Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua lỗ trong cổ tử cung ở thai ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng
Mở đầu: Khởi phát chuyển dạ là sự kích thích gây ra cơn co tử cung
trước khi quá trình chuyển dạ tự nhiên bắt đầu. Hiện tại, ở Việt Nam
trong khi các phương pháp khởi phát chuyển dạ bằng hoá học còn chưa
được áp dụng rộng rãi do các lo ngại về tính an toàn và chi phí cao, thì
các phương pháp cơ học được sử dụng chủ yếu.
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ KPCD thành công bằng ống thông foley. Xác
định tỉ lệ biến chứng và tác dụng không mong muốn của phương pháp.
Đánh giá kết cuộc thai kỳ sau KPCD bằng thông Foley.
Phương pháp: nghiên cứu báo cáo loạt ca (dọc tiến cứu) trên 78 thai
phụ đơn thai, tuổi thai từ 37 tuần, có chỉ định khởi phát chuyển dạ từ
11/2016 đến 09/2017 vào khoa Sinh BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng. Tất cả
các thai phụ đều được KPCD với ống thông Foley 16 Fr qua lỗ trong cổ
tử cung, bơm 60 ml nước muối sinh lý, theo dõi trong 12 giờ.
Kết quả: Tỷ lệ KPCD thành công là 89,7%. Tỷ lệ sinh ngả âm đạo là
39,7%, tỷ lệ sinh mổ là 60,3%. Thời gian trung bình từ lúc KPCD đến chuyển
dạ 9.36±3,23 giờ. Không có tác dụng ngoại ý nghiêm trọng, ghi nhận có 27
TH (34,6%) có cảm giác khó chịu hoặc đau khi đặt thông. Sau sinh, tình
trạng với Apgar <7 điểm/1="" phút="" chỉ="" có="" 5="" th,="" đó="" là="" những="" trường="" hợp="" thai="">7>
lưu được khởi phát chuyển dạ. Không có TH nào bị ngạt cần phải hồi sức.
Kết luận: KPCD với thông Foley qua lỗ trong cổ tử cung là phương
pháp cơ học an toàn và hiệu quả cao cho thai kỳ có tuổi thai ≥ 37 tuần.
Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn trong tương lai.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua lỗ trong cổ tử cung ở thai ≥ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng
TRẦN ĐÌNH VINH, PHẠM CHÍ KÔNG, TRẦN THỊ DÙNG, NGUYỄN VĂN HIỀN 50 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Trần Đình Vinh, Phạm Chí Kông, Trần Thị Dùng, Nguyễn Văn Hiền Bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng HIỆU QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ CỦA ỐNG THÔNG FOLEY ĐẶT QUA LỖ TRONG CỔ TỬ CUNG Ở THAI ≥ 37 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN NHI ĐÀ NẴNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Chí Kông, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 03/05/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/05/2019 Tóm tắt Mở đầu: Khởi phát chuyển dạ là sự kích thích gây ra cơn co tử cung trước khi quá trình chuyển dạ tự nhiên bắt đầu. Hiện tại, ở Việt Nam trong khi các phương pháp khởi phát chuyển dạ bằng hoá học còn chưa được áp dụng rộng rãi do các lo ngại về tính an toàn và chi phí cao, thì các phương pháp cơ học được sử dụng chủ yếu. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ KPCD thành công bằng ống thông foley. Xác định tỉ lệ biến chứng và tác dụng không mong muốn của phương pháp. Đánh giá kết cuộc thai kỳ sau KPCD bằng thông Foley. Phương pháp: nghiên cứu báo cáo loạt ca (dọc tiến cứu) trên 78 thai phụ đơn thai, tuổi thai từ 37 tuần, có chỉ định khởi phát chuyển dạ từ 11/2016 đến 09/2017 vào khoa Sinh BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng. Tất cả các thai phụ đều được KPCD với ống thông Foley 16 Fr qua lỗ trong cổ tử cung, bơm 60 ml nước muối sinh lý, theo dõi trong 