Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua lỗ trong cổ tử cung ở thai ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng

Mở đầu: Khởi phát chuyển dạ là sự kích thích gây ra cơn co tử cung

trước khi quá trình chuyển dạ tự nhiên bắt đầu. Hiện tại, ở Việt Nam

trong khi các phương pháp khởi phát chuyển dạ bằng hoá học còn chưa

được áp dụng rộng rãi do các lo ngại về tính an toàn và chi phí cao, thì

các phương pháp cơ học được sử dụng chủ yếu.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ KPCD thành công bằng ống thông foley. Xác

định tỉ lệ biến chứng và tác dụng không mong muốn của phương pháp.

Đánh giá kết cuộc thai kỳ sau KPCD bằng thông Foley.

Phương pháp: nghiên cứu báo cáo loạt ca (dọc tiến cứu) trên 78 thai

phụ đơn thai, tuổi thai từ 37 tuần, có chỉ định khởi phát chuyển dạ từ

11/2016 đến 09/2017 vào khoa Sinh BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng. Tất cả

các thai phụ đều được KPCD với ống thông Foley 16 Fr qua lỗ trong cổ

tử cung, bơm 60 ml nước muối sinh lý, theo dõi trong 12 giờ.

Kết quả: Tỷ lệ KPCD thành công là 89,7%. Tỷ lệ sinh ngả âm đạo là

39,7%, tỷ lệ sinh mổ là 60,3%. Thời gian trung bình từ lúc KPCD đến chuyển

dạ 9.36±3,23 giờ. Không có tác dụng ngoại ý nghiêm trọng, ghi nhận có 27

TH (34,6%) có cảm giác khó chịu hoặc đau khi đặt thông. Sau sinh, tình

trạng với Apgar <7 điểm/1="" phút="" chỉ="" có="" 5="" th,="" đó="" là="" những="" trường="" hợp="" thai="">

lưu được khởi phát chuyển dạ. Không có TH nào bị ngạt cần phải hồi sức.

Kết luận: KPCD với thông Foley qua lỗ trong cổ tử cung là phương

pháp cơ học an toàn và hiệu quả cao cho thai kỳ có tuổi thai ≥ 37 tuần.

Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn trong tương lai.

pdf 6 trang phuongnguyen 280
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua lỗ trong cổ tử cung ở thai ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua lỗ trong cổ tử cung ở thai ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng

Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua lỗ trong cổ tử cung ở thai ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng
TRẦN ĐÌNH VINH, PHẠM CHÍ KÔNG, TRẦN THỊ DÙNG, NGUYỄN VĂN HIỀN
50
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Trần Đình Vinh, Phạm Chí Kông, Trần Thị Dùng, Nguyễn Văn Hiền 
Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng
HIỆU QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ
CỦA ỐNG THÔNG FOLEY ĐẶT QUA LỖ
TRONG CỔ TỬ CUNG Ở THAI ≥ 37 TUẦN
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN NHI ĐÀ NẴNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Chí Kông, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Tóm tắt
Mở đầu: Khởi phát chuyển dạ là sự kích thích gây ra cơn co tử cung 
trước khi quá trình chuyển dạ tự nhiên bắt đầu. Hiện tại, ở Việt Nam 
trong khi các phương pháp khởi phát chuyển dạ bằng hoá học còn chưa 
được áp dụng rộng rãi do các lo ngại về tính an toàn và chi phí cao, thì 
các phương pháp cơ học được sử dụng chủ yếu.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ KPCD thành công bằng ống thông foley. Xác 
định tỉ lệ biến chứng và tác dụng không mong muốn của phương pháp. 
Đánh giá kết cuộc thai kỳ sau KPCD bằng thông Foley.
Phương pháp: nghiên cứu báo cáo loạt ca (dọc tiến cứu) trên 78 thai 
phụ đơn thai, tuổi thai từ 37 tuần, có chỉ định khởi phát chuyển dạ từ 
11/2016 đến 09/2017 vào khoa Sinh BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng. Tất cả 
các thai phụ đều được KPCD với ống thông Foley 16 Fr qua lỗ trong cổ 
tử cung, bơm 60 ml nước muối sinh lý, theo dõi trong 12 giờ.
Kết quả: Tỷ lệ KPCD thành công là 89,7%. Tỷ lệ sinh ngả âm đạo là 
39,7%, tỷ lệ sinh mổ là 60,3%. Thời gian trung bình từ lúc KPCD đến chuyển 
dạ 9.36±3,23 giờ. Không có tác dụng ngoại ý nghiêm trọng, ghi nhận có 27 
TH (34,6%) có cảm giác khó chịu hoặc đau khi đặt thông. Sau sinh, tình 
trạng với Apgar <7 điểm/1 phút chỉ có 5 TH, đó là những trường hợp thai tử 
lưu được khởi phát chuyển dạ. Không có TH nào bị ngạt cần phải hồi sức. 
Kết luận: KPCD với thông Foley qua lỗ trong cổ tử cung là phương 
pháp cơ học an toàn và hiệu quả cao cho thai kỳ có tuổi thai ≥ 37 tuần. 
Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn trong tương lai. 
Abstract 
EFFECTIVE INDUCTION OF LABOR USING 
FOLEY INTRACERVICAL IN PREGNANT WOMEN 
FROM 37 WEEKS GESTATIONAL AT DA NANG 
HOPITAL FOR WOMEN AND CHILDREN
Background: Induction of labor is the stimulus that causes uterine 
contraction before natural labor begins. In Vietnam while the chemical 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
51
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 50 - 55, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
1. Đặt vấn đề
Khởi phát chuyển dạ (KPCD) là sự kích thích gây 
ra cơn co tử cung (TC) trước khi quá trình chuyển 
dạ (CD) tự nhiên bắt đầu. KPCD là một thủ thuật 
phổ biến trong thực hành sản khoa. Tỉ lệ KPCD tại 
Hà Lan năm 2010 là 20,9%, tại Pháp năm 2016 là 
22%[1]. Tại Bệnh viện (BV) Từ Dũ năm 2010-2011, 
mỗi năm có 4204-7060 TH cần được KPCD[2]. Có 
thể thực hiện KPCD bằng các phương pháp cơ học 
như nong cổ tử cung (CTC) bằng laminaria, đặt túi 
nước ngoài buồng ối, đặt thông Foley kênh CTC 
hoặc qua lỗ trong CTC, hoặc lóc ối. Ngoài ra, có 
thể sử dụng prostaglandin ngoại sinh như PGE1 
(Misoprostol) hay PGE2 (Dinoprostol) để khởi phát 
chuyển dạ. Tất cả các phương pháp này làm chín 
muồi CTC, vì thế làm mềm CTC và chuẩn bị cho quá 
trình chuyển dạ xảy ra[3]. Mặc dù chưa được cấp 
phép để sử dụng trong KPCD nhưng Misoprostol 
được khuyến cáo bởi Tổ chức Y tế thế giới và Hội 
Sản Phụ khoa Hoa Kỳ[4]. Các thuốc PG có các 
