Hiệu quả mô hình can thiệp thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội
Nghiên cứu (NC) can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/
STI được triển khai tại Hà Nội trên đối tượng nam bán
dâm đồng giới từ 16 đến 29 tuổi trong ba năm (2015-
2017), bao gồm các hoạt động truyền thông thay đổi hành
vi, tiếp cận dịch vụ y tế, và tư vấn xét nghiệm tự nguyện.
NC can thiệp cộng đồng, đánh giá trước – sau can thiệp
với cỡ mẫu trước can thiệp là 314 đối tượng, sau can thiệp
là 275 đối tượng. Kết quả cho thấy hành vi dự phòng nguy
cơ lây nhiễm HIV/STI của các đối tượng NC có sự thay
đổi đáng kể. Hiệu quả can thiệp đã được chứng minh bằng
sự thay đổi trong hầu hết các nội dung về thay đổi hành
vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI của đối
tượng NC. Các hoạt động về thông tin giáo dục truyền
thông thay đổi hành vi vẫn cần tiếp tục được duy trì và
tăng cường chất lượng
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả mô hình can thiệp thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn124 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 TÓM TẮT: Nghiên cứu (NC) can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/ STI được triển khai tại Hà Nội trên đối tượng nam bán dâm đồng giới từ 16 đến 29 tuổi trong ba năm (2015- 2017), bao gồm các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi, tiếp cận dịch vụ y tế, và tư vấn xét nghiệm tự nguyện. NC can thiệp cộng đồng, đánh giá trước – sau can thiệp với cỡ mẫu trước can thiệp là 314 đối tượng, sau can thiệp là 275 đối tượng. Kết quả cho thấy hành vi dự phòng nguy cơ lây nhiễm HIV/STI của các đối tượng NC có sự thay đổi đáng kể. Hiệu quả can thiệp đã được chứng minh bằng sự thay đổi trong hầu hết các nội dung về thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI của đối tượng NC. Các hoạt động về thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi vẫn cần tiếp tục được duy trì và tăng cường chất lượng. Từ khóa: Can thiệp dự phòng, hành vi dự phòng HIV/STI, nam bán dâm đồng giới. SUMMARY: EFFECTIVENESS OF THE INTERVENTION TO CHANGE HIV/STI PREVENTION BEHAVIOR AMONG MALE SEX WORKERS AGED 16-29 IN HANOI. The interventions of HIV/ STI prevention have been implemented in Hanoi for 16-29-year-old male sex workers for three years (2015-2017), including the behavior change, access to health services communication, knowledge enhancement, voluntary counseling, and testing. The results show that there was a significant change in HIV/STI prevention behavior among participants. The effectiveness of the intervention after three years (2015-2017) in our study has been demonstrated by the change in most of the content of the behavior of HIV/ STI prevention. Age, education level and gender identity were factors influencing the behavior of seeking medical services. Behavioral education and communication activities need to continuously maintained and improved. Key words: Prevention, HIV/STI prevention behavior, male sex workers. I. ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe con người, số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tăng nhanh trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (NTDĐG) [1]. Nhóm nam bán dâm đồng giới (NBDĐG) là một trong số những nhóm có nguy cơ cao trong NTDĐG ở Việt Nam, với tỷ lệ nhiễm HIV cao [2]. Nhóm NTDĐG đã cho thấy hạn chế về hành vi liên quan đến dự phòng, điều trị HIV/AIDS và STI và khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng, điều trị HIV/AIDS và STI của nhóm này [3]. Ở Việt Nam hiện nay các mô hình can thiệp đồng bộ và hiệu quả về tăng khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng, điều trị HIV/AIDS và STI cho nhóm NBDĐG còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên, nhằm tăng tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế và hành vi về dự phòng lây nhiễm HIV và STI của nhóm NBDĐG, chúng tôi triển khai mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV và STI trong nhóm NBDĐG 16 - 29 tuổi tại Hà Nội. NC này được triển khai nhằm xem xét hiệu quả mô hình can thiệp thông qua đánh giá hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi tại Hà Nội trước và sau can thiệp. Ngày nhận bài: 08/03/2017 Ngày phản biện: 15/03/2017 Ngày duyệt đăng: 01/04/2018 1. Viện Kiểm định Quốc gia Vắc xin và Sinh phẩm y tế Tác giả chính: Nguyễn Văn Hùng, ĐT: 0902.988.986, Email: [email protected] 2. Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương 3. Cục Phòng, chống HIV/AIDS 4. Trường Đại học Y Hà Nội HIỆU QUẢ MÔ HÌNH CAN THIỆP THAY ĐỔI HÀNH VI VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV/STI Ở NHÓM NAM BÁN DÂM ĐỒNG GIỚI 16-29 TUỔI TẠI HÀ NỘI Nguyễn Văn Hùng1*, Nguyễn Anh Tuấn2, Phạm Đức Mạnh3, Vũ Toàn Thịnh4, Lưu Ngọc Minh4, Đỗ Thị Thanh Toàn4, Lê Minh Giang4 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 125 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng NC: NBDĐG được sử dụng trong NC này là những nam giới có quan hệ tình dục (QHTD) với nam giới khác nhằm trao đổi tiền hoặc bất cứ loại vật chất nào như thức ăn, quần áo, chỗ ở hoặc ma túy, tuổi từ 16 – 29, sống tại Hà Nội ít nhất 1 tháng qua. 2.2. Địa điểm và thời gian NC: NC được tiến hành từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2017 tại các quận của thành phố Hà Nội có tập trung nhiều NBDĐG như Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng và Cầu Giấy. 2.3. Thiết kế NC: NC can thiệp cộng đồng tự chứng. 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 2.4.1. Cỡ mẫu NC: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho so sánh sự khác biệt giữa hai tỉ lệ, trong đó tỉ lệ tham khảo là tỉ lệ có xét nghiệm STI 6 tháng trước điều tra trên nhóm NBDĐG ở Hà Nội năm 2009 -2010: 15% [4] và tỉ lệ mong đợi sau can thiệp là: 30%. Cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi vòng của NC tính được là 242 NBDĐG. 2.4.2. Chọn mẫu NC: Mẫu NC được chọn độc lập ở 2 nhóm trước và sau can thiệp theo phương pháp chọn mẫu thời gian - địa điểm (Time Location Sampling - TLS). Theo phương pháp này, tại mỗi vòng đối tượng NC được tuyển chọn ngẫu nhiên vào mẫu theo 2 gian đoạn: Xây dựng khung mẫu và lựa chọn chùm và lựa chọn các đối tượng tham gia NC tại các tụ điểm. 2.5. Mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/ STI trong nhóm NBDĐG Mô hình can thiệp được triển khai gồm các hoạt động tại Phòng khám Sức khỏe tình dục (SHP) của Trường Đại học Y Hà Nội: đánh giá xác định nguy cơ và nhu cầu của NBDĐG về khám và điều trị HIV/STI; tham vấn cho đối tượng để nâng cao kiến thức về HIV/STI và HIV/AIDS, mỗi đối tượng có thể được tham vấn nhiều lần trong quá trình can thiệp; khám lâm sàng, xét nghiệm HIV/STI và điều trị STI cho đối tượng. 2.6. Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin Đánh giá điều tra trước và sau can thiệp cùng sử dụng chung một bộ câu hỏi phỏng vấn. Chỉ số về hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/ STI được xác định thông qua một số biến số: tỷ lệ đối tượng đã từng đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y tế trong 6 tháng qua; tỷ lệ đối tượng dự định đi khám sức khỏe tổng thể tại các cơ sở dịch vụ y tế hoặc phòng khám tư của bác sĩ trong vòng 6 tháng tới; tỷ lệ đối tượng mô tả đúng khả năng nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục; tỷ lệ đối tượng đã từng xét nghiệm HIV; tỷ lệ đối tượng đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ tình dục với nam giới. Số liệu được cập nhật thường xuyên ngay sau mỗi lần điều tra, sử dụng dịch vụ của website 2.7. Xử lý và phân tích số liệu Số liệu được làm sạch và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0. So sánh các biến số trước và sau can thiệp. Để đánh giá hiệu quả các hoạt động can thiệp sử dụng các chỉ số NC chính đã được nêu và tính chỉ số hiệu qủa (CSHQ): CSHQ (%) | p2 – p1| x 100 p1 Trong đó p1 là kết quả có tại thời điểm đánh giá trước can thiệp (TCT) năm 2015; p2 là kết quả tại thời điểm đánh giá sau can thiệp (SCT) năm 2017. 