, độc lập tối đa trong các hoạt động, tái hoà nhập vào gia đình, cộng đồng và xã hội(3). Hiện nay, phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống đang được áp dụng với nhiều phương pháp hiện đại khác nhau; tuy nhiên, tại Việt Nam lĩnh vực này vẫn chưa được chú trọng(2). Tại khoa Phục hồi Chức năng- Tổn thương Tủy Sống, Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp là một trong số ít các cơ sở y tế điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống do chấn thương. Tại đây, chúng tôi đang áp dụng phương pháp tập vận động trị liệu trong các giai đoạn phục hồi chức năng ở bệnh nhân tổn thương tủy sống. Các nghiên cứu về phục hồi chức năng sau tổn thương tủy sống còn khá hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu can thiệp. Vì vậy, chúng tôi tiến nghiên cứu này nhằm mục đích “Đánh giá khả năng phục hồi về vận động, cảm giác và mức độ độc lập tủy sống của bệnh nhân liệt hai chi dưới sau tổn thương tủy sống, so sánh trước và sau thời gian thực hiện can thiệp bằng vận động trị liệu”. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Có 52 bệnh nhân liệt hai chi dưới do tổn thương tủy sống sau chấn thương đang điều trị tại khoa Phục hồi Chức năng – Tổn thương (PHCN – TT) tủy sống bệnh viện Phục hồi Chức năng – Điều trị bệnh Nghề nghiệp (PHCN – ĐTBNN) từ 01/01/2017 đến 31/10/2017. Tiêu chuẩn chọn vào Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán tổn thương tủy sống từ T1 trở xuống, có kèm theo MRI hoặc chẩn đoán ra viện từ bệnh viện tuyến trên chuyển qua như: bệnh viện Chợ Rẫy, Chấn Thương Chỉnh Hình. Hợp tác tuân thủ quá trình điều trị. Tiêu chuẩn loại ra Các trường hợp bệnh nhân không tuân thủ, hoặc bỏ tập khi chưa đủ thời gian tập 2 tháng, hoặc bệnh nhân đang trong giai đoạn sốc tủy, hoặc trạng thái thực vật, hoặc kèm theo các chấn thương nặng, hoặc bệnh nội khoa nặng (nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận mãn, viêm phổi nặng có suy hô hấp). Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu can thiệp không nhóm chứng, sử dụng mô hình đánh giá trước sau (so sánh kết quả trước và sau điều trị). Kỹ thuật chọn mẫu Chọn mẫu toàn bộ. Định nghĩa các biến số Vị trí tổn thương tủy: Là khoanh tủy thấp nhất còn chức năng vận động và cảm giác bình thường ở hai bên cơ thể, căn cứ vào mức vận động và cảm giác được xác định dựa vào bảng đánh giá ASIA Score. Phân loại tổn thương theo ASIA: Tổn thương Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 109 được chia làm 5 mức phân loại từ nặng nhất tổn thương hoàn toàn độ A, các mức tổn thương không hoàn toàn độ B, C, D và mức E là mức bình thường không có tổn thương về vận động hay cảm giác. Những biến số định lượng để so sánh sự khác nhau lúc vào viện và ra viện: Điểm số vận động được tính là tổng điểm sức cơ các nhóm cơ chính của hai chi dưới từ L2 đến S1 cả hai bên. Sức cơ được đánh gía từ 0/5 đến 5/5 điểm. Điểm số vận động được ghi nhận tại hai thời điểm, lần 1 ngay khi nhập viện trước khi tập vật lý trị liệu gọi là điểm vận động lúc vào viện và lần 2 ngay ngày ra viện sau khi đã được tập vật lý trị liệu theo chương trình gọi là điểm vận động lúc ra viện. Điểm số cảm giác được tính là tổng điểm cảm giác sờ nông và kim châm và hai bên cơ thể từ C2 đến S4-5. Điểm cảm giác được đánh giá từ 0-2 điểm. Điểm số cảm giác được ghi nhận tại hai thời điểm, lần 1 ngay khi nhập viện trước khi tập vật lý trị liệu gọi là điểm cảm giác lúc vào viện và lần 2 ngay ngày ra viện sau khi đã