Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai kỳ trong hai bệnh viện công tại thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu: So sánh các phác đồ điều trị thiếu máu thiếu sắt trong thai

kỳ áp dụng tại các bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiêm lâm sàng ngẫu

nhiên có đối chứng trên 337 thai phụ thiếu máu thiếu sắt tuổi thai từ 6 –

20 tuần, không có tiền căn về bệnh lý nội khoa cũng như bệnh lý huyết

học. Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt khi có đồng thời ba chỉ

điểm là Hb < 11g/dl,="" mcv="">< 80="" fl="" và="" ferritin="">< 30µg/l.="" nhóm="" a="">

trị liều sắt phân loại theo nồng độ ferritin, nhóm B điều trị theo phác đồ

hiện hữu tại các bệnh viện.

Kết quả: Tỷ lệ điều trị thành công thiếu máu ở nhóm A là 82,8% cao

hơn nhóm B là 80,6%, tỷ lệ điều trị thành công thiếu máu thiếu sắt thai

kỳ ở nhóm A là 36,6% cao hơn nhóm B là 34,0%. Sự khác không có ý

nghĩa về mặt thống kê (p > 0,05)

pdf 7 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai kỳ trong hai bệnh viện công tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai kỳ trong hai bệnh viện công tại thành phố Hồ Chí Minh

Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt ở thai kỳ trong hai bệnh viện công tại thành phố Hồ Chí Minh
NGUYỄN DUY TÀI, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG, PHẠM THANH HẢI
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
38
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Duy Tài(1), Huỳnh Nguyễn Khánh Trang, Phạm Thanh Hải(2)
(1) Trường Đại học Y Dược TP. HCM, (2) Bệnh viện Từ Dũ 
HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THIẾU MÁU THIẾU SẮT
Ở THAI KỲ TRONG HAI BỆNH VIỆN CÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tóm tắt
Mục tiêu: So sánh các phác đồ điều trị thiếu máu thiếu sắt trong thai 
kỳ áp dụng tại các bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiêm lâm sàng ngẫu 
nhiên có đối chứng trên 337 thai phụ thiếu máu thiếu sắt tuổi thai từ 6 – 
20 tuần, không có tiền căn về bệnh lý nội khoa cũng như bệnh lý huyết 
học. Tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt khi có đồng thời ba chỉ 
điểm là Hb < 11g/dL, MCV < 80 fL và ferritin < 30µg/L. Nhóm A điều 
trị liều sắt phân loại theo nồng độ ferritin, nhóm B điều trị theo phác đồ 
hiện hữu tại các bệnh viện. 
Kết quả: Tỷ lệ điều trị thành công thiếu máu ở nhóm A là 82,8% cao 
hơn nhóm B là 80,6%, tỷ lệ điều trị thành công thiếu máu thiếu sắt thai 
kỳ ở nhóm A là 36,6% cao hơn nhóm B là 34,0%. Sự khác không có ý 
nghĩa về mặt thống kê (p > 0,05).
Abstract 
TREATMENT OF IRON DEFICIENCY ANEMIA IN 
PREGNANCY
Objective: Randomized clinical trials were identified on 337 pregnant 
women with iron deficiency anemia, which compared the treatment 
regimen applied in hospitals in HCM city. 
Material and Methods: We studied in pregnant women aged 6-20 
weeks, with no history of medical conditions as well as hematological 
pathologies. Criteria for diagnosis of iron deficiency anemia is Hb <11g 
/ dL, MCV <80 fL and ferritin <30µg / L. Group A dose of treatment 
was classified by ferritin concentration, group B treatment regimens 
exist in hospitals.
Results: The rate of successful treatment of anemia was 82.8% 
in group A than group B is 80.6%, the rate of successful treatment 
pregnancy iron deficiency anemia in Group A is 36.6% higher than group 
B is 34.0%. The difference has no statistical significance (p> 0.05).
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Duy Tài,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 25/04/2016
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 38 - 44, 2016
39
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ đã trở thành 
một vấn đề sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở tầng 
lớp dân nghèo các nước đang phát triển. Thiếu 
máu đã góp phần một cách trực tiếp hay gián tiếp 
với một tỉ lệ đáng kể dẫn đến tử vong mẹ. Theo báo 
cáo của Tổ chức y tế thế giới (2008), tỉ lệ thiếu máu 
thai kỳ trên toàn thế giới khoảng 41,8% (39,9 – 
43,8%), đặc biệt ở Châu Phi lên đến 57,1%, và ảnh 
hưởng đến 56,4 triệu người trên thế giới.
Hiện tại các khuyến cáo về điều trị thiếu máu 