12 giờ. Kết quả: Tỷ lệ KPCD thành công là 89,7%. Tỷ lệ sinh ngả âm đạo là 39,7%, tỷ lệ sinh mổ là 60,3%. Thời gian trung bình từ lúc KPCD đến chuyển dạ 9.36±3,23 giờ. Không có tác dụng ngoại ý nghiêm trọng, ghi nhận có 27 TH (34,6%) có cảm giác khó chịu hoặc đau khi đặt thông. Sau sinh, tình trạng với Apgar <7 điểm/1 phút chỉ có 5 TH, đó là những trường hợp thai tử lưu được khởi phát chuyển dạ. Không có TH nào bị ngạt cần phải hồi sức. Kết luận: KPCD với thông Foley qua lỗ trong cổ tử cung là phương pháp cơ học an toàn và hiệu quả cao cho thai kỳ có tuổi thai ≥ 37 tuần. Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn trong tương lai. Abstract EFFECTIVE INDUCTION OF LABOR USING FOLEY INTRACERVICAL IN PREGNANT WOMEN FROM 37 WEEKS GESTATIONAL AT DA NANG HOPITAL FOR WOMEN AND CHILDREN Background: Induction of labor is the stimulus that causes uterine contraction before natural labor begins. In Vietnam while the chemical TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 51 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 50 - 55, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 1. Đặt vấn đề Khởi phát chuyển dạ (KPCD) là sự kích thích gây ra cơn co tử cung (TC) trước khi quá trình chuyển dạ (CD) tự nhiên bắt đầu. KPCD là một thủ thuật phổ biến trong thực hành sản khoa. Tỉ lệ KPCD tại Hà Lan năm 2010 là 20,9%, tại Pháp năm 2016 là 22%[1]. Tại Bệnh viện (BV) Từ Dũ năm 2010-2011, mỗi năm có 4204-7060 TH cần được KPCD[2]. Có thể thực hiện KPCD bằng các phương pháp cơ học như nong cổ tử cung (CTC) bằng laminaria, đặt túi nước ngoài buồng ối, đặt thông Foley kênh CTC hoặc qua lỗ trong CTC, hoặc lóc ối. Ngoài ra, có thể sử dụng prostaglandin ngoại sinh như PGE1 (Misoprostol) hay PGE2 (Dinoprostol) để khởi phát chuyển dạ. Tất cả các phương pháp này làm chín muồi CTC, vì thế làm mềm CTC và chuẩn bị cho quá trình chuyển dạ xảy ra[3]. Mặc dù chưa được cấp phép để sử dụng trong KPCD nhưng Misoprostol được khuyến cáo bởi Tổ chức Y tế thế giới và Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ[4]. Các thuốc PG có các tác dụng phụ như cơn go cường tính, tăng trương lực cơ TC, hoặc rối loạn nhịp tim thai. Do vậy việc sử dụng các loại thuốc này cần thận trọng. Các phương pháp cơ học thường có giá thành thấp, sẵn có, dễ thực hiện, ít tác dụng không mong muốn và biến chứng hơn so với phương pháp dùng thuốc. Embrey và Mollison là hai tác giả đầu tiên công bố việc sử dụng thông Foley làm chín muồi CTC vào năm 1967. Từ đó đến nay nhiều nghiên cứu về KPCD bằng thông Foley đã khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này. BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng hàng năm có khoảng 18000 ca sinh. Tuy chưa có thống kê nhưng với tỉ lệ 10% theo như thống kê của Tổ chức Y tế thế giới[5] thì hàng năm ước tính có khoảng 1.800 TH cần phải KPCD tại BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng. Các biện pháp KPCD đã áp dụng tại Đà Nẵng bao gồm: chủ yếu là Misoprostol, kỹ thuật KPCD bằng thông Foley và PGE2 là chưa từng được áp dụng. Hiện nay Misoprostol đã không được phép sử dụng tại Việt Nam trong chỉ định KPCD ở thai sống đủ tháng[4]. PGE2 không sẵn có và giá thành cao nên cũng chưa từng được sử dụng. KPCD bằng lóc ối thì đòi hỏi CTC phải hở, hiệu quả không cao và có những tác dụng không mong muốn như đau, ra máu. Truyền oxytocin để gây CD đòi hỏi CTC phải methods of labor induction