tác dụng phụ như cơn go cường tính, tăng trương 
lực cơ TC, hoặc rối loạn nhịp tim thai. Do vậy việc 
sử dụng các loại thuốc này cần thận trọng. Các 
phương pháp cơ học thường có giá thành thấp, sẵn 
có, dễ thực hiện, ít tác dụng không mong muốn và 
biến chứng hơn so với phương pháp dùng thuốc. 
Embrey và Mollison là hai tác giả đầu tiên công 
bố việc sử dụng thông Foley làm chín muồi CTC 
vào năm 1967. Từ đó đến nay nhiều nghiên cứu 
về KPCD bằng thông Foley đã khẳng định tính hiệu 
quả và an toàn của phương pháp này.
BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng hàng năm có khoảng 
18000 ca sinh. Tuy chưa có thống kê nhưng với tỉ lệ 
10% theo như thống kê của Tổ chức Y tế thế giới[5] 
thì hàng năm ước tính có khoảng 1.800 TH cần 
phải KPCD tại BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng. Các biện 
pháp KPCD đã áp dụng tại Đà Nẵng bao gồm: 
chủ yếu là Misoprostol, kỹ thuật KPCD bằng thông 
Foley và PGE2 là chưa từng được áp dụng. 
Hiện nay Misoprostol đã không được phép sử 
dụng tại Việt Nam trong chỉ định KPCD ở thai sống 
đủ tháng[4]. PGE2 không sẵn có và giá thành cao 
nên cũng chưa từng được sử dụng. KPCD bằng lóc 
ối thì đòi hỏi CTC phải hở, hiệu quả không cao và 
có những tác dụng không mong muốn như đau, ra 
máu. Truyền oxytocin để gây CD đòi hỏi CTC phải 
methods of labor induction are not widely applied because of worrying about the safety and high 
costs, that’s why the mechanical methods are mainly used. 
Objectives: Determine the percentage of effective labor induction by using trancervical Foley 
catheter balloon. Also, evaluate the proportion of complications, side-effects as well as pregnancy 
outcome of this method. 
Study design: Case series report carried out in 78 pregnant woman with selective criteria: ≥37 weeks 
singleton gestation, satisfy indications of pregnancy termination, hospitalized in Delivery department 
of Da Nang hospital for Women and Children from 11/2016 to 9/ 2017. All the cases were applied 
transcervical Foley balloon cartheter 16 Fr inflated with 60ml sterile saline, observed during 12 hours. 
Results: Successful labor induction percentage is 89.7%. Vaginal delivery and Cesarean section 
rate are 39.7% and 60.3%, respectively. Average time from labor induction to delivery was 9.36 ± 
3.23 hours. No severe side-effect, 27 cases with unpleasant feeling or painfulness after inserting 
the catheter. After birth, there are only 5 cases with Apgar score under 7, nevertheless, the are all 
stillbirths. No birth asphyxia needed resuscitation. 
Conclusion: Labor induction by transcervical Foley balloon is a safe and highly effective mechanical 
method for pregnancy ≥ 37 weeks. However, more research is needed in the future.
TRẦN ĐÌNH VINH, PHẠM CHÍ KÔNG, TRẦN THỊ DÙNG, NGUYỄN VĂN HIỀN
52
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
thuận lợi Những TH có CTC không thuận lợi cần 
phải được gây chín muồi bằng một phương pháp 
thích hợp, cân nhắc đến hiệu quả kinh tế, tính sẵn 
có, an toàn. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này 
nhằm các mục tiêu:
1. Xác định tỉ lệ KPCD thành công bằng ống 
thông foley. 
2. Xác định tỉ lệ biến chứng và tác dụng không 
mong muốn của phương pháp.
3. Đánh giá kết cuộc thai kỳ sau KPCD bằng 
thông Foley.
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu dọc, báo cáo 
hàng loạt ca lâm sàng.
Cỡ mẫu: Thu thập mẫu thuận tiện trong thời 
gian từ tháng 11/2016-9/2017. Tính cỡ mẫu theo 
công thức sau:
N = 
Trong đó: α = 0,05; độ tin cậy 95%; 
=1,96; d=0,1 (sai số cho phép); p=0,76 (theo 
Nguyễn Bá Mỹ Ngọc[2]). Như vậy, N nghiên cứu 
chúng tôi: N=78. 
