Hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và chăm sóc da kề da ngay sau sinh của cán bộ y tế xã và huyện, tỉnh Thanh Hoá năm 2015-2016

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức

chăm sóc sơ sinh tuyến huyện/xã tại tỉnh Thanh Hoá.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành tại 4 bệnh viện

đa khoa huyện và 98 trạm y tế xã tại tỉnh Thanh Hoá từ tháng 4 năm

2015 đến tháng 3 năm 2016.

Kết quả: Kết quả cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã biết về các dấu hiệu

nguy hiểm của trẻ sơ sinh đã tăng từ 39,3% trước can thiệp lên 55% sau

can thiệp. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của cán

bộ y tế tuyến huyện từ 56% trước can thiệp lên 65,3% sau can thiệp.

Sự thay đổi về kiến thức da kề da của cán bộ y tế huyện từ 43,8% lên

49,3% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi về kiến thức da kề da của CBYT

xã từ 33,1% lên 47,6% ở nhóm can thiệp.

Kết luận: Các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao kiến thức chăm

sóc da kề da và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của các cán bộ y tế

huyện và xã được nâng cao rõ rệt tại tỉnh Thanh Hoá. Cần tiếp tục tăng

cường công tác đào tạo bổ sung về chăm sóc sơ sinh tại khoa sản, khoa

nhi cũng như tại trạm y tế xã và tăng cường đào tạo liên tục về chăm sóc

sơ sinh thiết yếu và chăm sóc lồng ghép trẻ bệnh.

pdf 5 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và chăm sóc da kề da ngay sau sinh của cán bộ y tế xã và huyện, tỉnh Thanh Hoá năm 2015-2016", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và chăm sóc da kề da ngay sau sinh của cán bộ y tế xã và huyện, tỉnh Thanh Hoá năm 2015-2016

Hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và chăm sóc da kề da ngay sau sinh của cán bộ y tế xã và huyện, tỉnh Thanh Hoá năm 2015-2016
LƯƠNG NGỌC TRƯƠNG, NGÔ VĂN TOÀN, NGÔ TOÀN ANH
54
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Lương Ngọc Trương(1), Ngô Văn Toàn(2), Ngô Toàn Anh(3) 
(1) Trung tâm CSSKSS Thanh Hoá, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ sản Trung ương
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP NÂNG CAO
KIẾN THỨC VỀ DẤU HIỆU NGUY HIỂM 
CỦA TRẺ SƠ SINH VÀ CHĂM SÓC DA KỀ DA
NGAY SAU SINH CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ VÀ HUYỆN, 
TỈNH THANH HOÁ NĂM 2015-2016
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lương Ngọc Trương, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Từ khoá: Kiến thức, dấu hiệu 
nguy hiểm, da kề da, sơ sinh. 
Key words: Knowledge, danger 
signs, skin to skin, neonatal.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức 
chăm sóc sơ sinh tuyến huyện/xã tại tỉnh Thanh Hoá. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành tại 4 bệnh viện 
đa khoa huyện và 98 trạm y tế xã tại tỉnh Thanh Hoá từ tháng 4 năm 
2015 đến tháng 3 năm 2016. 
Kết quả: Kết quả cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã biết về các dấu hiệu 
nguy hiểm của trẻ sơ sinh đã tăng từ 39,3% trước can thiệp lên 55% sau 
can thiệp. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của cán 
bộ y tế tuyến huyện từ 56% trước can thiệp lên 65,3% sau can thiệp. 
Sự thay đổi về kiến thức da kề da của cán bộ y tế huyện từ 43,8% lên 
49,3% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi về kiến thức da kề da của CBYT 
xã từ 33,1% lên 47,6% ở nhóm can thiệp. 
Kết luận: Các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao kiến thức chăm 
sóc da kề da và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của các cán bộ y tế 
huyện và xã được nâng cao rõ rệt tại tỉnh Thanh Hoá. Cần tiếp tục tăng 
cường công tác đào tạo bổ sung về chăm sóc sơ sinh tại khoa sản, khoa 
nhi cũng như tại trạm y tế xã và tăng cường đào tạo liên tục về chăm sóc 
sơ sinh thiết yếu và chăm sóc lồng ghép trẻ bệnh.
Từ khoá: Kiến thức, dấu hiệu nguy hiểm, da kề da, sơ sinh.
Abstract 
EFFECT OF INTERVENTION TO IMPROVE THE 
COMMUNE AND DISTRICT HEALTH STAFF’S 
KNOWLEDGE IN SKIN TO SKIN CARE AND DANGER 
SIGNS IN THANH HOA PROVINCE 2015-2016
Objective: To evaluate the effectiveness of interventions to improve 
knowledge neonatal care in Healthcare services in Thanh Hoa province. 
Materials and methods: The study was carried out in four districts 
hospitals and 98 communes health stations in Thanh Hoa province 
period of April, 2015 to March, 2016. 
và chăm sóc da kề da ngay sau sinh vẫn chưa 
được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là cho cán bộ y tế 
xã và huyện. Thanh Hóa là một trong những tỉnh 
thực hiện Chỉ thị 04/BYT-CT rất sớm ngay sau khi 
Chỉ thị được ban hành và đã giảm được đáng kể 
tỷ lệ tử vong sơ sinh. Tuy nhiên, việc triển khai các 
can thiệp về chăm sóc sơ sinh còn rất khó khăn ở 
các huyện miền núi, vì thế tỷ lệ tử vong còn cao 
ở các vùng này. Tại Việt Nam, trong những năm 
gần đây, mới chỉ có 1 số nghiên cứu tại một số tỉnh 
được thực hiện mô tả thực trạng kiến thức và thực 
hành chăm sóc sơ sinh ở một số tỉnh can thiệp của 
Quỹ dân số liên hiệp quốc và Tổ chức cứu trợ trẻ 
em quốc tế. Ngày 18/4/2011 Bộ Y tế ra Quyết 
định 1442/QĐ-BYT về việc Hướng dẫn triển khai 
Đơn nguyên tuyến huyện và góc sơ sinh tuyến xã 
[2]. Nhìn chung các kết quả nghiên cứu cho thấy 
kiến thức và thực hành của CBYT về CSSS chỉ đạt 
khoảng 10% và rất ít nghiên cứu can thiệp đánh 
giá hiệu quả sau can thiệp chăm sóc sơ sinh [6]. 
Chính vì vậy, đề tài được nghiên cứu nhằm mục 