are not widely applied because of worrying about the safety and high costs, that’s why the mechanical methods are mainly used. Objectives: Determine the percentage of effective labor induction by using trancervical Foley catheter balloon. Also, evaluate the proportion of complications, side-effects as well as pregnancy outcome of this method. Study design: Case series report carried out in 78 pregnant woman with selective criteria: ≥37 weeks singleton gestation, satisfy indications of pregnancy termination, hospitalized in Delivery department of Da Nang hospital for Women and Children from 11/2016 to 9/ 2017. All the cases were applied transcervical Foley balloon cartheter 16 Fr inflated with 60ml sterile saline, observed during 12 hours. Results: Successful labor induction percentage is 89.7%. Vaginal delivery and Cesarean section rate are 39.7% and 60.3%, respectively. Average time from labor induction to delivery was 9.36 ± 3.23 hours. No severe side-effect, 27 cases with unpleasant feeling or painfulness after inserting the catheter. After birth, there are only 5 cases with Apgar score under 7, nevertheless, the are all stillbirths. No birth asphyxia needed resuscitation. Conclusion: Labor induction by transcervical Foley balloon is a safe and highly effective mechanical method for pregnancy ≥ 37 weeks. However, more research is needed in the future. TRẦN ĐÌNH VINH, PHẠM CHÍ KÔNG, TRẦN THỊ DÙNG, NGUYỄN VĂN HIỀN 52 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H thuận lợi Những TH có CTC không thuận lợi cần phải được gây chín muồi bằng một phương pháp thích hợp, cân nhắc đến hiệu quả kinh tế, tính sẵn có, an toàn. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm các mục tiêu: 1. Xác định tỉ lệ KPCD thành công bằng ống thông foley. 2. Xác định tỉ lệ biến chứng và tác dụng không mong muốn của phương pháp. 3. Đánh giá kết cuộc thai kỳ sau KPCD bằng thông Foley. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu dọc, báo cáo hàng loạt ca lâm sàng. Cỡ mẫu: Thu thập mẫu thuận tiện trong thời gian từ tháng 11/2016-9/2017. Tính cỡ mẫu theo công thức sau: N = Trong đó: α = 0,05; độ tin cậy 95%; =1,96; d=0,1 (sai số cho phép); p=0,76 (theo Nguyễn Bá Mỹ Ngọc[2]). Như vậy, N nghiên cứu chúng tôi: N=78. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả thai phụ ≥ 37 tuần chưa CD với điểm Bishop ≤ 3 có chỉ định KPCD vào khoa Sinh BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng trong thời gian tiến hành nghiên cứu (11/2016-9/2017). Tiêu chuẩn chọn mẫu: Đơn thai, ≥37 tuần, ngôi đầu, tiên lượng có thể đẻ đường AĐ; Nonstress test có đáp ứng; Màng ối còn nguyên vẹn, không rỉ ối; Điểm Bishop ≤3: Có chỉ định KPCD: Thiểu ối (AFI ≤50mm trên siêu âm), thai quá ngày (≥41 tuần), thai tử lưu Tiêu chuẩn loại trừ: Mẹ: Mẹ có thai con so lớn tuổi, tiền sử vô sinh, sẩy thai liên tiếp; Mẹ mắc bệnh nội khoa nặng (suy tim, tăng áp lực nội sọ, phù phổi cấp); TC có sẹo mổ cũ (mổ lấy thai, bóc nhân xơ TC); Viêm nhiễm đường sinh dục cấp; Đã có CD: CTC mở ≥2cm, xoá >50%, go 3 cơn/10 phút; Dị tật TC, TC đôi, u xơ TC, ung thư CTC, Herpes, condyloma, u tiền đạo.Thai và phần phụ: Ngôi thai bất thường (ngang, mông); Nhau tiền đạo, nhau bong non; Vỡ ối, rỉ ối Cách tiến hành: Quy trình đánh giá đối tượng nghiên cứu theo các bước sau: Xác định chỉ định KPCD; Hỏi tiền căn bệnh nội khoa, ngoại khoa, sản khoa- Khám tổng quát; Tính