thiếu sắt trong thai kỳ chưa thật sự thống nhất. Theo 
hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức 
khỏe sinh sản, khi thai phụ có tình trạng thiếu máu 
thì bổ sung viên sắt và Folic 2 – 3 viên mỗi ngày. 
Theo đồng thuận Hội huyết học và sản khoa Anh 
quốc thì liều điều trị là 100 – 200mg sắt mỗi ngày. 
Tại Mỹ, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch 
bệnh khuyến cáo liều điều trị từ 60 – 120mg sắt 
mỗi ngày, trong khi Viện Y khoa Hoa Kỳ đưa chế 
độ bổ sung chi tiết dựa vào nồng độ Ferritin của 
từng trường hợp. Chính sự không thống nhất này, 
chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu nhằm 
tìm ra liều lượng bổ sung sắt thích hợp điều trị thiếu 
máu thiếu sắt trong thai kỳ.
Mục tiêu nghiên cứu: 
- Xác định tỷ lệ thành công việc bổ sung sắt 
theo nồng độ Ferritin huyết thanh ở thai phụ thiếu 
máu thiếu sắt so với bổ sung sắt đơn thuần tại 2 
bệnh viện công lập TP. HCM.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm 
chứng mở, do 2 nhóm điều trị có những điểm khác 
biệt rõ rệt, không thể làm mù.
Đối tượng được phân bố ngẫu nhiên vào:
- Nhóm A là nhóm can thiệp TMTS theo mức độ 
Ferritin, có kèm vitamin C.
- Nhóm B là nhóm điều trị TMTS theo phác đồ 
tại hai bệnh viện Từ Dũ và Hùng Vương.
Tiêu chuẩn chọn: 
- Khám thai lần đầu lúc tuổi thai từ 6 – 20 tuần.
- Xác định chính xác được tuổi thai:
+ Nhớ rõ ngày kinh cuối.
+ Có siêu âm 3 tháng đầu thai kỳ.
- Tình trạng thể chất và tinh thần có khả năng 
trả lời bảng phỏng vấn.
- Thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ.
+ Hb < 11g/dl.
+ MCV < 80 fL.
+ Ferritin huyết thanh < 30mcg/L.
- Chấp nhận phỏng vấn, lấy máu làm xét nghiệm 
và điều trị khi có chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt và 
đồng ý tái khám theo dõi trong 12 tuần.
Tiêu chuẩn loại trừ: 
Đang mắc các bệnh sau:
- Đang nhiễm trùng
- Sốt rét
- Bệnh tim, gan, thận
- Đau dạ dày
Cỡ mẫu.
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Với khoảng tin cậy 95%, Z1-α/2 = 1,96, P1 là tỷ 
lệ thất bại trong điều trị thiếu máu ở phụ nữ mang 
thai của bổ sung sắt thông thường = 8%. Dự tính 
RR = 1, thế vào công thức ta có N = 184 cho mỗi 
nhóm. Chúng tôi chọn mỗi nhóm 200 trường hợp 
thiếu máu thiếu sắt.
- Nhóm can thiệp – Nhóm A : bổ sung sắt theo 
nồng độ Ferritin kèm 100mg vitamin C.
- Nhóm chứng – Nhóm B: theo dõi như quy 
trình hiện đang áp dụng tại các bệnh viện. 
Các bước thu nhận số liệu
Thai phụ khám thai tại phòng khám thai tại hai 
bệnh viện xét nghiệm công thức máu định lượng 
nồng độ Hb (nếu Hb < 11g/dl), MCV < 80fl thì 
tiếp tục định lượng Ferritin trong huyết thanh 
(Ferritin < 30ng/ml). Những thai phụ nào đủ tiêu 
chuẩn trên được chọn vào mẫu. Mẫu được lấy toàn 
bộ trong thời gian nghiên cứu.
Giải thích cho sản phụ biết tình trạng TMTS và 
một số nguy cơ, nếu thai phụ đồng ý nghiên cứu 
thì thai phụ sẽ ký vào bảng đồng thuận tham gia 
nghiên cứu. Sau đó nữ hộ sinh khoa sẽ đăng ký 
cho thư ký giữ phong bì. Việc phân nhóm sẽ được 
bên thứ 3 (nữ hộ sinh) phân nhóm ngẫu nhiên vào 