tiêu đánh giá hiệu quả đào tạo và giám sát nhằm 
nâng cao kiến thức về nhận biết các dấu hiệu nguy 
hiểm và chăm sóc da kề da của cán bộ y tế xã và 
huyện tại tỉnh Thanh Hoá năm 2015- 2016.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Là các cán bộ y tế tuyến cơ sở (bệnh viện huyện 
và trạm y tế xã) tại 4 huyện của tỉnh Thanh Hoá. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 54 - 58, 2016
55
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Results: It shown that percentage of commune health staff in knowledge of neonatal danger signs 
increased from 39.3-50% before intervention to 40-55% after intervention. Percentage of district 
health staff in knowledge of neonatal danger signs increased from 56% before intervention to 60.3% 
after intervention. Percentage of district health staff in knowledge of skin to skin increased from 43.8 
before intervention to 49.3% after intervention. Percentage of commune health staff in knowledge of 
skin to skin increased from 33.1 before intervention to 47.6% after intervention. 
Conclusions: The interventions improved significantly the knowledge of skin to skin method and 
the ability to detect emergency signs in neonatal care by health staff in Thanh Hoa province.
Key words: Knowledge, danger signs, skin to skin, neonatal.
1. Đặt vấn đề 
Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng 
kể từ 58/1000 năm 1990 xuống còn 23,3/1000 
năm 2012 [11]. Tuy nhiên, tử vong sơ sinh giảm 
chậm và có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng miền 
và tỷ lệ tử vong sơ sinh cao, đặc biệt là trong tuần 
đầu sau đẻ [11]. Chăm sóc sức khoẻ sơ sinh đã 
được nhà nước và ngành y tế quan tâm đặc biệt 
trong thập kỷ qua, tuy nhiên tốc độ giảm tử vong 
trẻ sơ sinh vẫn còn chậm hơn nhiều so với tử vong 
ở trẻ dưới 1 tuổi và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Theo 
báo cáo của Vụ Sức khỏe trẻ em năm 2014, tỷ lệ 
tử vong sơ sinh đang chiếm khoảng 60% số tử vong 
trẻ dưới 5 tuổi và hơn 70% tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi 
[10]. Vì vậy, các can thiệp giảm tử vong sơ sinh 
vẫn cần được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong 
các can thiệp về cứu sống trẻ em. 
Văn bản “Hướng dẫn tổ chức thực hiện đơn 
nguyên sơ sinh và góc sơ sinh tại các tuyến y tế” 
của Bộ Y tế ban hành năm 2011 là một văn bản 
pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa Chỉ thị 04/
BYT-CT về “tăng cường chất lượng chăm sóc và 
giảm tử vong sơ sinh” trong toàn quốc [1]. Để có 
thể thực hiện được các can thiệp nhằm cứu sống 
trẻ sơ sinh thì sự sẵn có nguồn nhân lực, vật lực và 
tài lực là rất quan trọng, đặc biệt nguồn nhân lực 
y tế. Trong điều kiện hiện nay, việc đào tạo cán 
bộ y tế tại Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất 
định ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Việc đào 
tạo lại thường xuyên cho cán bộ y tế, đặc biệt là 
đào tạo về nhận biết được các dấu hiệu nguy hiểm 
công tác từ 10-15 năm chiếm 52,2% và trên 15 
năm chiếm 43,6%.
3.2. Hiệu quả nâng cao kiến thức về 
dấu hiệu nguy hiểm sau sau sinh
Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến 
thức về dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh tăng từ 
52% lên 55 % ở nhóm can thiệp có ý nghĩa thống 
kê p < 0,05.
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến 
thức về chăm sóc da kề da tăng từ 33,1 % trước 
can thiệp lên 47,6% sau can thiệp ở nhóm can 
thiệp có ý nghĩa thống kê với p< 0,05, chỉ số hiệu 
quả 1188%.
LƯƠNG NGỌC TRƯƠNG, NGÔ VĂN TOÀN, NGÔ TOÀN ANH
56
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Tại bệnh viện đa khoa huyện bao gồm các bác sỹ, 
hộ sinh, y sỹ sản nhi, điều dưỡng sản tại các khoa 