tuổi thai: hỏi ngày đầu của kỳ kinh cuối, xem siêu âm ba tháng đầu; Khám thai: đo bề cao TC và vòng bụng, thủ thuật Leopold, khám AĐ; Khám âm hộ, AĐ nhằm phát hiện những thương tổn bất thường, viêm nhiễm AĐ-CTC, đặt mỏ vịt xem xét CTC, tìm kiếm các sang thương CTC. Xác định tình trạng rỉ ối-vỡ ối; Đánh giá điểm Bishop, đánh giá khung chậu trên lâm sàng; Nếu điểm Bishop ≤3, dự kiến đưa vào mẫu nghiên cứu; Thực hiện Nonstress test (NST) trong 40 phút; Tư vấn thai phụ về chỉ định, phương pháp KPCD bằng thông Foley. Nêu rõ cách thực hiện, quy trình theo dõi, những tác dụng ngoại ý và tai biến có thể xảy ra. Nếu thai phụ đồng ý tham gia nghiên cứu, mời ký đơn tình nguyện. Cho sử dụng kháng sinh đường uống trước khi đặt thông 30 phút. Kỹ thuật đặt thông: Thực hiện thủ thuật: Thai phụ nằm tư thế phụ khoa, trải săng, sát khuẩn âm hộ-AĐ; Đặt mỏ vịt, bộc lộ CTC, sát trùng CTC; Dùng kẹp hình tim kẹp ở bờ dưới bóng thông, đưa ống thông Foley 16 Fr vào CTC cho đến khi kẹp chạm vào lỗ ngoài CTC, một tay giữ cố định ống thông, dùng kẹp đưa tiếp ống thông vào sâu thêm khoảng 3cm; Tiến hành bơm bóng với thể tích 60ml nước muối và kéo xuống để bóng nằm trên lỗ trong CTC rồi dán cố định ống thông vào mặt trong của đùi thai phụ; Trong lúc bơm, theo dõi phản ứng của thai phụ, nếu cảm giác đau tức nhiều thì ngưng bơm, kiểm tra lại kỹ thuật đặt; Đưa thai phụ về phòng chờ sinh.Theo dõi và đánh giá kết quả sau khi đặt ống thông: Thai phụ được cho ra giường nằm nghỉ, đo CTG khoảng một giờ sau đặt. Đánh giá cơn gò, tim thai mỗi một giờ. Đo CTG và khám AĐ mỗi 4 giờ để phát hiện kịp thời và xử trí nếu có bất thường hoặc tai biến; Những TH sau phải rút thông ngay, xem như KPCD bằng thông Foley thất bại: vỡ/rỉ ối trong thời gian lưu thông, rối loạn tim thai, cơn go cường tính, dọa vỡ TC, nhau bong non, ra máu AĐ lượng nhiều. Sau khi xử trí những tình huống trên, chuyển sang theo dõi, đổi phương pháp KPCD hoặc mổ cấp cứu; Những TH rơi thông trước thời hạn 12 giờ, khám và ghi nhận điểm số Bishop và đánh giá hiệu quả KPCD ngay tại thời TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 53 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 50 - 55, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 điểm rơi thông; Những TH không rơi thông, tiến hành rút thông đặt 12 giờ, tính điểm Bishop và đánh giá tiêu chuẩn thành công. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả KPCD bằng thông Foley: theo Hồ Thái Phong[6]: KPCD thành công: khi điểm Bishop tăng ≥ 3 điểm sau 12 giờ đặt thông hoặc khi rơi thông. KPCD thất bại: Điểm Bishop tăng dưới 3 điểm vào thời điểm rút thông. Khi có biến chứng trong thời gian đặt thông 12 giờ: sốt, ối vỡ, nhau bong non, suy thai, sa dây rốn, rối loạn cơn go TC. 3. Kết quả nghiên cứu Trong thời gian thu thập số liệu từ 11/2016 đến 09/2017 tại BV Phụ Sản Nhi Đà Nẵng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả của KPCD ở thai ≥37 tuần bằng ống thông Foley đặt qua lỗ trong CTC. Có tất cả 78 thai phụ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, được mời và đồng ý tham gia nghiên cứu. Nhóm thai con so có 61 TH chiếm tỉ lệ 78.2%, còn lại là thai con rạ có 17 TH chiếm tỉ lệ 21.8%. Hiệu quả KPCD thành công là 70TH (89,7%), thất bại là 8TH (10,3%). Khi so sánh hiệu quả KPCD Đặc điểm % Tuổi trung bình (năm) 26.4 ± 3.5 (16-35) Nhóm tuổi Dưới 20 2.6 20-29 78.2 30-34 17.9 ≥35 1.3 Nghề nghiệp CNV 41 Buôn bán 11.5 Nội trợ 26.9 Lao động 20.5 Địa chỉ Thành thị 39.7 Nông thôn 60.3 Tiền thai Con so 61(78.2) Con rạ 17(21.8 Tuổi Thai (tuần) 39.9±1.5 Thể tích ối trên siêu âm (mm) 55.5±29 Bảng 1. Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu Hiệu quả Chi định Thành công Thất bại P Thiểu ối 50 6 0.6Quá ngày 16 1 Thai lưu 4 1 Chung 70 8 Bảng 2. Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của 3 nhóm chỉ định KPCD, chúng tôi thấy không có sự khác biệt với ý nghĩa thống kê với P=0,6. Nhận xét: Điểm Bishop tăng trung bình sau khởi phát chuyển dạ là 3.5±1.8, và thay đổi này có ý nghĩa thống kê. Không có mối liên quan giữa tình trạng rơi/rút thông và hiệu quả KPCD thành công hay thất bại với p = 0,241. Nhận xét: Trong cả nhóm nghiên cứu có 42 TH (53,8%) có sử dụng oxytocin; Thời gian từ khi KPCD–CD của cả nhóm nghiên cứu là 9,56±3,18 giờ. Thời gian từ KPCD-sinh của cả nhóm là 13,42±4,05 giờ; Tỉ lệ sinh AĐ của cả nhóm nghiên cứu là 31/78 = 39,7%. Tỉ lệ mổ sinh của cả nhóm nghiên cứu là 47/78= 60,3%; Khi so sánh cách sinh giữa 2 nhóm KPCD thành công và thất bại, chúng tôi thấy KPCD thành công có tỉ lệ sinh AĐ nhiều hơn so với nhóm KPCD thất bại, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê với p =0,13. Trọng lượng trung bình của trẻ sơ sinh là 3038±378g (2000-3800g); Điểm Apgar /1 phút ≥7 điểm chiếm 94,9%, Apgar < 7 chỉ có 5 TH (6,4%) là những trường hợp thai tử lưu được KPCD thất bại Thất bại P* Số trường hợp Rút thông 4(50 7(10 0.24 Rơi thông 4(50) 63(90) Điểm Bishop trước KPCD <3 4(50 20(28.6) 0.216 ≥3 4(50 50(71.4) Điểm Bishop trước KPCD 2.5±0.5 2.71±0.45 0.24** Điểm Bishop sau KPCD 3 6.5±1.5 <0.01** Thay đổi Bishop sau rút thông 2.5±0.5 6.6±1.6 < 0.01 3.5±1.8 T= 17.5 < 0.01 (*): Fisher exact test. (**): Mann-Whitney test. Bảng 3. So sánh đặc điểm của nhóm KPCD thất bại với nhóm thành công Đặc điểm Tổng Thành công Thất bại Thời gian từ KPCD-CD (giờ) 9,56±3,18 9,36±3,23 Thời gian từ KPCD- sinh (giờ) 13,42±4,05 13,1±4,09 Truyền oxytocin Có 42(53,8) 40(57,1) 2(25) Không 36(46,2) 30(42,9) 6(75) Cách sinh Sinh AĐ 31(39,7) P = 0,13 RR = 8Sinh mổ 47(60,3) Chỉ định sinh mổ: Sinh mổ sau KPCD thất bại 5 2 3 KPCD bằng oxytocin thất bại 1 0 1 Giục sinh thất bại 6 6 0 Suy thai 13 10 3 Kiểu thế bất lợi 2 2 0 Bất xứng đầu chậu 20 19 1 Bảng 4. Các đặc điểm tiến triển CD, cách sinh và các chỉ định mổ TRẦN ĐÌNH VINH, PHẠM CHÍ KÔNG, TRẦN THỊ DÙNG, NGUYỄN VĂN HIỀN 54 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Kết cuộc trẻ sơ sinh N % Chỉ số Apgar (điểm)/1phút Apgar <7 5 6.4 Apgar ≥ 7 73 93,6 Ngạt cần phải hồi sức 0 0 Trọng lượng trung bình (g) 3038±378 gram (2000 – 3800) Tác dụng không mong muốn Cảm giác khó chịu 27 34,6 Bảng 5. Kết cuộc trẻ sơ sinh và các tác động không mong muốn KPCD, không có trường hợp nào phải gửi nhi sơ sinh bệnh lý; Có 27 TH (34,6%) có cảm giác khó chịu khi đặt thông. Không có tác dụng không mong muốn nào khác. 4. Bàn luận Hơn 40 năm kể từ nghiên cứu nong CTC bằng thông Foley lần đầu tiên thực hiện bởi Embrey và Mollison năm 1967[7], đã có nhiều nghiên cứu khác được tiến hành để đánh giá hiệu quả của phương pháp này. Các thể tích bơm bóng được chọn từ 30 – 80ml, tuy nhiên chưa có thể tích nào chứng tỏ được là tối ưu nhất. Nghiên cứu của chúng tôi chọn thể tích bóng bơm 60ml qua thông Foley 16F bởi tỷ lệ thành công chung qua các nghiên cứu là khá cao[2, 6, 8, 9], ít tác dụng không