Hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và chăm sóc da kề da ngay sau sinh của cán bộ y tế xã và huyện, tỉnh Thanh Hoá năm 2015-2016
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức
chăm sóc sơ sinh tuyến huyện/xã tại tỉnh Thanh Hoá.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành tại 4 bệnh viện
đa khoa huyện và 98 trạm y tế xã tại tỉnh Thanh Hoá từ tháng 4 năm
2015 đến tháng 3 năm 2016.
Kết quả: Kết quả cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã biết về các dấu hiệu
nguy hiểm của trẻ sơ sinh đã tăng từ 39,3% trước can thiệp lên 55% sau
can thiệp. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của cán
bộ y tế tuyến huyện từ 56% trước can thiệp lên 65,3% sau can thiệp.
Sự thay đổi về kiến thức da kề da của cán bộ y tế huyện từ 43,8% lên
49,3% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi về kiến thức da kề da của CBYT
xã từ 33,1% lên 47,6% ở nhóm can thiệp.
Kết luận: Các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao kiến thức chăm
sóc da kề da và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của các cán bộ y tế
huyện và xã được nâng cao rõ rệt tại tỉnh Thanh Hoá. Cần tiếp tục tăng
cường công tác đào tạo bổ sung về chăm sóc sơ sinh tại khoa sản, khoa
nhi cũng như tại trạm y tế xã và tăng cường đào tạo liên tục về chăm sóc
sơ sinh thiết yếu và chăm sóc lồng ghép trẻ bệnh.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh và chăm sóc da kề da ngay sau sinh của cán bộ y tế xã và huyện, tỉnh Thanh Hoá năm 2015-2016
LƯƠNG NGỌC TRƯƠNG, NGÔ VĂN TOÀN, NGÔ TOÀN ANH 54 Tậ p 14 , s ố 03 Th án g 07 -2 01 6 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Lương Ngọc Trương(1), Ngô Văn Toàn(2), Ngô Toàn Anh(3) (1) Trung tâm CSSKSS Thanh Hoá, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ sản Trung ương HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP NÂNG CAO KIẾN THỨC VỀ DẤU HIỆU NGUY HIỂM CỦA TRẺ SƠ SINH VÀ CHĂM SÓC DA KỀ DA NGAY SAU SINH CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ VÀ HUYỆN, TỈNH THANH HOÁ NĂM 2015-2016 Tác giả liên hệ (Corresponding author): Lương Ngọc Trương, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 10/06/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 24/06/2016 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 30/06/2016 Từ khoá: Kiến thức, dấu hiệu nguy hiểm, da kề da, sơ sinh. Key words: Knowledge, danger signs, skin to skin, neonatal. Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả hoạt động can thiệp nâng cao kiến thức chăm sóc sơ sinh tuyến huyện/xã tại tỉnh Thanh Hoá. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành tại 4 bệnh viện đa khoa huyện và 98 trạm y tế xã tại tỉnh Thanh Hoá từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016. Kết quả: Kết quả cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã biết về các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh đã tăng từ 39,3% trước can thiệp lên 55% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của cán bộ y tế tuyến huyện từ 56% trước can thiệp lên 65,3% sau can thiệp. Sự thay đổi về kiến thức da kề da của cán bộ y tế huyện từ 43,8% lên 49,3% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi về kiến thức da kề da của CBYT xã từ 33,1% lên 47,6% ở nhóm can thiệp. Kết luận: Các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao kiến thức chăm sóc da kề da và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của các cán bộ y tế huyện và xã được nâng cao rõ rệt tại tỉnh Thanh Hoá. Cần tiếp tục tăng cường công tác đào tạo bổ sung về chăm sóc sơ sinh tại khoa sản, khoa nhi cũng như tại trạm y tế xã và tăng cường đào tạo liên tục về chăm sóc sơ sinh thiết yếu và chăm sóc lồng ghép trẻ bệnh. Từ khoá: Kiến thức, dấu hiệu nguy hiểm, da kề da, sơ sinh. Abstract EFFECT OF INTERVENTION TO IMPROVE THE COMMUNE AND DISTRICT HEALTH STAFF’S KNOWLEDGE IN SKIN TO SKIN CARE AND DANGER SIGNS IN THANH HOA PROVINCE 2015-2016 Objective: To evaluate the effectiveness of interventions to improve knowledge neonatal care in Healthcare services in Thanh Hoa province. Materials and methods: The study was carried out in four districts hospitals and 98 communes health stations in Thanh Hoa province period of April, 2015 to March, 2016. và chăm sóc da kề da ngay sau sinh vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là cho cán bộ y tế xã và huyện. Thanh Hóa là một trong những tỉnh thực hiện Chỉ thị 04/BYT-CT rất sớm ngay sau khi Chỉ thị được ban hành và đã giảm được đáng kể tỷ lệ tử vong sơ sinh. Tuy nhiên, việc triển khai các can thiệp về chăm sóc sơ sinh còn rất khó khăn ở các huyện miền núi, vì thế tỷ lệ tử vong còn cao ở các vùng này. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, mới chỉ có 1 số nghiên cứu tại một số tỉnh được thực hiện mô tả thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc sơ sinh ở một số tỉnh can thiệp của Quỹ dân số liên hiệp quốc và Tổ chức cứu trợ trẻ em quốc tế. Ngày 18/4/2011 Bộ Y tế ra Quyết định 1442/QĐ-BYT về việc Hướng dẫn triển khai Đơn nguyên tuyến huyện và góc sơ sinh tuyến xã [2]. Nhìn chung các kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành của CBYT về CSSS chỉ đạt khoảng 10% và rất ít nghiên cứu can thiệp đánh giá hiệu quả sau can thiệp chăm sóc sơ sinh [6]. Chính vì vậy, đề tài được nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả đào tạo và giám sát nhằm nâng cao kiến thức về nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và chăm sóc da kề da của cán bộ y tế xã và huyện tại tỉnh Thanh Hoá năm 2015- 2016. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Là các cán bộ y tế tuyến cơ sở (bệnh viện huyện và trạm y tế xã) tại 4 huyện của tỉnh Thanh Hoá. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(03), 54 - 58, 2016 55 Tậ p 14 , s ố 03 Th án g 07 -2 01 6 Results: It shown that percentage of commune health staff in knowledge of neonatal danger signs increased from 39.3-50% before intervention to 40-55% after intervention. Percentage of district health staff in knowledge of neonatal danger signs increased from 56% before intervention to 60.3% after intervention. Percentage of district health staff in knowledge of skin to skin increased from 43.8 before intervention to 49.3% after intervention. Percentage of commune health staff in knowledge of skin to skin increased from 33.1 before intervention to 47.6% after intervention. Conclusions: The interventions improved significantly the knowledge of skin to skin method and the ability to detect emergency signs in neonatal care by health staff in Thanh Hoa province. Key words: Knowledge, danger signs, skin to skin, neonatal. 