được tập vật lý trị liệu theo chương trình gọi là điểm cảm giác lúc ra viện. Điểm tự chăm sóc là điểm tổng của 4 phần gồm Ăn, tắm, mặc quần áo và vệ sinh vùng đầu mặt. Tổng điểm tự chăm sóc là từ 0-20 điểm. Điểm tự chăm sóc đánh giá lần 1 lúc vào viện và lần 2 lúc ra viện Điểm hô hấp và cơ thắt là tổng điểm của 4 phần gồm hô hấp, cơ thắt bằng quang, cơ thắt đại tiện và đi vệ sinh. Tổng điểm hô hấp và cơ thắt từ 0-40 điểm. Điểm hô hấp và cơ thắt đánh giá lần 1 lúc vào viện và lần 2 lúc ra viện. Điểm di động phòng và bồn cầu gồm tổng điểm của 3 phần di động trên giường và hoạt động để tránh loét tì đè, dịch chuyển giường – xe lăn và dịch chuyển xe lăn –bồn cầu – bồn tắm. Tổng điểm di động phòng và bồn cầu từ 0 – 10 điểm. Điểm di động phòng và bồn cầu đánh giá lần 1 lúc vào viện và lần 2 lúc ra viện. Điểm di động trong nhà và bên ngoài là tổng điểm của 6 phần gồm di động trong nhà, di động khoảng cách vừa phải, di động bên ngoài, đi thang bộ, dịch chuyển xe lăn – xe hơi, dịch chuyển xe lăn – mặt đất. Tổng điểm di động trong nhà và bên ngoài từ 0 – 40 điểm. Điểm di động trong nhà và bên ngoài đánh giá lần 1 lúc vào viện và lần 2 lúc ra viện. Công cụ thu thập dữ liệu Công cụ thu thập số liệu gồm bộ câu hỏi bao gồm thông tin bệnh nhân và ghi nhận kết quả khám lâm sàng về nguyên nhân, vị trí tổn thương, phân loại tổn thương tủy sống theo ASIA score và chức năng độc lập tủy sống. Trong đó, chúng tôi sử dụng bảng đánh giá vị trí tổn thương và phân loại tổn thương tủy sống theo hiệp hội TTTS Hoa Kỳ (ASIA score)(4,5). Các điểm số về vận động được đánh giá theo thang đo “Đánh giá sự độc lập tủy sống phiên bản II” (SCIM II)(6). Phương pháp thu thập dữ liệu Khi bệnh nhân được nhận vào khoa Phục hồi chức năng – Tổn thương tủy sống, bác sĩ thăm khám trực tiếp và ghi nhận lại bệnh sử, kết quả khám lâm sàng, vị trí tổn thương tủy sống, điểm cảm giác và vận động, sự độc lập tủy sống lần 1 trước khi tiến hành tập vật lý trị liệu. Điểm SCIM II đo lường mức độ độc lập về tự chăm sóc, hô hấp và cơ thắt, di động trong phòng bồn cầu, di động trong nhà và bên ngoài, được đánh giá tính thông qua đánh giá của kỹ thuật viên vật lý trị liệu trước khi tập vật lý trị liệu(6). Sau thời gian tập, đánh giá lại khả năng phục hồi chi dưới của bệnh nhân bằng thang điểm ASIA, ghi nhận các điểm cảm giác và vận động và sự độc lập tủy sống bằng thang đo SCIM II. Tiến hành đánh giá lại lần cuối các thang điểm này trước khi cho bệnh nhân xuất viện, ghi nhận các điểm vận động, cảm giác và sự độc lập tủy sống SCIM II lần 2. Phương pháp can thiệp: tiến hành tập vận động gồm các bài tập theo chương trình, bao gồm: tập cử động tại giường, tập những sinh hoạt thường ngày, tập sử dụng xe lăn, tập dịch Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 110 chuyển, tập quỳ bốn điểm, quỳ hai điểm, tập đứng, thăng bằng và đi bộ (với thanh song song, nạng, gậy, nẹp). Mỗi ngày tập một đến hai lần tùy theo sức khỏe bệnh nhân, thời gian cho mỗi lần tập khoảng 30 phút, có hướng dẫn và theo dõi của kỹ thuật viên vật lý trị liệu. Xử lý số liệu Số liệu nhập bằng phần mềm EpiData 3.0 và phân tích bằng phần mềm STATA 12.0. Thống kê mô tả các biến số định tính (giới tính, nơi cư trú, nghề nghiệp, nguyên nhân tổn thương, biến chứng, phân loại tổn thương theo ASIA) bằng tần số và tỷ lệ. Thống kê mô tả biến số định lượng (tuổi) bằng trung vị, tứ phân vị. Thống kê phân tích, sử dụng kiểm định Ttest một mẫu để so sánh điểm trung bình vận động, điểm