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả thai phụ ≥ 37 tuần 
chưa CD với điểm Bishop ≤ 3 có chỉ định KPCD vào 
khoa Sinh BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng trong thời 
gian tiến hành nghiên cứu (11/2016-9/2017).
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Đơn thai, ≥37 tuần, ngôi 
đầu, tiên lượng có thể đẻ đường AĐ; Nonstress test 
có đáp ứng; Màng ối còn nguyên vẹn, không rỉ ối; 
Điểm Bishop ≤3: Có chỉ định KPCD: Thiểu ối (AFI 
≤50mm trên siêu âm), thai quá ngày (≥41 tuần), 
thai tử lưu 
Tiêu chuẩn loại trừ: Mẹ: Mẹ có thai con so lớn 
tuổi, tiền sử vô sinh, sẩy thai liên tiếp; Mẹ mắc bệnh 
nội khoa nặng (suy tim, tăng áp lực nội sọ, phù 
phổi cấp); TC có sẹo mổ cũ (mổ lấy thai, bóc nhân 
xơ TC); Viêm nhiễm đường sinh dục cấp; Đã có 
CD: CTC mở ≥2cm, xoá >50%, go 3 cơn/10 phút; 
Dị tật TC, TC đôi, u xơ TC, ung thư CTC, Herpes, 
condyloma, u tiền đạo.Thai và phần phụ: Ngôi 
thai bất thường (ngang, mông); Nhau tiền đạo, 
nhau bong non; Vỡ ối, rỉ ối
Cách tiến hành:
Quy trình đánh giá đối tượng nghiên cứu theo 
các bước sau: Xác định chỉ định KPCD; Hỏi tiền 
căn bệnh nội khoa, ngoại khoa, sản khoa- Khám 
tổng quát; Tính tuổi thai: hỏi ngày đầu của kỳ kinh 
cuối, xem siêu âm ba tháng đầu; Khám thai: đo bề 
cao TC và vòng bụng, thủ thuật Leopold, khám AĐ; 
Khám âm hộ, AĐ nhằm phát hiện những thương 
tổn bất thường, viêm nhiễm AĐ-CTC, đặt mỏ vịt 
xem xét CTC, tìm kiếm các sang thương CTC. Xác 
định tình trạng rỉ ối-vỡ ối; Đánh giá điểm Bishop, 
đánh giá khung chậu trên lâm sàng; Nếu điểm 
Bishop ≤3, dự kiến đưa vào mẫu nghiên cứu; Thực 
hiện Nonstress test (NST) trong 40 phút; Tư vấn thai 
phụ về chỉ định, phương pháp KPCD bằng thông 
Foley. Nêu rõ cách thực hiện, quy trình theo dõi, 
những tác dụng ngoại ý và tai biến có thể xảy ra. 
Nếu thai phụ đồng ý tham gia nghiên cứu, mời ký 
đơn tình nguyện. Cho sử dụng kháng sinh đường 
uống trước khi đặt thông 30 phút. 
Kỹ thuật đặt thông: Thực hiện thủ thuật: Thai 
phụ nằm tư thế phụ khoa, trải săng, sát khuẩn âm 
hộ-AĐ; Đặt mỏ vịt, bộc lộ CTC, sát trùng CTC; Dùng 
kẹp hình tim kẹp ở bờ dưới bóng thông, đưa ống 
thông Foley 16 Fr vào CTC cho đến khi kẹp chạm 
vào lỗ ngoài CTC, một tay giữ cố định ống thông, 
dùng kẹp đưa tiếp ống thông vào sâu thêm khoảng 
3cm; Tiến hành bơm bóng với thể tích 60ml nước 
muối và kéo xuống để bóng nằm trên lỗ trong CTC 
rồi dán cố định ống thông vào mặt trong của đùi 
thai phụ; Trong lúc bơm, theo dõi phản ứng của 
thai phụ, nếu cảm giác đau tức nhiều thì ngưng 
bơm, kiểm tra lại kỹ thuật đặt; Đưa thai phụ về 
phòng chờ sinh.Theo dõi và đánh giá kết quả sau 
khi đặt ống thông: Thai phụ được cho ra giường 
nằm nghỉ, đo CTG khoảng một giờ sau đặt. Đánh 
giá cơn gò, tim thai mỗi một giờ. Đo CTG và khám 
AĐ mỗi 4 giờ để phát hiện kịp thời và xử trí nếu 
có bất thường hoặc tai biến; Những TH sau phải 
rút thông ngay, xem như KPCD bằng thông Foley 
thất bại: vỡ/rỉ ối trong thời gian lưu thông, rối loạn 
tim thai, cơn go cường tính, dọa vỡ TC, nhau bong 
non, ra máu AĐ lượng nhiều. Sau khi xử trí những 
tình huống trên, chuyển sang theo dõi, đổi phương 
pháp KPCD hoặc mổ cấp cứu; Những TH rơi thông 
trước thời hạn 12 giờ, khám và ghi nhận điểm số 
Bishop và đánh giá hiệu quả KPCD ngay tại thời 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
53
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 50 - 55, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
điểm rơi thông; Những TH không rơi thông, tiến 
hành rút thông đặt 12 giờ, tính điểm Bishop và 
đánh giá tiêu chuẩn thành công. 
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả KPCD bằng 
thông Foley: theo Hồ Thái Phong[6]: KPCD thành 