khám bệnh, khoa nhi, khoa cấp cứu, khoa sản. Tại 
trạm y tế bao gồm các bác sỹ, y sỹ sản nhi, hộ sinh, 
điều dưỡng. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm: 
Địa bàn nghiên cứu can thiệp tại các xã của 2 
huyện Quan Sơn và Thọ Xuân.
2.2.2. Thiết kế nghiên cứu
Thời gian thực hiện can thiệp 1 năm (tháng 
4/2015- 3/2016). Trên cơ sở kết quả điều tra cơ 
bản xác định những vấn đề cần can thiệp trong đó 
lựa chọn 2 can thiệp chính là đào tạo về chăm sóc 
sơ sinh và giám sát thực hành chăm sóc sơ sinh. 
Thiết kế can thiệp cộng đồng, so sánh kết quả trước 
sau, nhóm chứng và nhóm can thiệp.
2.2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức nghiên cứu 
can thiệp của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG):
Trong đó: n1: cỡ mẫu nghiên cứu nhóm đối 
chứng, n2: cỡ mẫu nghiên cứu nhóm can thiệp, α: 
mức ý nghĩa thống kê với α = 5%; Zβ lực mẫu (β 
= 80%); p1: Tỷ lệ kiến thức đúng các hiểu biết dấu 
hiệu nguy hiểm 50%; p2: Tỷ lệ kiến thức đúng về 
dấu hiệu nguy hiểm trẻ sơ sinh kỳ vọng sau can 
thiệp (70%); p: Giá trị trung bình của p1 và p2. Cỡ 
mẫu n1=n2 = 384.
Kiến thức về chăm sóc sơ sinh được đánh giá 
bằng bảng hỏi theo Hướng dẫn quốc gia về Chăm 
sóc sức khoẻ sinh sản [6]. 
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong 
nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y Hà Nội 
và Sở Y tế Thanh Hoá thông qua. Các cán bộ y tế 
huyện và xã được thông báo về mục tiêu và phương 
pháp nghiên cứu và hoàn toàn tự nguyện tham gia 
nghiên cứu bằng phiếu chấp thuận. 
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc trưng cá nhân của cán 
bộ y tế
Bảng 1 cho thấy đa số cán bộ y tế được 
nghiên cứu có độ tuổi từ 30 tuổi trở lên (75,3%), 
nữ giới chiếm tỷ lệ rất cao (86,9%). Thâm niên 
Yếu tố
Bệnh viện huyện Trạm y tế xã
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Tuổi
<30 21 18,9 72 24,7
≥ 30 90 81,1 219 75,3
Giới
Nam 33 29,7 38 13,1
Nữ 78 70,3 253 86,9
Chức danh
Bác sỹ 20 18,0 48 16,5
Nữ hộ sinh 30 27,0 61 21,0
Điều dưỡng 42 37,8 182 62,5
Nơi làm việc 111 27,6 291 72,4
Thâm niên
<5 năm 9 8,1 12 4,1
10-15 năm 72 64,9 152 52,2
>15 năm 30 27,0 127 43,6
Bảng 1. Một số đặc trưng cá nhân của cán bộ y tế xã/ huyện nghiên cứu 
Biểu đồ 1. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh trong số các cán bộ 
y tế tuyến xã
Hiệu quả
Nhóm Đối chứng 
(n= 122)
Nhóm can thiệp 
(n= 169)
Chỉ số hiệu
quả (CSHQ) p
CT/ĐC
CSHQ
CT/ĐC
(%)Trước (%) Sau (%) Trước (%) Sau (%) ĐC (%) CT (%)
Chăm sóc 
da kề da
46,7 48,3 33,1 47,6 3,4 43,8 0,275 1188
p > 0,05 p < 0,05
Bảng 2. Hiệu quả thay đổi về kiến thức chăm sóc da kề da của cán bộ y tế xã
Biểu đồ 2. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh trong số các cán bộ 
y tế tuyến huyện
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 54 - 58, 2016
57
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế huyện có kiến 
thức về dấu hiệu nguy hiểm tăng từ 59,3% trước can 
thiệp lên 65,3 % sau can thiệp ở nhóm can thiệp. Sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Bảng 3 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế huyện có 
kiến thức về chăm sóc da kề da tăng từ 23,9% lên 
30,5%, có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 với chỉ số 
hiệu quả là 142,1%.
4. Bàn luận
Trong chăm sóc sơ sinh, nội dung chăm sóc theo 
phương pháp da kề da là rất quan trọng nhằm giúp 
cho trẻ không bị mất nhiệt lượng cơ thể và giúp cho 
mẹ có sữa non ngay trong vòng 30 phút sau sinh. 
Tương tự, việc nhận biết các các dấu hiệu nguy hiểm 
của trẻ sơ sinh sẽ giúp cho cán bộ y tế điều trị kịp 
thời [4]. Mặc dù đã có một số nghiên cứu về thực 
trạng kiến thức của cán bộ y tế về vấn đề này nhưng 
các nghiên cứu can thiệp thì vẫn còn rất hạn chế. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ cán 
