Hiệu quả mô hình can thiệp thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội

Nghiên cứu (NC) can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/

STI được triển khai tại Hà Nội trên đối tượng nam bán

dâm đồng giới từ 16 đến 29 tuổi trong ba năm (2015-

2017), bao gồm các hoạt động truyền thông thay đổi hành

vi, tiếp cận dịch vụ y tế, và tư vấn xét nghiệm tự nguyện.

NC can thiệp cộng đồng, đánh giá trước – sau can thiệp

với cỡ mẫu trước can thiệp là 314 đối tượng, sau can thiệp

là 275 đối tượng. Kết quả cho thấy hành vi dự phòng nguy

cơ lây nhiễm HIV/STI của các đối tượng NC có sự thay

đổi đáng kể. Hiệu quả can thiệp đã được chứng minh bằng

sự thay đổi trong hầu hết các nội dung về thay đổi hành

vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI của đối

tượng NC. Các hoạt động về thông tin giáo dục truyền

thông thay đổi hành vi vẫn cần tiếp tục được duy trì và

tăng cường chất lượng

pdf 7 trang phuongnguyen 520
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả mô hình can thiệp thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả mô hình can thiệp thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội

Hiệu quả mô hình can thiệp thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn124
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
TÓM TẮT:
Nghiên cứu (NC) can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/
STI được triển khai tại Hà Nội trên đối tượng nam bán 
dâm đồng giới từ 16 đến 29 tuổi trong ba năm (2015-
2017), bao gồm các hoạt động truyền thông thay đổi hành 
vi, tiếp cận dịch vụ y tế, và tư vấn xét nghiệm tự nguyện. 
NC can thiệp cộng đồng, đánh giá trước – sau can thiệp 
với cỡ mẫu trước can thiệp là 314 đối tượng, sau can thiệp 
là 275 đối tượng. Kết quả cho thấy hành vi dự phòng nguy 
cơ lây nhiễm HIV/STI của các đối tượng NC có sự thay 
đổi đáng kể. Hiệu quả can thiệp đã được chứng minh bằng 
sự thay đổi trong hầu hết các nội dung về thay đổi hành 
vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI của đối 
tượng NC. Các hoạt động về thông tin giáo dục truyền 
thông thay đổi hành vi vẫn cần tiếp tục được duy trì và 
tăng cường chất lượng.
Từ khóa: Can thiệp dự phòng, hành vi dự phòng 
HIV/STI, nam bán dâm đồng giới.
SUMMARY: 
EFFECTIVENESS OF THE INTERVENTION 
TO CHANGE HIV/STI PREVENTION BEHAVIOR 
AMONG MALE SEX WORKERS AGED 16-29 IN 
HANOI.
The interventions of HIV/ STI prevention have been 
implemented in Hanoi for 16-29-year-old male sex workers for 
three years (2015-2017), including the behavior change, access 
to health services communication, knowledge enhancement, 
voluntary counseling, and testing. The results show that there 
was a significant change in HIV/STI prevention behavior 
among participants. The effectiveness of the intervention after 
three years (2015-2017) in our study has been demonstrated 
by the change in most of the content of the behavior of HIV/
STI prevention. Age, education level and gender identity were 
factors influencing the behavior of seeking medical services. 
Behavioral education and communication activities need to 
continuously maintained and improved.
Key words: Prevention, HIV/STI prevention 
behavior, male sex workers.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV/AIDS là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức 