công: khi điểm Bishop tăng ≥ 3 điểm sau 12 giờ 
đặt thông hoặc khi rơi thông. KPCD thất bại: Điểm 
Bishop tăng dưới 3 điểm vào thời điểm rút thông. 
Khi có biến chứng trong thời gian đặt thông 12 giờ: 
sốt, ối vỡ, nhau bong non, suy thai, sa dây rốn, rối 
loạn cơn go TC.
3. Kết quả nghiên cứu
Trong thời gian thu thập số liệu từ 11/2016 đến 
09/2017 tại BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng, chúng tôi 
đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả của 
KPCD ở thai ≥37 tuần bằng ống thông Foley đặt 
qua lỗ trong CTC. Có tất cả 78 thai phụ thỏa tiêu 
chuẩn chọn mẫu, được mời và đồng ý tham gia 
nghiên cứu. 
Nhóm thai con so có 61 TH chiếm tỉ lệ 78.2%, 
còn lại là thai con rạ có 17 TH chiếm tỉ lệ 21.8%.
Hiệu quả KPCD thành công là 70TH (89,7%), 
thất bại là 8TH (10,3%). Khi so sánh hiệu quả KPCD 
Đặc điểm %
Tuổi trung bình (năm) 26.4 ± 3.5 (16-35)
Nhóm tuổi
Dưới 20 2.6
20-29 78.2
30-34 17.9
≥35 1.3
Nghề nghiệp
CNV 41
Buôn bán 11.5
Nội trợ 26.9
Lao động 20.5
Địa chỉ
Thành thị 39.7
Nông thôn 60.3
Tiền thai
Con so 61(78.2)
Con rạ 17(21.8
Tuổi Thai (tuần) 39.9±1.5
Thể tích ối trên siêu âm (mm) 55.5±29
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu
Hiệu quả
Chi định Thành công Thất bại P
Thiểu ối 50 6
0.6Quá ngày 16 1
Thai lưu 4 1
Chung 70 8
Bảng 2. Hiệu quả khởi phát chuyển dạ
của 3 nhóm chỉ định KPCD, chúng tôi thấy không có 
sự khác biệt với ý nghĩa thống kê với P=0,6.
Nhận xét: Điểm Bishop tăng trung bình sau 
khởi phát chuyển dạ là 3.5±1.8, và thay đổi này 
có ý nghĩa thống kê. Không có mối liên quan giữa 
tình trạng rơi/rút thông và hiệu quả KPCD thành 
công hay thất bại với p = 0,241.
Nhận xét: Trong cả nhóm nghiên cứu có 42 
TH (53,8%) có sử dụng oxytocin; Thời gian từ khi 
KPCD–CD của cả nhóm nghiên cứu là 9,56±3,18 
giờ. Thời gian từ KPCD-sinh của cả nhóm là 
13,42±4,05 giờ; Tỉ lệ sinh AĐ của cả nhóm nghiên 
cứu là 31/78 = 39,7%. Tỉ lệ mổ sinh của cả nhóm 
nghiên cứu là 47/78= 60,3%; Khi so sánh cách 
sinh giữa 2 nhóm KPCD thành công và thất bại, 
chúng tôi thấy KPCD thành công có tỉ lệ sinh AĐ 
nhiều hơn so với nhóm KPCD thất bại, tuy nhiên 
không có ý nghĩa thống kê với p =0,13.
Trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh là 
3038±378g (2000-3800g); Điểm Apgar /1 
phút ≥7 điểm chiếm 94,9%, Apgar < 7 chỉ có 5 
TH (6,4%) là những trường hợp thai tử lưu được 
KPCD thất bại Thất bại P*
Số trường hợp
Rút thông 4(50 7(10
0.24
Rơi thông 4(50) 63(90)
Điểm Bishop trước 
KPCD
<3 4(50 20(28.6)
0.216
≥3 4(50 50(71.4)
Điểm Bishop trước KPCD 2.5±0.5 2.71±0.45 0.24**
Điểm Bishop sau KPCD 3 6.5±1.5 <0.01**
Thay đổi Bishop sau rút thông
2.5±0.5 6.6±1.6 < 0.01
3.5±1.8
T= 17.5 < 0.01
(*): Fisher exact test. (**): Mann-Whitney test. 
Bảng 3. So sánh đặc điểm của nhóm KPCD thất bại với nhóm thành công
Đặc điểm Tổng Thành công Thất bại
Thời gian từ KPCD-CD (giờ) 9,56±3,18 9,36±3,23
Thời gian từ KPCD- sinh (giờ) 13,42±4,05 13,1±4,09
Truyền oxytocin 
Có 42(53,8) 40(57,1) 2(25)
Không 36(46,2) 30(42,9) 6(75)
Cách sinh
Sinh AĐ 31(39,7) P = 0,13
RR = 8Sinh mổ 47(60,3)
Chỉ định sinh mổ:
Sinh mổ sau KPCD thất bại 5 2 3
KPCD bằng oxytocin thất bại 1 0 1
Giục sinh thất bại 6 6 0
Suy thai 13 10 3
Kiểu thế bất lợi 2 2 0
Bất xứng đầu chậu 20 19 1
Bảng 4. Các đặc điểm tiến triển CD, cách sinh và các chỉ định mổ
TRẦN ĐÌNH VINH, PHẠM CHÍ KÔNG, TRẦN THỊ DÙNG, NGUYỄN VĂN HIỀN
54
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
 Kết cuộc trẻ sơ sinh N %
 Chỉ số Apgar 
(điểm)/1phút
 Apgar <7 5 6.4
Apgar ≥ 7 73 93,6
Ngạt cần phải hồi sức 0 0
Trọng lượng trung bình (g) 3038±378 gram (2000 – 3800)
Tác dụng không mong muốn
Cảm giác khó chịu 27 34,6
Bảng 5. Kết cuộc trẻ sơ sinh và các tác động không mong muốn