1. Đặt vấn đề Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể từ 58/1000 năm 1990 xuống còn 23,3/1000 năm 2012 [11]. Tuy nhiên, tử vong sơ sinh giảm chậm và có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng miền và tỷ lệ tử vong sơ sinh cao, đặc biệt là trong tuần đầu sau đẻ [11]. Chăm sóc sức khoẻ sơ sinh đã được nhà nước và ngành y tế quan tâm đặc biệt trong thập kỷ qua, tuy nhiên tốc độ giảm tử vong trẻ sơ sinh vẫn còn chậm hơn nhiều so với tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Theo báo cáo của Vụ Sức khỏe trẻ em năm 2014, tỷ lệ tử vong sơ sinh đang chiếm khoảng 60% số tử vong trẻ dưới 5 tuổi và hơn 70% tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi [10]. Vì vậy, các can thiệp giảm tử vong sơ sinh vẫn cần được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong các can thiệp về cứu sống trẻ em. Văn bản “Hướng dẫn tổ chức thực hiện đơn nguyên sơ sinh và góc sơ sinh tại các tuyến y tế” của Bộ Y tế ban hành năm 2011 là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa Chỉ thị 04/ BYT-CT về “tăng cường chất lượng chăm sóc và giảm tử vong sơ sinh” trong toàn quốc [1]. Để có thể thực hiện được các can thiệp nhằm cứu sống trẻ sơ sinh thì sự sẵn có nguồn nhân lực, vật lực và tài lực là rất quan trọng, đặc biệt nguồn nhân lực y tế. Trong điều kiện hiện nay, việc đào tạo cán bộ y tế tại Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Việc đào tạo lại thường xuyên cho cán bộ y tế, đặc biệt là đào tạo về nhận biết được các dấu hiệu nguy hiểm công tác từ 10-15 năm chiếm 52,2% và trên 15 năm chiếm 43,6%. 3.2. Hiệu quả nâng cao kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm sau sau sinh Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm ở trẻ sơ sinh tăng từ 52% lên 55 % ở nhóm can thiệp có ý nghĩa thống kê p < 0,05. Bảng 2 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến thức về chăm sóc da kề da tăng từ 33,1 % trước can thiệp lên 47,6% sau can thiệp ở nhóm can thiệp có ý nghĩa thống kê với p< 0,05, chỉ số hiệu quả 1188%. LƯƠNG NGỌC TRƯƠNG, NGÔ VĂN TOÀN, NGÔ TOÀN ANH 56 Tậ p 14 , s ố 03 Th án g 07 -2 01 6 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Tại bệnh viện đa khoa huyện bao gồm các bác sỹ, hộ sinh, y sỹ sản nhi, điều dưỡng sản tại các khoa khám bệnh, khoa nhi, khoa cấp cứu, khoa sản. Tại trạm y tế bao gồm các bác sỹ, y sỹ sản nhi, hộ sinh, điều dưỡng. 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Địa điểm: Địa bàn nghiên cứu can thiệp tại các xã của 2 huyện Quan Sơn và Thọ Xuân. 2.2.2. Thiết kế nghiên cứu Thời gian thực hiện can thiệp 1 năm (tháng 4/2015- 3/2016). Trên cơ sở kết quả điều tra cơ bản xác định những vấn đề cần can thiệp trong đó lựa chọn 2 can thiệp chính là đào tạo về chăm sóc sơ sinh và giám sát thực hành chăm sóc sơ sinh. Thiết kế can thiệp cộng đồng, so sánh kết quả trước sau, nhóm chứng và nhóm can thiệp. 2.2.3. Cỡ mẫu nghiên cứu Cỡ mẫu được tính theo công thức nghiên cứu can thiệp của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG): Trong đó: n1: cỡ mẫu nghiên cứu nhóm đối chứng, n2: cỡ mẫu nghiên cứu nhóm can thiệp, α: mức ý nghĩa thống kê với α = 5%; Zβ lực mẫu (β = 80%); p1: Tỷ lệ kiến thức đúng các hiểu biết dấu hiệu nguy hiểm 50%; p2: Tỷ lệ kiến thức đúng về dấu hiệu nguy hiểm trẻ sơ sinh kỳ vọng sau can thiệp (70%); p: Giá trị trung bình của p1 và p2. Cỡ mẫu n1=n2 = 384. Kiến thức về chăm sóc sơ sinh được đánh giá bằng bảng hỏi theo Hướng dẫn quốc gia về Chăm sóc sức khoẻ sinh sản [6]. Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y Hà Nội và Sở Y tế Thanh Hoá thông qua. Các cán bộ y tế huyện và xã được thông báo về mục tiêu và phương pháp nghiên cứu và hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu bằng phiếu chấp thuận. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Một số đặc trưng cá nhân của cán bộ y tế Bảng 1 cho thấy đa số cán bộ y tế được nghiên cứu có độ tuổi từ 30 tuổi trở lên (75,3%), nữ giới chiếm tỷ lệ rất cao (86,9%). Thâm niên Yếu tố Bệnh viện huyện Trạm y tế xã Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Tuổi <30 21 18,9 72 24,7 ≥ 30 90 81,1 219 75,3 Giới Nam 33 29,7 38 13,1 Nữ 78 70,3 253 86,9 Chức danh Bác sỹ 20 18,0 48 16,5 Nữ hộ sinh 30 27,0 61 21,0 Điều dưỡng 42 37,8 182 62,5 Nơi làm việc 111 27,6 291 72,4 Thâm niên <5 năm 9 8,1 12 4,1 10-15 năm 72 64,9 152 52,2 >15 năm 30 27,0 127 43,6 Bảng 1. Một số đặc trưng cá nhân của cán bộ y tế xã/ huyện nghiên cứu Biểu đồ 1. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh trong số các cán bộ y tế tuyến xã Hiệu quả Nhóm Đối chứng (n= 122) Nhóm can thiệp (n= 169) Chỉ số hiệu quả (CSHQ) p CT/ĐC CSHQ CT/ĐC (%)Trước (%) Sau (%) Trước (%) Sau (%) ĐC (%) CT (%) Chăm sóc da kề da 46,7 48,3 33,1 47,6 3,4 43,8 0,275 1188 p > 0,05 p < 0,05 Bảng 2. Hiệu quả thay đổi về kiến thức chăm sóc da kề da của cán bộ y tế xã Biểu đồ 2. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh trong số các cán bộ y tế tuyến huyện TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(03), 54 - 58, 2016 57 Tậ p 14 , s ố 03 Th án g 07 -2 01 6 Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế huyện có kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm tăng từ 59,3% trước can thiệp lên 65,3 % sau can thiệp ở nhóm can thiệp. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05. Bảng 3 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế huyện có kiến thức về chăm sóc da kề da tăng từ 23,9% lên 30,5%, có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 với chỉ số hiệu quả là 142,1%. 4. Bàn luận Trong chăm sóc sơ sinh, nội dung chăm sóc theo phương pháp da kề da là rất quan trọng nhằm giúp cho trẻ không bị mất nhiệt lượng cơ thể và giúp cho mẹ có sữa non ngay trong vòng 30 phút sau sinh. Tương tự, việc nhận biết các các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh sẽ giúp cho cán bộ y tế điều trị kịp thời [4]. Mặc dù đã có một số nghiên cứu về thực trạng kiến thức của cán bộ y tế về vấn đề này nhưng các nghiên cứu can thiệp thì vẫn còn rất hạn chế. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm đã tăng từ 52% trước can thiệp lên 55 % sau can thiệp ở nhóm can thiệp có ý nghĩa thống kê. Tương tự, tỷ lệ cán bộ y tế xã có kiến thức đúng về chăm sóc da kề da đã tăng từ 33,1 % trước can thiệp lên 47,6% sau can thiệp trong nhóm can thiệp, có ý nghĩa thống kê và chỉ số hiệu quả 1188%. Trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc và Tổ chức Cứu trợ Trẻ em quốc tế đã có các dự án nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sơ sinh trên địa bàn một số tỉnh trọng điểm. Đào tạo cán bộ là những nội dung cán thiệp chính trong các dự án này. Kết quả nghiên cứu sau can thiệp của các dự án này