khỏe con người, số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nhiễm 
HIV có chiều hướng tăng nhanh trong nhóm nam quan 
hệ tình dục đồng giới (NTDĐG) [1]. Nhóm nam bán dâm 
đồng giới (NBDĐG) là một trong số những nhóm có nguy 
cơ cao trong NTDĐG ở Việt Nam, với tỷ lệ nhiễm HIV 
cao [2]. Nhóm NTDĐG đã cho thấy hạn chế về hành vi 
liên quan đến dự phòng, điều trị HIV/AIDS và STI và khả 
năng tiếp cận dịch vụ dự phòng, điều trị HIV/AIDS và 
STI của nhóm này [3]. Ở Việt Nam hiện nay các mô hình 
can thiệp đồng bộ và hiệu quả về tăng khả năng tiếp cận 
dịch vụ dự phòng, điều trị HIV/AIDS và STI cho nhóm 
NBDĐG còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên, nhằm 
tăng tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế và hành vi về dự phòng 
lây nhiễm HIV và STI của nhóm NBDĐG, chúng tôi triển 
khai mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV và STI 
trong nhóm NBDĐG 16 - 29 tuổi tại Hà Nội. NC này 
được triển khai nhằm xem xét hiệu quả mô hình can thiệp 
thông qua đánh giá hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây 
nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 
tuổi tại Hà Nội trước và sau can thiệp. 
Ngày nhận bài: 08/03/2017 Ngày phản biện: 15/03/2017 Ngày duyệt đăng: 01/04/2018
1. Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế
Tác giả chính: Nguyễn Văn Hùng, ĐT: 0902.988.986, Email: [email protected]
2. Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
3. Cục Phòng, chống HIV/AIDS
4. Trường Đại học Y Hà Nội
HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP THAY ĐỔI HÀNH VI VÀ SỬ 
DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/STI Ở NHÓM NAM 
BÁN DÂM ĐỒNG GIỚI 16-29 TUỔI TẠI HÀ NỘI
Nguyễn Văn Hùng1*, Nguyễn Anh Tuấn2, Phạm Đức Mạnh3, Vũ Toàn Thịnh4,
Lưu Ngọc Minh4, Đỗ Thị Thanh Toàn4, Lê Minh Giang4
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 125
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng NC: 
NBDĐG được sử dụng trong NC này là những nam 
giới có quan hệ tình dục (QHTD) với nam giới khác nhằm 
trao đổi tiền hoặc bất cứ loại vật chất nào như thức ăn, 
quần áo, chỗ ở hoặc ma túy, tuổi từ 16 – 29, sống tại Hà 
Nội ít nhất 1 tháng qua.
2.2. Địa điểm và thời gian NC: 
NC được tiến hành từ tháng 01/2015 đến tháng 
12/2017 tại các quận của thành phố Hà Nội có tập trung 
nhiều NBDĐG như Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai 
Bà Trưng và Cầu Giấy.
2.3. Thiết kế NC: 
NC can thiệp cộng đồng tự chứng. 
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1. Cỡ mẫu NC: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu 
cho so sánh sự khác biệt giữa hai tỉ lệ, trong đó tỉ lệ tham 
khảo là tỉ lệ có xét nghiệm STI 6 tháng trước điều tra trên 
nhóm NBDĐG ở Hà Nội năm 2009 -2010: 15% [4] và tỉ 
lệ mong đợi sau can thiệp là: 30%. Cỡ mẫu tối thiểu cho 
mỗi vòng của NC tính được là 242 NBDĐG.
2.4.2. Chọn mẫu NC: 
Mẫu NC được chọn độc lập ở 2 nhóm trước và sau 
can thiệp theo phương pháp chọn mẫu thời gian - địa điểm 
(Time Location Sampling - TLS). Theo phương pháp này, 
tại mỗi vòng đối tượng NC được tuyển chọn ngẫu nhiên 
vào mẫu theo 2 gian đoạn: Xây dựng khung mẫu và lựa 
chọn chùm và lựa chọn các đối tượng tham gia NC tại các 
tụ điểm.
2.5. Mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/