2.8. Đạo đức trong NC NC đã được Hội đồng Đạo đức trong NC Y sinh học của Trường Đại học Y Hà Nội xem xét và thông qua. III. KẾT QUẢ SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn126 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng NC Đặc trưng Trước CT Sau CT Số lượng n=314 Tỷ lệ (%) Số lượng n=275 Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi 16 - 20 105 33,8 60 21,8 21 - 22 81 26 62 22,5 23 – 24 59 19 61 22,2 25 – 29 66 21,2 92 33,5 Trình độ học vấn Tiểu học – Trung học cơ sở (1 - 9) 90 28,7 85 30,9 Trung học phổ thông (10 - 12) 124 39,5 107 38,9 Trung cấp/cao đẳng/đại học 100 31,8 83 30,2 Tình trạng hôn nhân Độc thân, chưa kết hôn bao giờ Ly dị/ly thân 303 96,8 244 89,4 Có vợ, người yêu sống cùng 10 3,2 29 10,6 Nơi sinh Hà Nội 49 15,6 50 18,2 Các tỉnh khác 265 84,4 224 81,8 Thu nhập trong tháng trước điều tra < 2.000.000đ 22 7 21 7,6 2.000.000 - 5.000.000đ 134 42,7 96 34,9 > 5.000.000đ 158 50,3 158 57,5 Tự nhận về giới Là nam 223 87,8 206 85,5 Là nữ/ người chuyển giới/ đồng giới/ không rõ giới tính 31 12,2 35 14,5 Giới tính thích QHTD Nam 91 29 86 31,5 Nữ/Cả nam và nữ 223 71,0 187 68,5 SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 127 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 2. Thay đổi hành vi về dự phòng bệnh bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV Đặc trưng TCT 2015 (n=314) SCT 2017 (n=275) p CSHQ (%) SL % SL % Đã từng đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y tế trong 6 tháng qua 124 50,4 136 58,4 > 0,05 15,9 Dự định đi khám sức khỏe tổng thể trong vòng 6 tháng tới 227 72,3 225 82,1 < 0,005 13,6 Mô tả có thể nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 206 65,6 216 78,6 < 0,002 19,8 Mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 55 17,5 119 43,3 <0,001 147,4 Đã từng xét nghiệm HIV và nhận kết quả 137 49,1 186 72,7 <0,001 48,1 Đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ tình dục với nam giới 77 24,5 97 54,5 < 0,001 122,5 Các đặc trưng cơ bản của đối tượng tham gia NC được thể hiện trong bảng 1, trong đó không thấy có sự khác biệt về độ tuổi và trình độ văn hóa giữa các nhóm tuổi và các bậc học trong cả hai giai đoạn trước và sau can thiệp (dao động 20-30% cho mỗi nhóm tuổi và 30- 40% cho mỗi nhóm bậc học). Tại cả hai giai đoạn NC, đa số các đối tượng cũng đang sống một mình, độc thân hoặc đã ly thân, ly dị (trước can thiệp là 96,8% và sau can thiệp là 89,4%). Có đến hơn 80% là các đối tượng ngoại tỉnh, trong đó gần 50% có thu nhập bình quân dưới 5 triệu đồng/tháng. Trên 85% các đối tượng NC tự nhận mình là nam giới. Kết quả từ bảng 2 cho thấy sự thay đổi từ năm 2015 đến 2017 trong hầu hết các nội dung về thay đổi hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI trong đó hành vi mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ bác sĩ hoặc phòng khám và đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ tình dục với nam giới là hai nội dung thay đổi nhiều nhất với lần lượt chỉ số hiệu quả là 147,4% và 122,5%. Tỷ lệ đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y tế trong 6 tháng qua cũng tăng từ 50,4% lên 58,4% (đạt chỉ số hiệu quả bằng 15,9%). SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn128 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 3. Mô hình ảnh hưởng đến hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây truyền qua đường tình dục và HIV