mong muốn[10, 11] và tính sẵn có của nó. Vị trí đặt bóng ở kênh cổ tử cung hay qua lỗ trong cổ tử cung đều cho kết quả PKCD thành công cao và an toàn[2, 6, 9] dù vậy với thể tích bóng bơm 60ml thì đặt qua lỗ trong cổ tử cung thực hiện dễ dàng hơn và hạn chế cảm giác đau tức do nong CTC so với đặt tại kênh cổ tử cung. Theo Cromi A và cs[12], nhóm đặt thông trong 12 giờ giúp tăng tỉ lệ sinh AĐ trong vòng 24 giờ so với nhóm đặt thông trong 24 giờ và có hiệu quả tương đương với PGE2, đồng thời theo nghiên cứu của Hồ Thái Phong[6], Mai Mỹ Duyên[13], Nguyễn Bá Mỹ Ngọc[2], đặt thông sau 12h có tỷ lệ thành công cao và ít tai biến nghiêm trọng. Bởi những lý do trên, chúng tôi chọn quy trình bơm thể tích bóng 60ml vào sonde Foley 16 F và đặt qua lỗ trong cổ tử cung. Theo tiêu chuẩn KPCD thành công chúng tôi chọn là điểm Bishop tăng ≥ 3 điểm sau 12 giờ đặt thông, tỷ lệ KPCD thành công là 89,7%. Kết quả này gần với các nghiên cứu của Mai Thị Mỹ Duyên[13] (85%) và của Hồ Thái Phong[6] (80%); so với các nghiên cứu đặt thông tại kênh CTC của Nguyễn Bá Mỹ Ngọc[2] (76%) và Bùi Ngọc Phượng[14] (66%) thì có tỉ lệ thành công cao hơn. Chúng tôi thấy rằng tỉ lệ thành công trong KPCD bằng thông Foley phụ thuộc vào yếu tố chính như tiêu chuẩn KPCD thành công, ngoài ra còn có các yếu tố khác như điểm Bishop trước KPCD, kích cỡ bóng thông, thời gian lưu thông, thời gian theo dõi sau khi lưu thông. Phân tích điểm số Bishop trước KPCD bằng thông Foley để tiên lượng khả năng thành công, theo Xenakis[15], điểm Bishop trước KPCD >3 sẽ có hiệu quả KPCD cao hơn , tỉ lệ mổ lấy thai cũng thấp hơn so với nhóm có điểm Bishop ≤ 3. Theo nghiên cứu của Mai Thị Mỹ Duyên[13], khi so sánh hiệu quả KPCD của 2 nhóm có điểm Bishop ≥3 và <3, tác giả cho thấy điểm số Bishop cao ≥3 có khả năng thành công cao gấp 16 lần so với nhóm điểm thấp hơn. Cũng lấy điểm cắt Bishop =3 để so sánh hiệu quả KPCD, chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa điểm số Bishop trước KPCD và khả năng thành công của KPCD với p=0,216. Tuy vậy, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan[16] và Winer[17], KPCD bằng PGE2 thì có hiệu quả cao mà không bị điểm số Bishop trước KPCD tác động. Như vậy, giá trị của điểm Bishop trước KPCD còn nhiều tranh cãi trong tiên lượng khả năng thành công của KPCD. Bên cạnh đó, khi so sánh sự khác biệt của 2 nhóm tự rơi và rút thông, chúng tôi nhận thấy điểm Bishop khi rơi thông cao hơn và làm ngắn thời gian từ KPCD đến lúc sinh hơn so với nhóm rút thông, 2 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05). Tuy vậy, không có sự khác biệt có ý nghĩa về về tỉ lệ sinh AĐ của nhóm rơi thông và nhóm rút thông. Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm Bishop trung bình sau KPCD là 6,2±1,8, riêng nhóm KPCD thành công: có tứ phân vị nằm trong khoảng 5-8 điểm và điểm trung vị là 6,5. Với mức điểm trung vị là 6,5, được xem là đã thành công trong việc gây chín muồi CTC, hoàn toàn thuận lợi cho chuyển dạ bắt đầu. Thay đổi điểm Bishop trước-sau KPCD là 3,5±1,8, sự thay đổi có ý nghĩa thống kê (p <0,0001). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với một số nghiên cứu khác như của Hồ Thái Phong[6], Patro-Malysza[18] và Sciscione[19]. Sau KPCD thành công, tỉ lệ cơn go TC hữu hiệu (46,2%) và tỉ lệ truyền oxytocin tăng go của chúng tôi là 53,8%, thấp hơn so với với kết quả của Nguyễn Bá Mỹ Ngọc (80,2%), Jabbar (80,55%); Ziyauddin (83%), Bujold (91,3%), Owolabi (95%). Sự khác biệt trong tỉ lệ truyền oxytocin này có thể do quy trình thực hiện của các nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ cần TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 55 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 50 - 55, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 dùng thêm oxytocin tăng ở nhóm theo dõi 12 giờ so với nhóm theo dõi 24 giờ và tỉ lệ này giảm khi thể tích bơm bóng càng cao[20]. Bên cạnh đó, thời điểm truyền oxytoxin cũng khác nhau tùy thuộc vào quy trình của từng nghiên cứu. Có một số nghiên cứu kéo dài thời gian đặt thông, hoặc sau khi rút thông tiếp tục theo dõi thêm một thời gian mà không can thiệp. Chính vì vậy khoảng thời gian từ KPCD-CD và từ KPCD-sinh thường không giống nhau. Trong nghiên cứu của chúng tôi, khoảng thời gian từ KPCD-CD là 9.36±3,23 giờ, từ KPCD-sinh 13,1±4,09 giờ, tương đồng với kết quả của Roudsari[21]. Về kết cục chuyển dạ, sinh ngã AĐ trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm 39,7%. Trong các chỉ định mổ lấy thai, bên cạnh nguyên nhân chủ yếu do bất xứng đầu chậu (20/47 TH) (rất khó tiên lượng trước KPCD) thì suy thai là chỉ định nhiều thứ 2 (13/47 TH), có thể do KPCD trên các đối tượng đã có sẵn nhiều nguy cơ như thai quá ngày, thiểu ối. Trong 78 trường hợp tham gia nghiên cứu, chúng tôi chỉ ghi nhận một tác dụng không mong muốn là cảm giác khó chịu khi đặt thông (27 TH) (34,6%), nhưng không cần tháo thông; không ghi nhận TH nào bị vỡ ối trong quá trình lưu thông, cũng như ra máu AĐ, nhiễm trùng, vỡ TC, nhau bong non, sa dây rốn, thay đổi ngôi thai và băng huyết sau sinh. Kết cục sơ sinh trong nghiên cứu của chúng tôi rất khả quan khi điểm Apgar/ 1 phút ≥7 điểm là 100% ở những thai sống trước KPCD, và không có trường hợp nào cần hồi sức sơ sinh. 5. Kết luận Hiệu quả KPCD thành công: Tỉ lệ KPCD thành công bằng thông Foley chiếm tỉ lệ 89,7 %. Thay đổi điểm số Bishop trước và sau KPCD là 3,5 ± 1,8. Tỉ lệ các tác dụng không mong muốn và biến chứng của phương pháp: Tỉ lệ cảm giác khó chịu do đặt thông Foley là 34,6%; Không có trường hợp nào điểm Apgar/1 phút <7 của những thai sống ≥ 37 tuần. Không có trường hợp nào sốt, rối loạn cơn go tử cung, vỡ tử cung, chảy máu, nhau bong non, sa dây rốn, thay đổi ngôi thai, BHSS. Kết cuộc CD sau khởi phát: Tuổi mẹ, tiền căn sinh non, sẩy thai, tình trạng rơi thông không ảnh hưởng kết quả của KPCD; Thời gian từ KPCD-CD là 9,56 ± 3,18 giờ; Thời gian từ KPCD-sinh là 13,42 ± 4,05 giờ ; Tỉ lệ truyền oxytocin tăng go sau KPCD thành công là 57,1%; Tỉ lệ sinh AĐ là 39,7%; Trong nhóm 47 TH mổ sinh, tỉ lệ thai con so là 89,3%. Tài liệu tham khảo 1. Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Thai thiểu ối Bài giảng Sản phụ khoa, tập 1. 2006: Nhà xuất bản Y học TP Hồ Chí Minh, 315-316. 2. Nguyễn Bá Mỹ Ngọc, So sánh hiệu quả khởi phát chuyển dạ của prostaglandin E2 và ống thông Foley ở thai ≥37 tuần thiểu ối, in Bộ môn Sản Phụ Khoa. 2012, Luận án BS Chuyên khoa II Sản Phụ Khoa, Đại học Y Dược TP HCM. 3. Bộ y Tế, Thai quá ngày sinh. Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. 2009. p. 121. 4. Bộ Y Tế, Công văn Số: 5443/BYT-BMTE. V/v sử dụng prostaglandin gây chuyển dạ. 2012. 5. Eke AC, O.C., Mechanical methods for induction of labour: RHL commentary (last revised: 1 August 2012). The WHO Reproductive Health Library; Geneva: World Health Organization., 2012. 