STI trong nhóm NBDĐG
Mô hình can thiệp được triển khai gồm các hoạt động 
tại Phòng khám Sức khỏe tình dục (SHP) của Trường Đại 
học Y Hà Nội: đánh giá xác định nguy cơ và nhu cầu của 
NBDĐG về khám và điều trị HIV/STI; tham vấn cho đối 
tượng để nâng cao kiến thức về HIV/STI và HIV/AIDS, 
mỗi đối tượng có thể được tham vấn nhiều lần trong quá 
trình can thiệp; khám lâm sàng, xét nghiệm HIV/STI và 
điều trị STI cho đối tượng. 
2.6. Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
Đánh giá điều tra trước và sau can thiệp cùng 
sử dụng chung một bộ câu hỏi phỏng vấn. Chỉ số về 
hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/
STI được xác định thông qua một số biến số: tỷ lệ đối 
tượng đã từng đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y 
tế trong 6 tháng qua; tỷ lệ đối tượng dự định đi khám 
sức khỏe tổng thể tại các cơ sở dịch vụ y tế hoặc 
phòng khám tư của bác sĩ trong vòng 6 tháng tới; tỷ 
lệ đối tượng mô tả đúng khả năng nhận được dịch vụ 
y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục; tỷ lệ 
đối tượng đã từng xét nghiệm HIV; tỷ lệ đối tượng đã 
từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ 
tình dục với nam giới.
Số liệu được cập nhật thường xuyên ngay sau mỗi lần 
điều tra, sử dụng dịch vụ của website  
 2.7. Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và xử lý số liệu bằng phần 
mềm SPSS 16.0. So sánh các biến số trước và sau can 
thiệp. Để đánh giá hiệu quả các hoạt động can thiệp sử 
dụng các chỉ số NC chính đã được nêu và tính chỉ số hiệu 
qủa (CSHQ):
CSHQ (%)
| p2 – p1|
x 100
 p1
Trong đó p1 là kết quả có tại thời điểm đánh giá trước 
can thiệp (TCT) năm 2015; p2 là kết quả tại thời điểm 
đánh giá sau can thiệp (SCT) năm 2017.
2.8. Đạo đức trong NC
NC đã được Hội đồng Đạo đức trong NC Y sinh học 
của Trường Đại học Y Hà Nội xem xét và thông qua.
III. KẾT QUẢ
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn126
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng NC 
Đặc trưng
Trước CT Sau CT
Số lượng
n=314
Tỷ lệ
(%)
Số lượng
n=275
Tỷ lệ
(%)
Nhóm tuổi 
16 - 20 105 33,8 60 21,8
21 - 22 81 26 62 22,5
23 – 24 59 19 61 22,2
25 – 29 66 21,2 92 33,5
Trình độ học vấn 
Tiểu học – Trung học cơ sở (1 - 9) 90 28,7 85 30,9
Trung học phổ thông (10 - 12) 124 39,5 107 38,9
Trung cấp/cao đẳng/đại học 100 31,8 83 30,2
Tình trạng hôn nhân 
Độc thân, chưa kết hôn bao giờ Ly dị/ly thân 303 96,8 244 89,4
Có vợ, người yêu sống cùng 10 3,2 29 10,6
Nơi sinh 
Hà Nội 49 15,6 50 18,2
Các tỉnh khác 265 84,4 224 81,8
Thu nhập trong tháng trước điều tra 
< 2.000.000đ 22 7 21 7,6
2.000.000 - 5.000.000đ 134 42,7 96 34,9
> 5.000.000đ 158 50,3 158 57,5
Tự nhận về giới 
Là nam 223 87,8 206 85,5
Là nữ/ người chuyển giới/ đồng giới/
không rõ giới tính 
31 12,2 35 14,5
Giới tính thích QHTD 
Nam 91 29 86 31,5
Nữ/Cả nam và nữ 223 71,0 187 68,5
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 127
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 2. Thay đổi hành vi về dự phòng bệnh bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV 
Đặc trưng
TCT 2015
(n=314)
SCT 2017
(n=275) p
CSHQ
(%)
SL % SL %
Đã từng đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y tế 
trong 6 tháng qua
124 50,4 136 58,4 > 0,05 15,9
Dự định đi khám sức khỏe tổng thể trong vòng 6 
tháng tới