sau can thiệp Đặc trưng Đã từng đến khám chữa bệnh tại một cơ sở y tế trong 6 tháng qua Số lượng n=275 Tỷ lệ (%) OR (95% khoảng tin cậy) aOR (95% khoảng tin cậy) Nhóm tuổi 16 - 20 22 16.2 1 1 21 - 22 27 19.9 1,36 (0,61 - 2,90) 1,19 (0,45 - 3,16) 23 – 24 32 23.5 1,87 (0,85 - 4,11) 1,16 (0,43 - 3,10) 25 – 29 55 40.4 2,81 (1,34 - 5,89) 1,28 (0,49 - 3,38) Trình độ học vấn Tiểu học và Trung học cơ sở (6 - 9) 30 22.1 1 1 Trung học phổ thông (10 - 12) 49 36 1,91 (1,03 - 3,54) 1,88 (0,94 - 3,78) Trung cấp/cao đẳng/đại học 57 41.9 11,4 (4,78 - 27,19) 7,79 (2,98 - 20,34) Tình trạng hôn nhân Độc thân, chưa kết hôn bao giờ Ly dị/ly thân 119 87.5 1 1 Có vợ, người yêu sống cùng 17 12.5 1,38 (0,59 - 3,24) 1,05 (0,37 - 3,01) Nơi sinh Hà Nội 30 22.1 1 1 Các tỉnh khác 106 77.9 0,50 (0,24 - 1,05) 0,90 (0,37 - 2,19) Thu nhập trong tháng trước điều tra < 2.000.000đ 8 5.9 1 1 2.000.000 - 5.000.000đ 40 29.4 0,75 (0,24 - 2,36) 1,47 (0,33 - 6,59) > 5.000.000đ 88 64.7 1,29 (0,43 - 3,94) 2,47 (0,55 - 11,12) Tự nhận về giới tính Là nam 96 79.3 1 1 Là nữ/người chuyển giới/đồng giới/ không rõ giới tính 25 20.7 4,32 (1,58 - 11,80) 4,50 (1,48 - 13,72) Giới tính thích QHTD Nam 52 38.2 1 1 Nữ/Cả nam và nữ 84 61.8 0,35 (0,19 - 0,66) 0,66 (0,30 - 1,46) SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 129 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Trong mô hình hồi quy đơn biến, những người trên 25 tuổi có hành vi tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế cao hơn so với nhóm tuổi trẻ dưới 20 tuổi là 2,81 lần (OR = 2,81; 95% CI: 1,34 – 5,89); trình độ văn hóa càng cao thì hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế càng cao (người có trình độ trung cấp/cao đẳng/đại học có tỷ lệ tiếp cận dịch vụ y tế cao gấp 11,4 lần người có trình độ tiểu học/trung học cơ sở (OR= 11,4; 95% CI: 4,78 – 27,19) và cao gấp 7,79 lần trong mô hình hồi quy đa biến (AOR= 7,79; 95% CI: 2,98 – 20,34). Những người tự nhận giới tính không phải là nam giới cho thấy tỷ lệ tìm kiếm dịch vụ y tế cao gấp 4,32 lần so với những người tự nhận là nam giới (OR= 4,32; 95% CI: 1,58 – 11,8). Đối tượng thích quan hệ tình dục với nữ hoặc cả nam và nữ thì cho thấy hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế thấp hơn so với đối tượng thích quan hệ tình dục với năm giới (OR=0,35; 95%CI: 0,19 - 0,66). IV. BÀN LUẬN Kết quả can thiệp sau 3 năm từ NC của chúng tôi cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về việc đối tượng NC mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ bác sĩ hoặc phòng khám (tăng từ 17,5% trước can thiệp lên 43,3% sau can thiệp) và đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ tình dục với nam giới (tăng từ 24,5% lên 55,5%). Một vài NC trước đây triển khai tại Hà Nội cho thấy các đối tượng NBDĐG thường mặc cảm bị xã hội kỳ thị nên tỉ lệ sử dụng dịch vụ HIV/STI còn thấp. NC của Lê Minh Giang và cộng sự năm 2014 cho thấy tỷ lệ khám, chẩn đoán STI 12 tháng qua thấp (3,9% đến 6,5%) [5]. NC của Nguyễn Thị Phương Hoa năm 2015 cho tỷ lệ đối tượng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV và STI là: đã từng xét nghiệm HIV (47,8%), khám và điều trị STI (15,0%) và HIV (9,6%) [6]. Như vậy, kết quả can thiệp từ NC này của chúng tôi đã bước đầu cho thấy hiệu quả của chương trình can thiệp thay đổi hành vi cho các đối tượng. Đã có nhiều NC can thiệp được triển khai tại Việt Nam cũng cho kết quả rất tốt giúp thay đổi hành vi của đối tượng nhận can thiệp. Chương trình khám và điều trị các nhiễm trùng STI ở Việt Nam được triển khai lồng ghép với các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS và hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến y tế ban đầu. Kết quả triển khai hoạt động khám và điều trị các nhiễm trùng STI liên tục tăng trong nhiều năm qua [7]. Kết