KPCD, không có trường hợp nào phải gửi nhi sơ 
sinh bệnh lý; Có 27 TH (34,6%) có cảm giác khó 
chịu khi đặt thông. Không có tác dụng không 
mong muốn nào khác.
4. Bàn luận
Hơn 40 năm kể từ nghiên cứu nong CTC bằng 
thông Foley lần đầu tiên thực hiện bởi Embrey và 
Mollison năm 1967[7], đã có nhiều nghiên cứu khác 
được tiến hành để đánh giá hiệu quả của phương 
pháp này. Các thể tích bơm bóng được chọn từ 30 – 
80ml, tuy nhiên chưa có thể tích nào chứng tỏ được 
là tối ưu nhất. Nghiên cứu của chúng tôi chọn thể 
tích bóng bơm 60ml qua thông Foley 16F bởi tỷ lệ 
thành công chung qua các nghiên cứu là khá cao[2, 
6, 8, 9], ít tác dụng không mong muốn[10, 11] và 
tính sẵn có của nó. Vị trí đặt bóng ở kênh cổ tử cung 
hay qua lỗ trong cổ tử cung đều cho kết quả PKCD 
thành công cao và an toàn[2, 6, 9] dù vậy với thể 
tích bóng bơm 60ml thì đặt qua lỗ trong cổ tử cung 
thực hiện dễ dàng hơn và hạn chế cảm giác đau tức 
do nong CTC so với đặt tại kênh cổ tử cung. Theo 
Cromi A và cs[12], nhóm đặt thông trong 12 giờ 
giúp tăng tỉ lệ sinh AĐ trong vòng 24 giờ so với 
nhóm đặt thông trong 24 giờ và có hiệu quả tương 
đương với PGE2, đồng thời theo nghiên cứu của Hồ 
Thái Phong[6], Mai Mỹ Duyên[13], Nguyễn Bá Mỹ 
Ngọc[2], đặt thông sau 12h có tỷ lệ thành công cao 
và ít tai biến nghiêm trọng. Bởi những lý do trên, 
chúng tôi chọn quy trình bơm thể tích bóng 60ml 
vào sonde Foley 16 F và đặt qua lỗ trong cổ tử cung.
Theo tiêu chuẩn KPCD thành công chúng tôi 
chọn là điểm Bishop tăng ≥ 3 điểm sau 12 giờ đặt 
thông, tỷ lệ KPCD thành công là 89,7%. Kết quả này 
gần với các nghiên cứu của Mai Thị Mỹ Duyên[13] 
(85%) và của Hồ Thái Phong[6] (80%); so với các 
nghiên cứu đặt thông tại kênh CTC của Nguyễn Bá 
Mỹ Ngọc[2] (76%) và Bùi Ngọc Phượng[14] (66%) 
thì có tỉ lệ thành công cao hơn. Chúng tôi thấy rằng 
tỉ lệ thành công trong KPCD bằng thông Foley phụ 
thuộc vào yếu tố chính như tiêu chuẩn KPCD thành 
công, ngoài ra còn có các yếu tố khác như điểm 
Bishop trước KPCD, kích cỡ bóng thông, thời gian 
lưu thông, thời gian theo dõi sau khi lưu thông.
Phân tích điểm số Bishop trước KPCD bằng thông 
Foley để tiên lượng khả năng thành công, theo 
Xenakis[15], điểm Bishop trước KPCD >3 sẽ có hiệu 
quả KPCD cao hơn , tỉ lệ mổ lấy thai cũng thấp hơn 
so với nhóm có điểm Bishop ≤ 3. Theo nghiên cứu của 
Mai Thị Mỹ Duyên[13], khi so sánh hiệu quả KPCD 
của 2 nhóm có điểm Bishop ≥3 và <3, tác giả cho 
thấy điểm số Bishop cao ≥3 có khả năng thành công 
cao gấp 16 lần so với nhóm điểm thấp hơn. Cũng lấy 
điểm cắt Bishop =3 để so sánh hiệu quả KPCD, chúng 
tôi không tìm thấy mối liên quan giữa điểm số Bishop 
trước KPCD và khả năng thành công của KPCD với 
p=0,216. Tuy vậy, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị 
Ngọc Lan[16] và Winer[17], KPCD bằng PGE2 thì có 
hiệu quả cao mà không bị điểm số Bishop trước KPCD 
tác động. Như vậy, giá trị của điểm Bishop trước KPCD 
còn nhiều tranh cãi trong tiên lượng khả năng thành 
công của KPCD. Bên cạnh đó, khi so sánh sự khác biệt 
của 2 nhóm tự rơi và rút thông, chúng tôi nhận thấy 
điểm Bishop khi rơi thông cao hơn và làm ngắn thời 
gian từ KPCD đến lúc sinh hơn so với nhóm rút thông, 
2 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05). Tuy vậy, 
không có sự khác biệt có ý nghĩa về về tỉ lệ sinh AĐ 
của nhóm rơi thông và nhóm rút thông.
Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm Bishop 
trung bình sau KPCD là 6,2±1,8, riêng nhóm KPCD 
thành công: có tứ phân vị nằm trong khoảng 5-8 
điểm và điểm trung vị là 6,5. Với mức điểm trung vị 
là 6,5, được xem là đã thành công trong việc gây 
chín muồi CTC, hoàn toàn thuận lợi cho chuyển 