227 72,3 225 82,1 < 0,005 13,6
Mô tả có thể nhận được dịch vụ y tế về các bệnh 
lây truyền qua đường tình dục
206 65,6 216 78,6 < 0,002 19,8
Mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các 
bệnh lây truyền qua đường tình dục
55 17,5 119 43,3 <0,001 147,4
Đã từng xét nghiệm HIV và nhận kết quả 137 49,1 186 72,7 <0,001 48,1
Đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có 
quan hệ tình dục với nam giới
77 24,5 97 54,5 < 0,001 122,5
Các đặc trưng cơ bản của đối tượng tham gia NC 
được thể hiện trong bảng 1, trong đó không thấy có sự 
khác biệt về độ tuổi và trình độ văn hóa giữa các nhóm 
tuổi và các bậc học trong cả hai giai đoạn trước và sau 
can thiệp (dao động 20-30% cho mỗi nhóm tuổi và 30-
40% cho mỗi nhóm bậc học). Tại cả hai giai đoạn NC, 
đa số các đối tượng cũng đang sống một mình, độc thân 
hoặc đã ly thân, ly dị (trước can thiệp là 96,8% và sau can 
thiệp là 89,4%). Có đến hơn 80% là các đối tượng ngoại 
tỉnh, trong đó gần 50% có thu nhập bình quân dưới 5 triệu 
đồng/tháng. Trên 85% các đối tượng NC tự nhận mình là 
nam giới.
Kết quả từ bảng 2 cho thấy sự thay đổi từ năm 2015 
đến 2017 trong hầu hết các nội dung về thay đổi hành vi và 
sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI trong đó hành 
vi mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây 
truyền qua đường tình dục từ bác sĩ hoặc phòng khám và 
đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ tình 
dục với nam giới là hai nội dung thay đổi nhiều nhất với lần 
lượt chỉ số hiệu quả là 147,4% và 122,5%. Tỷ lệ đến khám 
chữa bệnh tại một cơ sở y tế trong 6 tháng qua cũng tăng từ 
50,4% lên 58,4% (đạt chỉ số hiệu quả bằng 15,9%). 
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn128
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
Bảng 3. Mô hình ảnh hưởng đến hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây truyền qua đường tình dục 
và HIV sau can thiệp 
Đặc trưng
Đã từng đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y tế trong 6 tháng qua
Số 
lượng
n=275
Tỷ lệ 
(%)
OR
(95% khoảng tin cậy)
aOR
(95% khoảng tin cậy)
Nhóm tuổi 
 16 - 20 22 16.2 1 1
 21 - 22 27 19.9 1,36 (0,61 - 2,90) 1,19 (0,45 - 3,16)
 23 – 24 32 23.5 1,87 (0,85 - 4,11) 1,16 (0,43 - 3,10)
 25 – 29 55 40.4 2,81 (1,34 - 5,89) 1,28 (0,49 - 3,38)
Trình độ học vấn 
 Tiểu học và Trung học cơ sở (6 - 9) 30 22.1 1 1
 Trung học phổ thông (10 - 12) 49 36 1,91 (1,03 - 3,54) 1,88 (0,94 - 3,78)
 Trung cấp/cao đẳng/đại học 57 41.9 11,4 (4,78 - 27,19) 7,79 (2,98 - 20,34)
Tình trạng hôn nhân 
 Độc thân, chưa kết hôn bao giờ 
Ly dị/ly thân 
119 87.5 1 1
 Có vợ, người yêu sống cùng 17 12.5 1,38 (0,59 - 3,24) 1,05 (0,37 - 3,01)
Nơi sinh 
 Hà Nội 30 22.1 1 1
 Các tỉnh khác 106 77.9 0,50 (0,24 - 1,05) 0,90 (0,37 - 2,19)
Thu nhập trong tháng trước điều tra 
 < 2.000.000đ 8 5.9 1 1
 2.000.000 - 5.000.000đ 40 29.4 0,75 (0,24 - 2,36) 1,47 (0,33 - 6,59)
 > 5.000.000đ 88 64.7 1,29 (0,43 - 3,94) 2,47 (0,55 - 11,12)
Tự nhận về giới tính
 Là nam 96 79.3 1 1
 Là nữ/người chuyển giới/đồng giới/ 
không rõ giới tính 
25 20.7 4,32 (1,58 - 11,80) 4,50 (1,48 - 13,72)
Giới tính thích QHTD 
 Nam 52 38.2 1 1
 Nữ/Cả nam và nữ 84 61.8 0,35 (0,19 - 0,66) 0,66 (0,30 - 1,46)
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn 129
 V
I N
 S
C K
H E C NG 