bộ y tế xã có kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm đã 
tăng từ 52% trước can thiệp lên 55 % sau can thiệp ở 
nhóm can thiệp có ý nghĩa thống kê. Tương tự, tỷ lệ 
cán bộ y tế xã có kiến thức đúng về chăm sóc da kề 
da đã tăng từ 33,1 % trước can thiệp lên 47,6% sau 
can thiệp trong nhóm can thiệp, có ý nghĩa thống 
kê và chỉ số hiệu quả 1188%. Trong giai đoạn từ 
năm 2000 trở lại đây, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc 
và Tổ chức Cứu trợ Trẻ em quốc tế đã có các dự án 
nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sơ sinh 
trên địa bàn một số tỉnh trọng điểm. Đào tạo cán bộ 
là những nội dung cán thiệp chính trong các dự án 
này. Kết quả nghiên cứu sau can thiệp của các dự 
án này cho thấy, kiến thức của cán bộ y tế về chăm 
sóc sơ sinh đều có tăng nhưng ở mức độ rất khác 
nhau. Kết quả ngiên cứu đều cho thấy rằng mức độ 
kiến thức chăm sóc sơ sinh tăng khoảng 10%/năm 
[2, 7, 8]. Một nghiên cứu khác tại Lào cũng cho kết 
quả tương tự [9]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ cán bộ y 
tế huyện có kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm tăng 
Hiệu quả
Nhóm Đối chứng 
(n= 57)
Nhóm can thiệp 
(n= 54)
Chỉ số hiệu
quả (CSHQ) p
CT/ĐC
CSHQ
CT/ĐC
(%)Trước (%) Sau (%) Trước (%) Sau (%) ĐC (%) CT (%)
Chăm sóc 
da kề da
15,8 17,6 23,9 30,5 11,4 27,6 0,215 142,1
p > 0,05 p < 0,05
Bảng 3. Hiệu quả thay đổi về kiến thức chăm sóc da kề da của cán bộ y tế huyện
từ 59,3% trước can thiệp lên 65,3 % sau can thiệp 
ở nhóm can thiệp có ý nghĩa thống kê. Tương tự, tỷ 
lệ cán bộ y tế huyện có kiến thức về chăm sóc da 
kề da tăng từ 23,9% lên 30,5%, có ý nghĩa thống 
kê với p< 0,05 và chỉ số hiệu quả là 142,1%. Các 
nghiên cứu đánh giá kết thúc dự án cũng cho kết 
quả tương tự tại các tỉnh dự án tại Thái Nguyên, 
Thừa Thiên Huế và Vĩnh Long năm 2012 cũng như 
tại 7 tỉnh thuộc chương trình hợp tác giữa Việt Nam 
và Quỹ Dân số liên hiệp quốc năm 2010 [3, 8].
Một nghiên cứu tại tỉnh Đắc Lắc năm 2016 cho 
thấy tỷ lệ cán bộ y tế kể được các bước chăm sóc 
thiết yếu cho trẻ sơ sinh của các cán bộ y tế tại 
huyện và xã còn rất thấp, đặc biệt, không có cán 
bộ y tế nào kể được cả 8 bước về chăm sóc thiết 
yếu cho trẻ sơ sinh sau sinh [3]. Kiến thức của các 
nhân viên y tế về hai biến chứng thường gặp ở 
cán bộ y tế có kiến thức chưa thật tốt về các câu 
hỏi liên quan đến xử trí trẻ ngạt. Kết quả nghiên 
cứu này hoàn toàn phù hợp với các kết quả nghiên 
cứu ở trong nước trong giai đoạn 2010-2013.Chất 
lượng nhân lực sản, nhi ở tuyến huyện còn hạn chế. 
Trong số bác sỹ đang làm chuyên ngành sản, nhi 
tại BV huyện, đa số là BSĐK (59,9% BSĐK so với 
27,8% BSCK Sản và 12,3% BSCK Nhi). Còn gần 
một nửa số Trưởng khoa CSSKSS/Đội trưởng đội 
KHHGĐ có trình độ YSSN/YSĐK (21,8%), hoặc 
NHS (24,4%) [5]. Nghiên cứu của Tổ chức Cứu trợ 
trẻ em quốc tế tại Cà Mau và Yên Bái cũng chỉ rõ 
kiến thức chung của các đối tượng nghiên cứu về 
chăm sóc trẻ sơ sinh còn hạn chế đa số ở mức trung 
bình, chỉ có 16% cán bộ y tế tại tuyến xã được 
đánh giá có kiến thức tốt 14% cán bộ y tế tại tuyến 
huyện được đánh giá có kiến thức tốt [5]. Kiến thức 
của các đối tượng nghiên cứu về chăm sóc trẻ sơ 
sinh sau sinh còn yếu, không có bất kỳ một cán bộ 
y tế nào nêu được cả 8 bước chăm sóc sức khỏe 
trẻ sơ sinh. Tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu trả lời 
đúng tất cả các trường hợp chuyển tuyến rất thấp, 
tính chung cho tất cả đối tượng là 34,8%. Cao nhất 
là các bác sỹ sản khoa (50%) và thấp nhất là các 
nữ hộ sinh tuyến xã (28,1%). Kiến thức về các phát 
hiện và xử trí đúng các biến chứng cho trẻ sơ sinh 
còn thấp như phát hiện và xử trí biến chứng ngạt, 