dạ bắt đầu. Thay đổi điểm Bishop trước-sau KPCD 
là 3,5±1,8, sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p 
<0,0001). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương 
tự với một số nghiên cứu khác như của Hồ Thái 
Phong[6], Patro-Malysza[18] và Sciscione[19].
Sau KPCD thành công, tỉ lệ cơn go TC hữu hiệu 
(46,2%) và tỉ lệ truyền oxytocin tăng go của chúng 
tôi là 53,8%, thấp hơn so với với kết quả của Nguyễn 
Bá Mỹ Ngọc (80,2%), Jabbar (80,55%); Ziyauddin 
(83%), Bujold (91,3%), Owolabi (95%). Sự khác biệt 
trong tỉ lệ truyền oxytocin này có thể do quy trình 
thực hiện của các nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ cần 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
55
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 50 - 55, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
dùng thêm oxytocin tăng ở nhóm theo dõi 12 giờ so 
với nhóm theo dõi 24 giờ và tỉ lệ này giảm khi thể 
tích bơm bóng càng cao[20]. Bên cạnh đó, thời điểm 
truyền oxytoxin cũng khác nhau tùy thuộc vào quy 
trình của từng nghiên cứu. Có một số nghiên cứu kéo 
dài thời gian đặt thông, hoặc sau khi rút thông tiếp 
tục theo dõi thêm một thời gian mà không can thiệp. 
Chính vì vậy khoảng thời gian từ KPCD-CD và từ 
KPCD-sinh thường không giống nhau. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi, khoảng thời gian từ KPCD-CD là 
9.36±3,23 giờ, từ KPCD-sinh 13,1±4,09 giờ, tương 
đồng với kết quả của Roudsari[21].
Về kết cục chuyển dạ, sinh ngã AĐ trong nghiên 
cứu của chúng tôi chiếm 39,7%. Trong các chỉ định 
mổ lấy thai, bên cạnh nguyên nhân chủ yếu do 
bất xứng đầu chậu (20/47 TH) (rất khó tiên lượng 
trước KPCD) thì suy thai là chỉ định nhiều thứ 2 
(13/47 TH), có thể do KPCD trên các đối tượng đã 
có sẵn nhiều nguy cơ như thai quá ngày, thiểu ối. 
Trong 78 trường hợp tham gia nghiên cứu, 
chúng tôi chỉ ghi nhận một tác dụng không mong 
muốn là cảm giác khó chịu khi đặt thông (27 TH) 
(34,6%), nhưng không cần tháo thông; không ghi 
nhận TH nào bị vỡ ối trong quá trình lưu thông, 
cũng như ra máu AĐ, nhiễm trùng, vỡ TC, nhau 
bong non, sa dây rốn, thay đổi ngôi thai và băng 
huyết sau sinh. Kết cục sơ sinh trong nghiên cứu 
của chúng tôi rất khả quan khi điểm Apgar/ 1 phút 
≥7 điểm là 100% ở những thai sống trước KPCD, 
và không có trường hợp nào cần hồi sức sơ sinh.
5. Kết luận
Hiệu quả KPCD thành công: Tỉ lệ KPCD thành 
công bằng thông Foley chiếm tỉ lệ 89,7 %. Thay đổi 
điểm số Bishop trước và sau KPCD là 3,5 ± 1,8. Tỉ 
lệ các tác dụng không mong muốn và biến chứng 
của phương pháp: Tỉ lệ cảm giác khó chịu do đặt 
thông Foley là 34,6%; Không có trường hợp nào 
điểm Apgar/1 phút <7 của những thai sống ≥ 37 
tuần. Không có trường hợp nào sốt, rối loạn cơn 
go tử cung, vỡ tử cung, chảy máu, nhau bong non, 
sa dây rốn, thay đổi ngôi thai, BHSS. Kết cuộc CD 
sau khởi phát: Tuổi mẹ, tiền căn sinh non, sẩy thai, 
tình trạng rơi thông không ảnh hưởng kết quả của 
KPCD; Thời gian từ KPCD-CD là 9,56 ± 3,18 giờ; 
Thời gian từ KPCD-sinh là 13,42 ± 4,05 giờ ; Tỉ lệ 
truyền oxytocin tăng go sau KPCD thành công là 
57,1%; Tỉ lệ sinh AĐ là 39,7%; Trong nhóm 47 TH 
mổ sinh, tỉ lệ thai con so là 89,3%.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Thai thiểu ối Bài giảng Sản 
phụ khoa, tập 1. 2006: Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh, 315-316.
2. Nguyễn Bá Mỹ Ngọc, So sánh hiệu quả khởi phát chuyển dạ của 
prostaglandin E2 và ống thông Foley ở thai ≥37 tuần thiểu ối, in Bộ môn 
Sản Phụ Khoa. 2012, Luận án BS Chuyên khoa II Sản Phụ Khoa, Đại học 
Y Dược TP HCM.
3. Bộ y Tế, Thai quá ngày sinh. Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm 