NG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trong mô hình hồi quy đơn biến, những người trên 
25 tuổi có hành vi tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh tại 
các cơ sở y tế cao hơn so với nhóm tuổi trẻ dưới 20 tuổi 
là 2,81 lần (OR = 2,81; 95% CI: 1,34 – 5,89); trình độ văn 
hóa càng cao thì hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế càng cao 
(người có trình độ trung cấp/cao đẳng/đại học có tỷ lệ tiếp 
cận dịch vụ y tế cao gấp 11,4 lần người có trình độ tiểu 
học/trung học cơ sở (OR= 11,4; 95% CI: 4,78 – 27,19) và 
cao gấp 7,79 lần trong mô hình hồi quy đa biến (AOR= 
7,79; 95% CI: 2,98 – 20,34). Những người tự nhận giới 
tính không phải là nam giới cho thấy tỷ lệ tìm kiếm dịch 
vụ y tế cao gấp 4,32 lần so với những người tự nhận là 
nam giới (OR= 4,32; 95% CI: 1,58 – 11,8). Đối tượng 
thích quan hệ tình dục với nữ hoặc cả nam và nữ thì cho 
thấy hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế thấp hơn so với đối 
tượng thích quan hệ tình dục với năm giới (OR=0,35; 
95%CI: 0,19 - 0,66).
IV. BÀN LUẬN
Kết quả can thiệp sau 3 năm từ NC của chúng tôi cho 
thấy có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về việc đối tượng 
NC mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các bệnh 
lây truyền qua đường tình dục từ bác sĩ hoặc phòng khám 
(tăng từ 17,5% trước can thiệp lên 43,3% sau can thiệp) 
và đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ 
tình dục với nam giới (tăng từ 24,5% lên 55,5%). Một vài 
NC trước đây triển khai tại Hà Nội cho thấy các đối tượng 
NBDĐG thường mặc cảm bị xã hội kỳ thị nên tỉ lệ sử 
dụng dịch vụ HIV/STI còn thấp. NC của Lê Minh Giang 
và cộng sự năm 2014 cho thấy tỷ lệ khám, chẩn đoán STI 
12 tháng qua thấp (3,9% đến 6,5%) [5]. NC của Nguyễn 
Thị Phương Hoa năm 2015 cho tỷ lệ đối tượng tiếp cận và 
sử dụng các dịch vụ can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV 
và STI là: đã từng xét nghiệm HIV (47,8%), khám và điều 
trị STI (15,0%) và HIV (9,6%) [6]. Như vậy, kết quả can 
thiệp từ NC này của chúng tôi đã bước đầu cho thấy hiệu 
quả của chương trình can thiệp thay đổi hành vi cho các 
đối tượng.
Đã có nhiều NC can thiệp được triển khai tại Việt 
Nam cũng cho kết quả rất tốt giúp thay đổi hành vi của đối 
tượng nhận can thiệp. Chương trình khám và điều trị các 
nhiễm trùng STI ở Việt Nam được triển khai lồng ghép 
với các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và hoạt động 
khám chữa bệnh tại tuyến y tế ban đầu. Kết quả triển khai 
hoạt động khám và điều trị các nhiễm trùng STI liên tục 
tăng trong nhiều năm qua [7].
Kết quả phân tích trong NC ban đầu của chúng tôi 
cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp cận và sử 
dụng dịch vụ xét nghiệm HIV/STI là tuổi và trình độ học 
vấn của đối tượng NC. Tuổi và trình độ học vấn càng cao 
thì càng có khả năng sử dụng dịch vụ HIV/STI. Điều này 
có thể được lí giải là do sự liên quan đến kì thị và phân biệt 
đối xử, khi những người có trình độ học vấn thấp thường 
có xu hướng tự nhận định sự chịu ảnh hưởng về phân biệt 
đối xử cao hơn so với những đối tượng có học vấn cao [8]. 
Kết quả NC tại Brazil (2015) cho thấy, những người có 
tuổi càng cao thì có khả năng sử dụng dịch vụ dự phòng 
cao hơn so với nhóm đối tượng có tuổi trẻ [9]. 
Một yếu tố liên quan đến hành vi tìm kiếm dịch vụ y 