cho thấy, kiến thức của cán bộ y tế về chăm sóc sơ sinh đều có tăng nhưng ở mức độ rất khác nhau. Kết quả ngiên cứu đều cho thấy rằng mức độ kiến thức chăm sóc sơ sinh tăng khoảng 10%/năm [2, 7, 8]. Một nghiên cứu khác tại Lào cũng cho kết quả tương tự [9]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ cán bộ y tế huyện có kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm tăng Hiệu quả Nhóm Đối chứng (n= 57) Nhóm can thiệp (n= 54) Chỉ số hiệu quả (CSHQ) p CT/ĐC CSHQ CT/ĐC (%)Trước (%) Sau (%) Trước (%) Sau (%) ĐC (%) CT (%) Chăm sóc da kề da 15,8 17,6 23,9 30,5 11,4 27,6 0,215 142,1 p > 0,05 p < 0,05 Bảng 3. Hiệu quả thay đổi về kiến thức chăm sóc da kề da của cán bộ y tế huyện từ 59,3% trước can thiệp lên 65,3 % sau can thiệp ở nhóm can thiệp có ý nghĩa thống kê. Tương tự, tỷ lệ cán bộ y tế huyện có kiến thức về chăm sóc da kề da tăng từ 23,9% lên 30,5%, có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 và chỉ số hiệu quả là 142,1%. Các nghiên cứu đánh giá kết thúc dự án cũng cho kết quả tương tự tại các tỉnh dự án tại Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Vĩnh Long năm 2012 cũng như tại 7 tỉnh thuộc chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Quỹ Dân số liên hiệp quốc năm 2010 [3, 8]. Một nghiên cứu tại tỉnh Đắc Lắc năm 2016 cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế kể được các bước chăm sóc thiết yếu cho trẻ sơ sinh của các cán bộ y tế tại huyện và xã còn rất thấp, đặc biệt, không có cán bộ y tế nào kể được cả 8 bước về chăm sóc thiết yếu cho trẻ sơ sinh sau sinh [3]. Kiến thức của các nhân viên y tế về hai biến chứng thường gặp ở cán bộ y tế có kiến thức chưa thật tốt về các câu hỏi liên quan đến xử trí trẻ ngạt. Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các kết quả nghiên cứu ở trong nước trong giai đoạn 2010-2013.Chất lượng nhân lực sản, nhi ở tuyến huyện còn hạn chế. Trong số bác sỹ đang làm chuyên ngành sản, nhi tại BV huyện, đa số là BSĐK (59,9% BSĐK so với 27,8% BSCK Sản và 12,3% BSCK Nhi). Còn gần một nửa số Trưởng khoa CSSKSS/Đội trưởng đội KHHGĐ có trình độ YSSN/YSĐK (21,8%), hoặc NHS (24,4%) [5]. Nghiên cứu của Tổ chức Cứu trợ trẻ em quốc tế tại Cà Mau và Yên Bái cũng chỉ rõ kiến thức chung của các đối tượng nghiên cứu về chăm sóc trẻ sơ sinh còn hạn chế đa số ở mức trung bình, chỉ có 16% cán bộ y tế tại tuyến xã được đánh giá có kiến thức tốt 14% cán bộ y tế tại tuyến huyện được đánh giá có kiến thức tốt [5]. Kiến thức của các đối tượng nghiên cứu về chăm sóc trẻ sơ sinh sau sinh còn yếu, không có bất kỳ một cán bộ y tế nào nêu được cả 8 bước chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh. Tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu trả lời đúng tất cả các trường hợp chuyển tuyến rất thấp, tính chung cho tất cả đối tượng là 34,8%. Cao nhất là các bác sỹ sản khoa (50%) và thấp nhất là các nữ hộ sinh tuyến xã (28,1%). Kiến thức về các phát hiện và xử trí đúng các biến chứng cho trẻ sơ sinh còn thấp như phát hiện và xử trí biến chứng ngạt, hạ thân nhiệt, định nghĩa đúng về đẻ non chiếm 64,1% [5]. Các nghiên cứu này đã nêu rõ vai trò giám sát của các cán bộ y tế tuyến tỉnh và tuyến LƯƠNG NGỌC TRƯƠNG, NGÔ VĂN TOÀN, NGÔ TOÀN ANH 58 Tậ p 14 , s ố 03 Th án g 07 -2 01 6 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H huyện là rất quan trọng