2 nhóm bằng phong bì đã được mã hóa. Nhóm 
A (nhóm can thiệp) sẽ được điều trị TMTS theo 
mức độ Ferritin có kèm vitamin C. Nhóm B (nhóm 
NGUYỄN DUY TÀI, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG, PHẠM THANH HẢI
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
40
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
chứng) theo phác đồ tại các bệnh viện Hùng Vương 
và Từ Dũ. Bác sỹ có trách nhiệm hướng dẫn cách 
điều trị cho thai phụ tùy theo nhóm nghiên cứu ghi 
trong phong bì; thăm khám lâm sàng đánh giá các 
dấu hiệu thiếu máu, phỏng vấn bảng câu hỏi trước 
khi tiến hành điều trị.
Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm:
Nhóm B: Uống theo phác đồ khám thai tại các 
bệnh viện. Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm 
chứng được phân loại thành 4 tiểu nhóm chính:
- B1: Bổ sung sắt theo nồng độ Hb:
+ Hb 10 – 10,9: 60mg mỗi ngày.
+ Hb 7 – 9,9: 120mg mỗi ngày.
+ Hb < 7: 180mg mỗi ngày.
- B2: Bổ sung 240mg sắt mỗi ngày.
- B3: Bổ sung 120mg sắt mỗi ngày.
- B4: Liều thay đổi không theo qui luật.
Tất cả các thuốc dùng trong nghiên cứu đều 
là nhóm Ferrous Fumarate (60mg sắt mỗi viên). 
Nhóm liều 90mg: 1 viên 60mg sắt Fumarate và 
1 viên đa sinh tố chứa 30mg Fumarate. Nhóm 
liều 150mg: 2 viên 60mg sắt Fumarate và 1 viên 
đa sinh tố chứa 30mg Fumarate. Thuốc sắt và 
vitamin C uống chung, uống vào giữa các bữa 
ăn nhằm hạn chế tác dụng phụ của thuốc.
Tại thời điểm 04 tuần sau điều trị.
Đối tượng nghiên cứu sẽ được:
- Khám lâm sàng đánh giá các dấu hiệu của 
thiếu máu.
- Phỏng vấn bảng câu hỏi sau 04 tuần điều trị 
(phụ lục 3).
- Đánh giá tuân thủ điều trị của thai phụ, 
chúng tôi sẽ gọi điện nhắc nhở thai phụ uống 
thuốc và kiểm tra số viên thuốc đã uống mỗi 2 
tuần, mỗi tháng đều tái khám, và đều được hỏi 
kiểm tra số viên thuốc còn lại của thai phụ, hỏi 
sản phụ có đi cầu phân đen hay không là cách 
gián tiếp đánh giá việc uống thuốc sắt của thai 
phụ. Tất cả thai phụ khi tham gia nghiên cứu 
chỉ được uống thuốc sắt do chúng tôi cung cấp, 
Hemoglobin (g/dl) Ferritin (mcg/l) Điều trị
8 – 24 tuần
< 10,9
< 10,9
12 – 30
< 12
90 mg sắt/ngày
150 mg sắt/ngày
> 24 tuần
< 10,9 Bất kỳ 150 mg sắt/ngày
Nhóm A: nhóm can thiệp uống 100mg Vitamin C và sắt theo phác đồ sau:
không được tự ý uống thêm các thuốc sắt khác để 
kết quả điều trị trung thực.
- Lấy máu xác định nồng độ Hemoglobin và 
Ferritin ghi nhận kết quả, ghi nhận các tác dụng 
không mong muốn.
- Tiếp tục bổ sung sắt theo nhóm đã điều trị.
Nhóm B: Uống theo phác đồ khám thai tại các 
bệnh viện.
Tại thời điểm 12 tuần sau điều trị.
Đối tượng nghiên cứu sẽ được:
- Khám lâm sàng đánh giá các dấu hiệu của 
thiếu máu.
- Phỏng vấn bảng câu hỏi sau 12 tuần điều trị 
(phụ lục 4).
- Đánh giá tuân thủ điều trị của thai phụ, 
chúng tôi sẽ gọi điện nhắc nhở thai phụ uống 
thuốc và kiểm tra số viên thuốc đã uống mỗi 2 
tuần, mỗi tháng đều tái khám, và đều được hỏi 
kiểm tra số viên thuốc còn lại của thai phụ, hỏi 
sản phụ có đi cầu phân đen hay không là cách 
gián tiếp đánh giá việc uống thuốc sắt của thai 