trung bình cảm giác, điểm trung bình SCIM II của bệnh nhân lúc nhập viện và xuất viện. KẾT QUẢ Kết quả nghiên cứu được phân tích trên 50 bệnh nhân liệt hạ chi do chấn thương tủy sống sau chấn thương, loại đi 2 đối tượng bỏ tập khi chưa đủ thời gian tập 2 tháng. Đặc điểm mẫu nghiên cứu Độ tuổi của bệnh nhân liệt chi dưới do tổn thương tủy sống từ chấn thương thường gặp là độ tuổi từ 32 đến 44 tuổi, trong đó nam chiếm phần lớn (68%). Khoảng 2/3 bệnh nhân đến từ tỉnh thành khác, 1/2 có công việc lao động chân tay. Nguyên nhân tổn thương do tai nạn giao thông chiếm gần một nửa (46%), thấp nhất là tai nạn lao động (18%) (Bảng 1). Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu (n=50) Yếu tố Tần số Tỷ lệ (%) Tuổi* 36,5 (32-44) Giới tính Nam Nữ 34 16 68 32 Nơi cư trú Thành phố Hồ Chí Minh Tỉnh thành khác 12 38 24 76 Nghề nghiệp Lao động trí óc Lao động chân tay Khác (hưu trí, nội trợ) 16 26 8 32 52 18 Yếu tố Tần số Tỷ lệ (%) Nguyên nhân tổn thương Tai nạn giao thông Tai nạn sinh hoạt Tai nạn lao động 23 18 9 46 36 18 Vị trí tổn thương Ngực (T1 – T10) Ngực – lưng (T11-L2) Thắt lưng (L3 – S1) 11 34 5 22 68 10 Biến chứng Loét tì đè Co rút Teo cơ Nhiễm trùng tiểu Không biến chứng 4 4 4 13 25 8 8 8 26 50 * trung vị, tứ phân vị Vị trí tổn thương thường gặp nhất là đoạn đốt sống ngực - lưng (T11-L2) (68%), trong đó vị trí tổn thương ở đốt sống L1 chiếm tỷ lệ cao nhất (44%). Trong 50 trường hợp có 25 trường hợp có biết chứng, với nhiễm trùng tiểu là cao nhất (13 trường hợp), còn lại là các biến chứng khác với số trường hợp tương đương nhau (4 trường hợp) (Bảng 1). Bảng 2: Phân loại tổn thương theo ASIA (n=50) Phân loại TTTS theo ASIA Tần số Tỷ lệ (%) A B C D 32 5 6 8 64 8 12 16 Tổng số 50 100 Tổn thương tủy loại A chiếm tỷ lệ cao nhất (64%), lần lượt là tổn thương tủy sống loại D (16%), tổn thương tủy sống loại C (12%) và thấp nhất là tổn thương tủy sống loại B (8%) (Bảng 2). Hiệu quả can thiệp Bảng 3: Điểm trung bình vận động của bệnh nhân lúc vào viện và ra viện Điểm Tần số Trung bình KTC 95% p Điểm vận động lúc ra viện 50 11,74 7,06-16,42 Điểm vận động lúc vào viện 50 6,82 3,50-10,14 Chênh lệch 50 4,92 3,04-6,80 <0,001 Điểm trung bình vận động của bệnh nhân lúc ra viện cao hơn lúc vào viện là 4,92 điểm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001 và KTC 95% là 3,04-6,80 (Bảng 3). Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 111 Điểm trung bình cảm giác của bệnh nhân lúc ra viện cao hơn lúc vào viện là 6,88 điểm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,009 và KTC 95% là 1,83-11,93 (Bảng 4). Bảng 4: Điểm trung bình cảm giác của bệnh nhân lúc vào viện và ra viện Điểm Tần số Trung bình KTC 95% p Điểm cảm giác lúc ra viện 50 163,76 151,23-176,28 Điểm cảm giác lúc vào viện 50 156,88 144,96-168,80 Chênh lệch 50 6,88 1,83-11,93 0,009 Bảng 5: Điểm trung bình SCIM II của bệnh nhân lúc vào viện và ra viện Điểm Tần số Trung bình KTC 95% p Điểm SCIM II lúc ra viện 50 69,24 63,13-75,34 Điểm SCIM II lúc vào viện 50 17,08 13,35-20,81 Chênh lệch 50 52,16 47,15-57,17 <0,001 Điểm trung bình SCIM II của bệnh nhân lúc ra viện cao hơn nhiều lúc vào viện là 52,16 điểm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và KTC 95% là 47,15-57,17 (Bảng 5). BÀN LUẬN Vị trí tổn thương thường gặp nhất là đoạn đốt sống ngực - lưng (T11-L2) (68%), trong đó vị trí tổn thương ở đốt sống L1 chiếm tỷ lệ cao nhất (44%). Tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Trọng Tín (2008), vị trí tổn thương đốt sống L1 cao nhất (45,6%). Kết quả này cũng phù hợp với y văn, bởi vì cột sống ngực thường vững chắc do có khung xương sườn cố định vào nên vị trí tổn thương thường gặp nhất là đoạn nối cổ ngực và đoạn nối ngực thắt lưng(7). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng là 50%. Trong đó nhiễm trùng tiểu là biến chứng thường gặp nhất chiếm 26%, tiếp đó là các biến chứng loét do tì đè, co rút, teo cơ đều chiếm 8%. Kết quả có sự khác biệt với nghiên cứu của tác giả Cù Mỹ Hiếu Hạnh (2006), với 50% biến chứng loét do tì đè, 4,17% nhiễm trùng tiểu và 21,88% trường hợp không có biến chứng(8). Điều này cho thấy hiệu quả tích cực khi tỷ lệ bệnh nhân không biến chứng tăng lên tới 50%. Tỷ lệ loét do tì đè thấp hơn đáng kể, cho thấy công tác điều dưỡng và tư vấn cho bệnh nhân, người nhà để phòng ngừa loét có hiệu quả, giúp giảm chi phí điều trị, nâng tổng trạng và giúp bệnh nhân tập vận động sớm. Tuy nhiên biến chứng nhiễm trùng tiểu lại cao hơn nhiều, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Cầm Bá Thức (2008) (55%)(9). Điều này cho thấy mối lo ngại về công tác phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện. Phân loại tổn thương theo ASIA là cách phân loại thường dùng và đơn giản. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổn thương tủy loại A chiếm tỷ lệ cao nhất (64%), tiếp theo là tổn thương tủy sống loại D (16%), tổn thương tủy sống loại C (12%) và thấp nhất là tổn thương tủy sống loại B (8%), không ghi nhận tổn thương độ E. Tương tự với nghiên cứu của Cù Mỹ Hiếu Hạnh (2006) và Cầm Bá Thức (2008)(8,9). Điểm trung bình vận động và cảm giác của bệnh nhân lúc ra viện đều cao hơn lúc vào viện lần lượt là 4,92 điểm vận động và 6,88 điểm cảm giác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Điều này cho thấy có sự hồi phục về mặt thần kinh của bệnh nhân. Điểm SCIM II đo lường mức độ độc lập về tự chăm sóc, hô hấp và cơ thắt, di động trong phòng và bồn cầu, di động trong nhà và bên ngoài của bệnh nhân lúc ra viện đều cao hơn lúc vào viện. Cụ thể điểm trung bình SCIM II của bệnh nhân lúc ra viện cao hơn 52,16 điểm so lúc vào viện, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05). Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Cù Mỹ Hiếu Hạnh (2006) và Cầm Bá Thức (2008)(8,9). Tuy nhiên, có sự khác biệt về bảng kiểm, nghiên cứu của tác giả Cù Mỹ Hiếu Hạnh dùng bảng kiểm hoạt động sống hằng ngày (Activities of Daily Living-ADL), nghiên cứu của tác giả Cầm Bá Thức sử dụng các bảng kiểm chỉ số Barthel. Kết quả hai nghiên cứu trên cũng cho thấy mức độ độc lập của bệnh nhân tổn thương tủy sống liệt chi dưới có sự cải thiện đáng kể, giúp bệnh nhân thích nghi và tự sinh hoạt một cách tích cực. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 112 Trên thế giới cũng có những nghiên cứu với kết quả tương tự. Như, nghiên cứu của Muslumanoglu L (1997) cho thấy có sự cải thiện về cảm giác, vận động và chức năng sinh hoạt của các bệnh nhân tổn thương tủy sống(10). Nghiên cứu của Wirth B (2008) cũng cho thấy có sự tiến triển chức năng tốt của bệnh nhân tổn thương tủy sống với một chương trình phục hồi chức năng cho các bệnh nhân được đánh giá bằng thang đo SCIM II(11). Sự cải thiện điểm vận động, cảm giác và mức độ độc lập cho thấy chương trình tập vận động đã đạt được mục tiêu đề ra giúp người bệnh có thể sống chung với thương tổn một cách tích cực. Điều này cũng giúp cho các bác sĩ lâm sàng thiết lập các mục tiêu thực