6. Hồ Thái Phong, Hiệu quả Khởi phát chuyển dạ của thông Foley đặt lỗ trong cổ tử cung ở thai quá ngày tại Bệnh viện đa khoa An Giang, in Bộ môn Phụ Sản. 2013, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. 7. Embrey, M.P.a.M., B. G. , The unfavourable cervix and induction of labour using a cervical balloon BJOG: An International Journal of Obstetrics & Gynaecology, 74: 44-48. doi: 10.1111/j.1471-0528.1967.tb03931.x, 1967. 8. Jagielska, I., et al., [Evaluation of the efficacy and safety of Foley catheter pre-induction of labor]. Ginekol Pol, 2013. 84(3): p. 180-5. 9. Jagath W., N.M., Comparison of 30ml and 60ml Foley catheter for cervical ripening European Scientific Journal February 2013 edition vol.9, No.6 ISSN: 1857 – 7881 (Print) e - ISSN 1857- 7431 2013. 10. Yamada T, C.K., Yamada T, Morikawa M, Minakami H., Labor induction by transcervical balloon catheter and cerebral palsy associated with umbilical cord prolapse. J Obstet Gynaecol Res. 2013 Jun;39(6):1159-64. doi: 10.1111/ jog.12036. Epub 2013 Apr 3., 2013. 11. Yamada T, K.S., Takeda M, Kojima T, Yamada T, Morikawa M, Tsuda K, Hanatani K, Yamaguchi T, Minakami H., Umbilical cord presentation after use of a trans-cervical balloon catheter. J Obstet Gynaecol Res. 2013 Mar;39(3):658- 62. doi: 10.1111/j.1447-0756.2012.02008.x. Epub 2012 Sep 25., 2012. 12. Cromi, A., et al., Cervical ripening with the Foley catheter. Int J Gynaecol Obstet, 2007. 97(2): p. 105-9. 13. Mai Thị Mỹ Duyên, Hiệu quả khởi phát chuyển dạ của ống thông Foley đặt qua kênh cổ tử cung ở thai trưởng thành tại BVĐK Tây Ninh, in Bộ môn Phụ sản. 2013, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh. 14. Bùi Ngọc Phượng, Hiệu quả của ống thông Foley đặt kênh cổ tử cung trong khởi phát chuyển dạ ở thai >34 tuần thiểu ối, in Bộ môn Sản Phụ Khoa. 2009, Luận án Bs chuyên khoa II Sản Phụ Khoa, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 15. Xenakis EM, P.J., Conway DL, Langer O., Induction of labor in the nineties: conquering the unfavorable cervix.Obstet Gynecol. 1997 Aug;90(2):235-9. 16. Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hiệu quả của Dinoprostol dạng gel bơm kênh cổ tử cung trong Khởi phát chuyển dạ trên thai trưởng thành tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, in Bộ môn Sản Phụ khoa. 2012, Luận án BS Chuyên khoa II Sản Phụ Khoa, Đại học Y Dược TP HCM. 17. Winer, N., [Different methods for the induction of labour in postterm pregnancy]. J Gynecol Obstet Biol Reprod (Paris), 2011. 40(8): p. 796-811. 18. Patro-Malysza, J., et al., [Effectiveness of intracervical catheter as a labor preinduction method]. Ginekol Pol, 2010. 81(1): p. 31-6. 19. Sciscione, A.C., et al., A prospective, randomized comparison of Foley catheter insertion versus intracervical prostaglandin E2 gel for preinduction cervical ripening. Am J Obstet Gynecol, 1999. 180(1 Pt 1): p. 55-60. 20. Levy, R., et al., A randomized trial comparing a 30-mL and an 80-mL Foley catheter balloon for preinduction cervical ripening. Am J Obstet Gynecol, 2004. 191(5): p. 1632-6. 21. Roudsari, F.V., Comparison of Vaginal Misoprostol with Foley Catheter for Cervical Ripening and Induction of Labor. Iranian Journal of Pharmaceutical Research (2011) 2010. 10: p. 149-154.
File đính kèm:
hieu_qua_khoi_phat_chuyen_da_cua_ong_thong_foley_dat_qua_lo.pdf