phụ. Tất cả thai phụ khi tham gia nghiên cứu 
chỉ được uống thuốc sắt do chúng tôi cung cấp, 
không được tự ý uống thêm các thuốc sắt khác để 
kết quả điều trị trung thực.
- Lấy máu xác định nồng độ Hemoglobin và 
Ferritin ghi nhận kết quả, ghi nhận các tác dụng 
không mong muốn.
- Thai phụ được đánh giá tình trạng thiếu máu 
và thiếu máu thiếu sắt khi kết thúc nghiên cứu.
Hemoglobin (g/dl) Ferritin (mcg/l) Điều trị
12 – 24 tuần
< 10,9
< 10,9
≥ 11
≥ 11
12 - 30
< 12
< 30
≥ 30
90 mg sắt/ngày
150 mg sắt/ngày
60 mg sắt/ngày
Điều trị thành công
> 24 tuần
< 10,9
≥ 11
≥ 11
Bất kỳ
< 30
≥ 30
150 mg sắt/ngày
60 mg sắt/ngày
Điều trị thành công
Nhóm A: nhóm can thiệp uống 100mg Vitamin C và sắt theo phác đồ:
Tên biến Loại biến Cách xác định
Thiếu máu thiếu sắt sau 
12 tuần điều trị Nhị giá
Xét nghiệm huyết đồ và Ferritin huyết thanh
1. Có (Hb < 11g/dl và Ferritin < 30mcg/L).
2. Không (không đủ yếu tố trên).
Thiếu máu sau 12 tuần 
điều trị Nhị giá
Xét nghiệm huyết đồ sau điều trị
1. Có (Hb < 11g/dl).
2. Không (không đủ yếu tố trên).
Định nghĩa một số biến số 
- Nhóm B4 với liều sắt cao có tỷ lệ điều trị khỏi 
thiếu máu thiếu sắt thấp nhất và tỷ lệ tồn tại thiêu 
máu thiếu sắt cao hơn so với các nhóm khác.
- Bảng 4: Tác dụng phụ ít xảy ra và không khác 
biệt giữa 2 nhóm.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 38 - 44, 2016
41
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Khi các thai phụ hoàn thành quá trình điều trị 
thì chúng tôi nhập dữ liệu phân tích, còn những thai 
phụ bỏ ngang điều trị giữa chừng, thì sẽ bị loại ra 
khỏi mẫu (PT Per protocol)
3. Kết quả nghiên cứu 
Chúng tôi thu nhận được 400 thai phụ có tình 
trạng thiếu máu thiếu sắt với hai nhóm chính:
- Nhóm can thiệp (A) bao gồm 200 trường hợp 
bổ sung được hiệu chỉnh liều theo nồng độ Ferritin, 
qua quá trình theo dõi điều trị có 14 trường hợp 
mất theo dõi chiếm tỷ lệ 7,0%. 
- Nhóm chứng (B) bao gồm 200 trường hợp 
điều trị theo các phác đồ hiện hữu tại các bệnh 
viện, qua quá trình theo dõi điều trị có 9 trường 
hợp mất theo dõi chiếm tỷ lệ 4,5%. Trong số 191 
trường hợp nhóm B được chia thành 4 nhóm can 
thiệp, bao gồm:
+ Nhóm B1: 63 trường hợp bổ sung sắt dựa vào 
nồng độ Hb trong 12 tuần.
+ Nhóm B2: 61 trường hợp bổ sung 240mg sắt 
trong 12 tuần.
+ Nhóm B3: 44 trường hợp bổ sung 120mg sắt 
trong 12 tuần.
+ Nhóm B4: 23 trường hợp bổ sung sắt thay đổi 
trong quá trình khám thai.
Nhận xét (bảng 1): không có sự khác biệt về 
đặc điểm thiếu máu thiếu sắt giữa hai nhóm can 
thiệp và nhóm so sánh, trong đó:
- Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt nặng và trung bình 
chiếm 1/3 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ này xuất 
hiện ở nhóm chứng nhiều hơn nhưng sự khác biệt 
này không có ý nghĩa về mặt thống kê.
- Bảng 2: Sau 4 tuần điều trị nồng độ Hb ở 
nhóm B1 và B3 tăng cao nhất, tất cả sự thay đổi 
Hb sau 4 tuần điều trị đều tăng có ý nghĩa về mặt 
thống kê.
- Bảng 3: Tỷ lệ thiếu máu sau 12 tuần điều trị 
ở nhóm can thiệp tương đương với nhóm dùng liều 