tế tối đa hóa tính độc lập chức năng cho bệnh nhân sau khi xuất viện trở về với cộng đồng, thuyết phục vận động những bệnh nhân mới và những bệnh nhân từ chối tham gia chương trình tập cùng những bệnh nhân đã tham gia tiếp tục duy trì những hiệu quả đã đạt được bằng cách tiếp tục vận động tại nhà một cách lâu dài. Giúp giảm gánh nặng kinh tế cho gia đình bệnh nhân cũng như xã hội(12). Bên cạnh những điểm mạnh, nghiên cứu của chúng tôi cũng còn một số điểm hạn chế. Vì thời gian lấy mẫu ngắn, đặc điểm bệnh không phổ biến nghiên cứu có cỡ mẫu khá nhỏ. Nghiên cứu chưa có nhóm chứng nên chỉ so sánh trước và sau, mà chưa đánh giá được hiệu quả thực sự của phương pháp can thiệp. Tuy nhiên đây là một trong số ít các nghiên cứu lâm sàng về phục hồi chứng năng trên bệnh nhân tổn thương tủy sống, chúng tôi hy vọng đóng góp một phần vào y văn, làm tiền đề thực hiện các nghiên cứu tiếp theo, cũng như mở rộng can thiệp cho bệnh nhân tổn thương tủy sống. KẾT LUẬN Có sự cải thiện đáng kể về điểm số vận động, cảm giác và điểm mức độ tự lập của bệnh nhân khi ra viện so với lúc vào viện với p <0,05 cho thấy có sự hồi phục về vận động, cảm giác về mặt chức năng thần kinh ở bệnh nhân liệt hạ chi do tổn thương tủy sống. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tan JC (1998). Practical Manual of Physical Medicine and Rehabilitation: Diagnostics, Therapeutics, and Basic Problems, pp.1-830. Mosby Publisher. 2. Sekhon LH, Fehlings MG (2001) Epidemiology, demographics, and pathophysiology of acute spinal cord injury. Spine, 26(24):S2-12. 3. Bộ Y Tế (2008). Sổ tay hướng dẫn Phục hồi chức năng tổn thương tủy sống. 4. Hiệp hội Tủy sống Châu Á (2006). Các nguyên tắc hướng dẫn điều trị tổn thương tủy sống. 5. Roberts TT, Leonard GR, Cepela DJ (2017). Classifications In Brief: American Spinal Injury Association (ASIA) Impairment Scale. Clinical Orthopaedics and Related Research, 475(5):1499- 1504. 6. Amiram Catz, Malka Itzkovich (2007). Spinal Cord Independence Measure: Comprehensive ability rating scale for the spinal cord lesion patient. Journal of Rehabilitation Research & Development, 44(1):665-68. 7. Nguyễn Trọng Tín (2008). Tình hình chấn thương cột sống ngực thắt lưng tại Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh Hình, Hội Nghị Thường Niên Kết Hợp: Lần thứ XV Hội Chấn Thương Chỉnh Hình và lần thứ XIV Hội Chỉnh Hình Nhi, pp.269-275. 8. Cù Mỹ Hiếu Hạnh (2006). Đánh giá khả năng phục hồi liệt hai chi dưới ở bệnh nhân tổn thương tủy sống bằng phương pháp tập vận động. Luận văn Thạc sĩ Y học, ĐH Y Dược TP. HCM. 9. Cầm Bá Thức (2008). Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai chi dưới do chấn thương tủy sống tại cộng đồng và đề xuất một số giải pháp can thiệp. Luận văn Tiến sĩ Y học, ĐH Y Dược TP. HCM. 10. Muslumanoglu L, Aki S, Ozturk Y, Soy D, Filiz M, Karan A, Berker E (1997). Motor, sensory and functional recovery in patients with spinal cord lesions. Spinal Cord, 35(6):386-389. 11. Wirth B, van Hedel HJ, Kometer B, Dietz V, Curt A (2008). Changes in activity after a complete spinal cord injury as measured by the Spinal Cord Independence Measure II. Neurorehabil Neural Repair, 22(3):279-287. 12. Cardenas DD, Dalal K (2014). Spinal Cord Injury Rehabilitation. Physical Medicine and Rehabilitation Clinics of North America, 394:27. Ngày nhận bài báo: 10/07/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
hieu_qua_phuc_hoi_o_benh_nhan_liet_chi_duoi_sau_do_ton_thuon.pdf