sóc sức khỏe sinh sản. 2009. p. 121.
4. Bộ Y Tế, Công văn Số: 5443/BYT-BMTE. V/v sử dụng prostaglandin gây 
chuyển dạ. 2012.
5. Eke AC, O.C., Mechanical methods for induction of labour: RHL commentary 
(last revised: 1 August 2012). The WHO Reproductive Health Library; Geneva: 
World Health Organization., 2012.
6. Hồ Thái Phong, Hiệu quả Khởi phát chuyển dạ của thông Foley đặt lỗ 
trong cổ tử cung ở thai quá ngày tại Bệnh viện đa khoa An Giang, in Bộ môn 
Phụ Sản. 2013, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
7. Embrey, M.P.a.M., B. G. , The unfavourable cervix and induction of labour 
using a cervical balloon BJOG: An International Journal of Obstetrics & 
Gynaecology, 74: 44-48. doi: 10.1111/j.1471-0528.1967.tb03931.x, 1967.
8. Jagielska, I., et al., [Evaluation of the efficacy and safety of Foley catheter 
pre-induction of labor]. Ginekol Pol, 2013. 84(3): p. 180-5.
9. Jagath W., N.M., Comparison of 30ml and 60ml Foley catheter for cervical 
ripening European Scientific Journal February 2013 edition vol.9, No.6 ISSN: 
1857 – 7881 (Print) e - ISSN 1857- 7431 2013.
10. Yamada T, C.K., Yamada T, Morikawa M, Minakami H., Labor induction 
by transcervical balloon catheter and cerebral palsy associated with umbilical 
cord prolapse. J Obstet Gynaecol Res. 2013 Jun;39(6):1159-64. doi: 10.1111/
jog.12036. Epub 2013 Apr 3., 2013.
11. Yamada T, K.S., Takeda M, Kojima T, Yamada T, Morikawa M, Tsuda K, 
Hanatani K, Yamaguchi T, Minakami H., Umbilical cord presentation after use of 
a trans-cervical balloon catheter. J Obstet Gynaecol Res. 2013 Mar;39(3):658-
62. doi: 10.1111/j.1447-0756.2012.02008.x. Epub 2012 Sep 25., 2012.
12. Cromi, A., et al., Cervical ripening with the Foley catheter. Int J Gynaecol 
Obstet, 2007. 97(2): p. 105-9.
13. Mai Thị Mỹ Duyên, Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley 
đặt qua kênh cổ tử cung ở thai trưởng thành tại BVĐK Tây Ninh, in Bộ môn 
Phụ sản. 2013, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh.
14. Bùi Ngọc Phượng, Hiệu quả của ống thông Foley đặt kênh cổ tử cung trong 
khởi phát chuyển dạ ở thai >34 tuần thiểu ối, in Bộ môn Sản Phụ Khoa. 2009, 
Luận án Bs chuyên khoa II Sản Phụ Khoa, Trường Đại học Y Dược Thành phố 
Hồ Chí Minh.
15. Xenakis EM, P.J., Conway DL, Langer O., Induction of labor in the nineties: 
conquering the unfavorable cervix.Obstet Gynecol. 1997 Aug;90(2):235-9.
16. Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hiệu quả của Dinoprostol dạng gel bơm kênh cổ 
tử cung trong Khởi phát chuyển dạ trên thai trưởng thành tại Bệnh viện Đại 
học Y Dược TP HCM, in Bộ môn Sản Phụ khoa. 2012, Luận án BS Chuyên 
khoa II Sản Phụ Khoa, Đại học Y Dược TP HCM.
17. Winer, N., [Different methods for the induction of labour in postterm 
pregnancy]. J Gynecol Obstet Biol Reprod (Paris), 2011. 40(8): p. 796-811.
18. Patro-Malysza, J., et al., [Effectiveness of intracervical catheter as a labor 
preinduction method]. Ginekol Pol, 2010. 81(1): p. 31-6.
19. Sciscione, A.C., et al., A prospective, randomized comparison of Foley 
catheter insertion versus intracervical prostaglandin E2 gel for preinduction 
cervical ripening. Am J Obstet Gynecol, 1999. 180(1 Pt 1): p. 55-60.
20. Levy, R., et al., A randomized trial comparing a 30-mL and an 80-mL Foley 
catheter balloon for preinduction cervical ripening. Am J Obstet Gynecol, 2004. 
191(5): p. 1632-6.
21. Roudsari, F.V., Comparison of Vaginal Misoprostol with Foley Catheter for 
Cervical Ripening and Induction of Labor. Iranian Journal of Pharmaceutical 
Research (2011) 2010. 10: p. 149-154.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_khoi_phat_chuyen_da_cua_ong_thong_foley_dat_qua_lo.pdf