lượng theo Hb và 120mg mỗi ngày. So với nhóm 
240mg mỗi ngày, nhóm can thiệp có tỷ lệ thành 
công cao hơn gần 9%.
- Sau 12 tuần điều trị, tất cả sự thay đổi Hb đều 
tăng có ý nghĩa về mặt thống kê.
- Biểu 1: Nhóm B1 thay đổi liều sắt theo nồng 
độ Hb sau 12 tuần điều trị tỷ lệ hết thiếu máu thiếu 
sắt là 44,4%.
Mức độ thiếu máu Nhóm A (N = 186) Nhóm B (N = 191) p
Nồng độ Hb (g/dl)
< 7
7 – < 10 
10 - < 11
1 (25,0%)
39 (42,9%)
146 (51,8%)
1 (25,0%)
39 (42,9%)
146 (51,8%)
0,212
Ferritin (mg/dl) 16,28 ± 5,9 16,58 ± 6,9 0,651
Bảng 1: Đặc điểm thiếu máu của mẫu nghiên cứu
Nhóm A (N = 186) Nhóm B (N = 191)
Buồn nôn, chán ăn 3,1% 5,9%
Nôn ói 0 0 
Táo bón 2,6% 11,8%
Tiêu chảy 1,6% 7,8%
Bảng 4: Tác dụng phụ sau 12 tuần điều trị
Hb (g/dl) Nhóm A Nhóm B Nhóm B1 Nhóm B2 Nhóm B3 Nhóm B4 p
< 11 94 (50,5%) 96 (50,3%) 33 (52,4%) 32 (39,4%) 20 (45,5%) 11 (47,8%)
≥ 11 92 (49,5%) 95 (49,7%) 30 (47,6%) 29 (60,6%) 24 (54,5%) 12 (52,2%) 0,22
Hb (g/dl) Trước điều trị Sau 4 tuần Thay đổi P
Nhóm A 10,35 ± 0,50 11,07 ± 0,46 0,72 ± 0,37 < 0,01
Nhóm B
B1
B2
B3
B4
9,99 ± 1,24
9,98 ± 0,74
9,91 ± 1,30
10,00 ± 2,05
10,17 ± 0,35
10,92 ± 0,80
11,01 ± 0,70
10,71 ± 1,07
11,09 ± 0,54
10,92 ± 0,53
0,94 ± 1,31
11,01 ± 0,70
10,71 ± 1,07
11,09 ± 0,54
10,92 ± 0,53
< 0,01
< 0,01
< 0,01
< 0,01
Bảng 2: Thay đổi Hb sau 4 tuần điều trị
Hb (g/dl) Nhóm A Nhóm B Nhóm B1 Nhóm B2 Nhóm B3 Nhóm B4 p
< 11 30 (16,1%) 37 (19,4%) 10 (15,9%) 15 (24,6%) 7 (15,9%) 5 (21,7%)
≥ 11 156 (83,9%) 154 (80,6%) 53 (84,1%) 46 (75,4%) 37 (84,1%) 18 (78,3%) 0,67
Hb (g/dl) Trước điều trị Sau 12 tuần Thay đổi P
Nhóm A 10,35 ± 0,50 11,58 ± 0,60 1,30 ± 0,73 < 0,01
Nhóm B
B1
B2
B3
B4
9,99 ± 1,24
9,98 ± 0,74
9,91 ± 1,30
10,00 ± 2,05
10,17 ± 0,35
11,35 ± 1,27
11,50 ± 0,79
11,31 ± 0,65
11,24 ± 2,3
11,56 ± 0,75
1,38 ± 1,72
1,51 ± 0,97
1,42 ± 1,24
1,24 ± 3,08
1,39 ± 0,68
< 0,01
< 0,01
< 0,01
< 0,01
Bảng 3: Thay đổi Hb sau 12 tuần điều trị
Biểu 1: Nồng độ Hb và Ferritin sau 12 tuần theo nhóm điều trị
NGUYỄN DUY TÀI, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG, PHẠM THANH HẢI
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
42
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Chúng tôi nhận thấy nồng độ Hb sau 4 tuần 
điều trị ở nhóm A tăng ít hơn 25% so với nhóm B. 
Chúng tôi quyết định phân tích liệu nồng độ Hb lúc 
nhận vào nghiên cứu và liều điều trị có ảnh hưởng 
đến kết quả này hay không.
- Bảng 5: Sau 4 tuần điều trị, sự gia tăng nồng 
độ Hb tỷ lệ nghịch với mức độ thiếu máu khi bắt 
đầu điều trị.
- Bảng 6: Sau 4 tuần điều trị, sự gia tăng 
nồng độ Hb tăng ở liều 120 mg cao nhất (1,1 g/
dl – p < 0,01).
Bảng 7: Những trường hợp thiếu máu nhẹ, liều 
sắt cao không có ích lợi trong hiệu quả điều trị.
4. Bàn luận
Kết quả điều trị ghi nhận được tỷ lệ khỏi thiếu 
máu ở nhóm can thiệp là 82,8% và nhóm đối 
chứng là 80,6% sự khác biệt này không có ý 
nghĩa về mặt thống kê. Khi so sánh chi tiết từng 
Trước điều trị Sau 4 tuần Thay đổi P
< 7 6,5 ± 0,9 10,3 ± 0,5 3,7 ± 0,8 < 0,01
7 – < 10 9,4 ± 0,6 10,6 ± 0,8 1,3 ± 0,7 < 0,01