quả phân tích trong NC ban đầu của chúng tôi cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiếp cận và sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV/STI là tuổi và trình độ học vấn của đối tượng NC. Tuổi và trình độ học vấn càng cao thì càng có khả năng sử dụng dịch vụ HIV/STI. Điều này có thể được lí giải là do sự liên quan đến kì thị và phân biệt đối xử, khi những người có trình độ học vấn thấp thường có xu hướng tự nhận định sự chịu ảnh hưởng về phân biệt đối xử cao hơn so với những đối tượng có học vấn cao [8]. Kết quả NC tại Brazil (2015) cho thấy, những người có tuổi càng cao thì có khả năng sử dụng dịch vụ dự phòng cao hơn so với nhóm đối tượng có tuổi trẻ [9]. Một yếu tố liên quan đến hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế khác là tự nhận về giới, trong đó những người tự nhận giới tính không phải là nam giới cho thấy tỷ lệ tìm kiếm dịch vụ y tế cao gấp 3,7 lần so với những người tự nhận là nam giới. Hiện nay những người thực chất được gọi là trai thẳng, nhưng vì lý do kiếm tiền nên họ phải bán dâm cho người đồng giới và họ là những người ít được tiếp cận đến các dịch vụ STI và cũng chưa chủ động tiếp cận nhiều [10]. Vì vậy, một lần nữa kết quả NC của chúng tôi cũng gợi ý cho việc triển khai các chương trình can thiệp cho NBDĐG cần quan tâm hơn nữa đến nhóm trai thẳng bán dâm. V. KẾT LUẬN Hiệu quả can thiệp sau ba năm (2015-2017) trong NC của chúng tôi đã cho thấy sự thay đổi trong hầu hết các nội dung về hành vi và sử dụng dịch vụ phòng lây nhiễm HIV/STI của đối tượng NC. Đáng chú ý là hai nội dung đối tượng NC mô tả chắc chắn nhận được dịch vụ y tế về các bệnh lây truyền qua đường tình dục từ bác sĩ hoặc phòng khám và đã từng trao đổi với nhân viên y tế về việc có quan hệ tình dục với nam giới. Tuổi, trình độ văn hóa và nhận định về giới là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế. Các hoạt động về thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi vẫn cần tiếp tục được duy trì và tăng cường chất lượng. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn130 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 1. Bộ Y tế. Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng kế hoạch năm 2014, Hà Nội, 2014. 2. Cục phòng chống HIV/AIDS. HIV/AIDS tại Việt Nam: Ước tính và dự báo giai đoạn 2011 - 2015, Hà Nội, 2012. 3. Cục phòng chống HIV/AIDS and Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Kết quả giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam – vòng II – 2009, Hà Nội, 2001. 4. Nguyễn Thị Phương Hoa, và cộng sự. Nguy cơ nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010. Tạp chí Y học Dự phòng, 2012; 12(6 (133)): 47-53. 5. Giang LM, và cộng sự. Thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi phát hiện HIV và STI ở nhóm nam bán dâm đồng giới năm 2011. Tạp chí NC Y học, 2014; 91(5): 84-90. 6. Nguyễn Thị Phương Hoa, và cộng sự. Nguy cơ nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010. Tạp chí Y học Dự phòng, 2012; 12(6): 47-53. 7. Bộ Y tế. Báo cáo 20 năm hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, 2010. 8. Zhao Y, et al. HIV Testing and Preventive Services Accessibility Among Men Who Have Sex With Men at High Risk of HIV Infection in Beijing, China. Medicine, 2015; 94(6): e534. 9. Brito, Ana Maria, et al. Factors Associated with Low Levels of HIV Testing among Men Who Have Sex with Men (MSM) in Brazil. PLoS ONE, 2015; 10(6): e0130445. 10. Colby Donn, Hoàng Thiện, et al. Risk factors for hiv infection and unprotected anal sex among male sex workers in Vietnam. 20th Conference on Retroviruses and Opportunistic Infections, Altanta, USA, 2013: Poster # 1023. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
hieu_qua_mo_hinh_can_thiep_thay_doi_hanh_vi_va_su_dung_dich.pdf