đóng góp vào việc nâng cao kiến thức và thực hành của cán bộ y tế huyện và tỉnh. Trong nghiên cứu của chúng tôi, có một hạn chế là chưa quan sát được thực hành của cán bộ y tế về phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh khi sinh và chăm sóc da kề da tại các xã và huyện nghiên cứu. 5. Kết luận và kiến nghị Các hoạt động can thiệp đào tạo nâng cao kiến thức chăm sóc da kề da và phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm của các cán bộ y tế huyện và xã được nâng cao rõ rệt tại tỉnh Thanh Hoá. Tỷ lệ cán bộ y tế xã biết về các dấu hiệu nguy hiểm của trẻ sơ sinh đã tăng từ 39,3% trước can thiệp lên 55% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm của cán bộ y tế tuyến huyện từ 56% lên 65,3% sau can thiệp. Sự thay đổi về kiến thức da kề da của cán bộ y tế huyện từ 43,8% lên 49,3% sau can thiệp. Hiệu quả thay đổi về kiến thức da kề da của CBYT xã từ 33,1% lên 47,6% nhóm can thiệp. Cần tiếp tục tăng cường công tác đào tạo bổ sung về chăm sóc sơ sinh tại khoa sản, khoa nhi cũng như tại tuyến y tế xã. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Y tế (2003). Chỉ thị 04/CT- BYT ngày 10 tháng 10 năm 2003 về việc tăng cường chất lượng chăm sóc sơ sinh nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. 2. Bộ Y tế (2011). Quyết định 1142/QĐ-BYT ngày 18/4/2011 của về phê duyệt tài liệu chuyên môn “ Hướng dẫn tổ chức thực hiện đơn nguyên sơ sinh và góc sơ sinh tại các tuyến y tế”. 3. Tạ Như Đính, Ngô Toàn Anh, Chu Hùng Cường, Ngô Văn Toàn, Nguyễn Anh Dũng (2016). Thực trạng kiến thức của cán bộ y tế, cơ sở hạ tầng và thuốc thiết yếu cho chăm sóc sơ sinh tại tuyến y tế cơ sở của hai huyện tỉnh Đắc Lắc. 4. Nguyễn Thu Hà, Đào Huy Khê, Nguyễn Văn Thịnh (2005). Nhận thức và thực hành của cán bộ Y tế tuyến xã về chăm sóc sức khỏe sinh sản theo Chuẩn Quốc gia, Tạp chí Y học, chuyên đề Trung tâm nghiên cứu dân số và sức khỏe nông thôn, Tổng hội Y dược học Việt Nam, Hà Nội, tr 37- 42. 5. Trần Thị Phương Mai (2004). Nghiên cứu tử vong mẹ tại Việt Nam năm 2000-2001. Tạp chí Y học thực hành 2004; 4: 23-26. 6. Save the Children International (2013). MCH report in three provinces in Vietnam. Hanoi, Vietnam. Project report, 2013. 7. Lê Thiện Thái, Ngô Văn Toàn (2012). Đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao kiến thức và thực hành chăm sóc sơ sinh của các bà mẹ tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Thừa thiên- Huế, Vĩnh Long giai đoạn 2008- 2011, Tạp chí Y học Thực hành , 2012, tr 16-21. 8. Ngô Văn Toàn, Bùi Văn Nhơn, Lê Anh Tuấn, Khamphanh Prabouasone (2012). Hiệu quả can thiệp nâng cao kiến thức và thực hành về làm mẹ an toàn cho các bà mẹ 15-49 tuổi tỉnh Bo lị khăm xay, Lào năm 2011, Tạp chí Y học Thực hành số năm 2012. 9. Lương Ngọc Trương, Ngô Văn Toàn, Bùi Văn Nhơn (2015). Kiến thức về dấu hiệu nguy hiểm và thực hành chăm sóc sơ sinh của cán bộ y tế bệnh viện huyện và trạm y tế xã tại tỉnh Thanh Hoá năm 2014-2015. Tạp chí Y học Thực hành số 11/2015, tr. 135-138. 10. Vụ Sức khoẻ Bà mẹ trẻ em- Bộ Y tế (2014), Báo cáo Tổng kết công tác Chăm sóc Sức khoẻ Sinh sản 2014- Phương hướng nhiệm vụ 2015. 11. World Health Organization and Save the Children (2013). Surviving the First Day: State of the World’s Mother 2013.
File đính kèm:
hieu_qua_hoat_dong_can_thiep_nang_cao_kien_thuc_ve_dau_hieu.pdf