hạ thân nhiệt, định nghĩa đúng về đẻ non chiếm 
64,1% [5]. Các nghiên cứu này đã nêu rõ vai trò 
giám sát của các cán bộ y tế tuyến tỉnh và tuyến 
LƯƠNG NGỌC TRƯƠNG, NGÔ VĂN TOÀN, NGÔ TOÀN ANH
58
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
huyện là rất quan trọng đóng góp vào việc nâng 
cao kiến thức và thực hành của cán bộ y tế huyện 
và tỉnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một 
hạn chế là chưa quan sát được thực hành của cán 
bộ y tế về phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của 
trẻ sơ sinh khi sinh và chăm sóc da kề da tại các xã 
và huyện nghiên cứu. 
5. Kết luận và kiến nghị
Các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao kiến 
thức chăm sóc da kề da và phát hiện các dấu hiệu 
nguy hiểm của các cán bộ y tế huyện và xã được 
nâng cao rõ rệt tại tỉnh Thanh Hoá. Tỷ lệ cán bộ 
y tế xã biết về các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ 
sinh đã tăng từ 39,3% trước can thiệp lên 55% sau 
can thiệp. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu 
nguy hiểm của cán bộ y tế tuyến huyện từ 56% lên 
65,3% sau can thiệp. Sự thay đổi về kiến thức da kề 
da của cán bộ y tế huyện từ 43,8% lên 49,3% sau 
can thiệp. Hiệu quả thay đổi về kiến thức da kề da 
của CBYT xã từ 33,1% lên 47,6% nhóm can thiệp. 
Cần tiếp tục tăng cường công tác đào tạo bổ 
sung về chăm sóc sơ sinh tại khoa sản, khoa nhi 
cũng như tại tuyến y tế xã. 
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y tế (2003). Chỉ thị 04/CT- BYT ngày 10 tháng 10 năm 2003 
về việc tăng cường chất lượng chăm sóc sơ sinh nhằm giảm tỷ lệ 
tử vong sơ sinh.
2. Bộ Y tế (2011). Quyết định 1142/QĐ-BYT ngày 18/4/2011 của 
về phê duyệt tài liệu chuyên môn “ Hướng dẫn tổ chức thực hiện 
đơn nguyên sơ sinh và góc sơ sinh tại các tuyến y tế”.
3. Tạ Như Đính, Ngô Toàn Anh, Chu Hùng Cường, Ngô Văn Toàn, 
Nguyễn Anh Dũng (2016). Thực trạng kiến thức của cán bộ y tế, 
cơ sở hạ tầng và thuốc thiết yếu cho chăm sóc sơ sinh tại tuyến y 
tế cơ sở của hai huyện tỉnh Đắc Lắc.
4. Nguyễn Thu Hà, Đào Huy Khê, Nguyễn Văn Thịnh (2005). Nhận 
thức và thực hành của cán bộ Y tế tuyến xã về chăm sóc sức khỏe 
sinh sản theo Chuẩn Quốc gia, Tạp chí Y học, chuyên đề Trung tâm 
nghiên cứu dân số và sức khỏe nông thôn, Tổng hội Y dược học 
Việt Nam, Hà Nội, tr 37- 42.
5. Trần Thị Phương Mai (2004). Nghiên cứu tử vong mẹ tại Việt 
Nam năm 2000-2001. Tạp chí Y học thực hành 2004; 4: 23-26.
6. Save the Children International (2013). MCH report in three 
provinces in Vietnam. Hanoi, Vietnam. Project report, 2013.
7. Lê Thiện Thái, Ngô Văn Toàn (2012). Đánh giá hiệu quả các biện 
pháp can thiệp nhằm nâng cao kiến thức và thực hành chăm sóc sơ 
sinh của các bà mẹ tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Thừa thiên- Huế, Vĩnh Long 
giai đoạn 2008- 2011, Tạp chí Y học Thực hành , 2012, tr 16-21.
8. Ngô Văn Toàn, Bùi Văn Nhơn, Lê Anh Tuấn, Khamphanh 
Prabouasone (2012). Hiệu quả can thiệp nâng cao kiến thức và 
thực hành về làm mẹ an toàn cho các bà mẹ 15-49 tuổi tỉnh Bo lị 
khăm xay, Lào năm 2011, Tạp chí Y học Thực hành số năm 2012.
9. Lương Ngọc Trương, Ngô Văn Toàn, Bùi Văn Nhơn (2015). 
Kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm và thực hành chăm sóc sơ sinh 
của cán bộ y tế bệnh viện huyện và trạm y tế xã tại tỉnh Thanh Hoá 
năm 2014-2015. Tạp chí Y học Thực hành số 11/2015, tr. 135-138.
10. Vụ Sức khoẻ Bà mẹ trẻ em- Bộ Y tế (2014), Báo cáo Tổng kết công 
tác Chăm sóc Sức khoẻ Sinh sản 2014- Phương hướng nhiệm vụ 2015.
11. World Health Organization and Save the Children (2013). 
Surviving the First Day: State of the World’s Mother 2013.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_hoat_dong_can_thiep_nang_cao_kien_thuc_ve_dau_hieu.pdf