tế khác là tự nhận về giới, trong đó những người tự nhận 
giới tính không phải là nam giới cho thấy tỷ lệ tìm kiếm 
dịch vụ y tế cao gấp 3,7 lần so với những người tự nhận 
là nam giới. Hiện nay những người thực chất được gọi là 
trai thẳng, nhưng vì lý do kiếm tiền nên họ phải bán dâm 
cho người đồng giới và họ là những người ít được tiếp 
cận đến các dịch vụ STI và cũng chưa chủ động tiếp cận 
nhiều [10]. Vì vậy, một lần nữa kết quả NC của chúng tôi 
cũng gợi ý cho việc triển khai các chương trình can thiệp 
cho NBDĐG cần quan tâm hơn nữa đến nhóm trai thẳng 
bán dâm.
V. KẾT LUẬN
Hiệu quả can thiệp sau ba năm (2015-2017) trong NC 
của chúng tôi đã cho thấy sự thay đổi trong hầu hết các 
nội dung về hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm 
HIV/STI của đối tượng NC. Đáng chú ý là hai nội dung 
đối tượng NC mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về 
các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ bác sĩ hoặc 
phòng khám và đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc 
có quan hệ tình dục với nam giới. Tuổi, trình độ văn hóa 
và nhận định về giới là những yếu tố ảnh hưởng đến hành 
vi tìm kiếm dịch vụ y tế. Các hoạt động về thông tin giáo 
dục truyền thông thay đổi hành vi vẫn cần tiếp tục được 
duy trì và tăng cường chất lượng.
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018
Website: yhoccongdong.vn130
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018
1. Bộ Y tế. Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng kế hoạch năm 2014, Hà 
Nội, 2014.
2. Cục phòng chống HIV/AIDS. HIV/AIDS tại Việt Nam: Ước tính và dự báo giai đoạn 2011 - 2015, Hà Nội, 2012.
3. Cục phòng chống HIV/AIDS and Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Kết quả giám sát kết hợp hành vi và các 
chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam – vòng II – 2009, Hà Nội, 2001.
4. Nguyễn Thị Phương Hoa, và cộng sự. Nguy cơ nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây truyền qua đường tình 
dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010. Tạp chí Y học Dự phòng, 2012; 12(6 (133)): 47-53.
5. Giang LM, và cộng sự. Thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi phát hiện HIV và STI ở nhóm nam 
bán dâm đồng giới năm 2011. Tạp chí NC Y học, 2014; 91(5): 84-90.
6. Nguyễn Thị Phương Hoa, và cộng sự. Nguy cơ nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây truyền qua đường tình 
dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010. Tạp chí Y học Dự phòng, 2012; 12(6): 47-53.
7. Bộ Y tế. Báo cáo 20 năm hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, 2010.
8. Zhao Y, et al. HIV Testing and Preventive Services Accessibility Among Men Who Have Sex With Men at 
High Risk of HIV Infection in Beijing, China. Medicine, 2015; 94(6): e534.
9. Brito, Ana Maria, et al. Factors Associated with Low Levels of HIV Testing among Men Who Have Sex with 
Men (MSM) in Brazil. PLoS ONE, 2015; 10(6): e0130445.
10. Colby Donn, Hoàng Thiện, et al. Risk factors for hiv infection and unprotected anal sex among male 
sex workers in Vietnam. 20th Conference on Retroviruses and Opportunistic Infections, Altanta, USA, 2013: 
Poster # 1023.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_mo_hinh_can_thiep_thay_doi_hanh_vi_va_su_dung_dich.pdf