10 - < 11 10,5 ± 0,3 11,1 ± 0,6 0,6 ± 0,5 < 0,01
Paired-Samples T test
Bảng 5: Thay đổi Hb sau 4 tuần điều trị so với lúc nhận vào 
Trước điều trị Sau 4 tuần Thay đổi P
60mg 10,5 ± 0,4 11,2 ± 0,6 0,7 ± 0,7 < 0,01
90mg 10,4 ± 0,4 11,1 ± 0,4 0,7 ± 0,3 < 0,01
120mg 9,9 ± 0,9 11,0 ± 0,7 1,1 ± 1,0 < 0,01
150mg 10,1 ± 0,7 11,0 ± 0,4 0,8 ± 0,5 < 0,01
240mg 9,9 ± 1,1 10,7 ± 1,1 0,8 ± 1,2 < 0,01
Paired-Samples T test
Bảng 6: Thay đổi Hb sau 4 tuần điều trị theo liều lúc nhận vào 
Trước điều trị Sau 4 tuần Thay đổi P
Hb: < 9
90mg
120mg
240mg
6,98 
8,1 ± 0,8
8,0 ± 1,2
10,1 
10,4 ± 0,9
9,9 ± 1,4
3,1 
2,2 ± 1,3
1,8 ± 1,5
< 0,01
< 0,01
< 0,01
Hb: 9 – < 10
90mg
120mg
150mg
240mg
9,8 ± 0,2
9,4 ± 0,2
9,7 ± 0,3
9,3 ± 0,2
10,5 ± 0,3
10,9 ± 0,6
10,8 ± 0,2
10,9 ± 0,8
0,7 ± 0,2
1,5 ± 0,7
1,1 ± 0,2
1,6 ± 0,8
< 0,01
< 0,01
< 0,01
< 0,01
Hb: 10 – < 11
60mg
90mg
120mg
150mg
240mg
10,5 ± 0,4
10,5 ± 0,3
10,6 ± 0,3
10,7 ± 0,3
10,5 ± 0,3
11,2 ± 0,6
11,2 ± 0,4
11,1 ± 0,6
11,2 ± 0,3
10,9 ± 0,9
0,7 ± 0,7
0,7 ± 0,4
0,5 ± 0,6
0,6 ± 0,2
0,4 ± 0,9
< 0,01
< 0,01
< 0,01
< 0,01
< 0,01
Paired-Samples T test
Bảng 7: Thay đổi Hb sau 4 tuần điều trị theo liều và Hb lúc nhận vào 
nhóm điều trị, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tồn tại 
thiếu máu sau 12 tuần điều trị ở nhóm sử dụng 
240mg sắt hàng ngày là cao nhất gần 25%. Sau 
3 tháng điều trị, tỷ lệ khỏi bệnh TMTS thai kỳ ở 
nhóm can thiệp là 36,6%, nhóm chứng là 34,0% 
sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống 
kê. Một nghiên cứu của tác giả Ridwan [6], điều 
trị với hàm lượng sắt 60mg/ngày, thời gian điều 
trị trung bình là 11,3 tuần, tỷ lệ khỏi bệnh là 
28,8%. Có lẽ do chúng tôi sử dụng hàm lượng 
sắt lớn hơn và thời gian điều trị dài hơn nên tỷ 
lệ khỏi bệnh cao hơn. So với kết quả điều trị của 
tác giả Khalafallah [4], điều trị hàm lượng 80mg 
sắt nguyên tố/ngày, điều trị khi thai phụ trên 12 
tuần đến khi sanh, khỏi bệnh đạt 21%, có lẽ do 
chúng tôi sử dụng hàm lượng sắt phù hợp hơn và 
có kèm vitamin C giúp tăng hấp thu sắt nên kết 
quả điều trị khả quan hơn.
Sau 12 tuần điều trị, sự gia tăng nồng độ Hb 
trung bình ở cả hai nhóm là 1,3 g/dl không có 
sự khác biệt, tuy nhiên sự gia tăng nồng độ Hb ở 
nhóm can thiệp sau 4 tuần điều trị là 0,7 g/dl ít 
hơn khá rõ so với nhóm đối chứng. Tỷ lệ dự trữ sắt 
cạn kiệt (Ferritin < 12) thấp hơn so với nhóm chứng 
1,6% so với 5,8%. Điều này có thể do liều sắt bổ 
sung ở nhóm can thiệp chủ động tăng liều khi hàm 
lượng Ferritin thấp. Nhóm can thiệp có hiệu quả 
điều trị thích hợp hơn đặc biệt là các trường hợp 
dùng liều sắt cao 240mg thì tỷ lệ khỏi bệnh thấp 
nhất, tỷ lệ tồn tại bệnh là cao nhất (25%).
Qua phân tích các yếu tố liên quan, chúng tôi 
tìm thấy tỷ lệ thành công của điều trị thiếu máu phụ 
thuộc vào độ nặng của thiếu máu và liều điều trị, 
cụ thể:
- Các trường hợp thiếu máu nặng (Hb < 7 g/dl): 
tỷ lệ thất bại điều trị cao nhưng 50% sự gia tăng 
nồng độ Hb là cao nhất 3,7 d/dl. Khi so sánh giữa 
hai nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy phác đồ 
nghiên cứu của nhóm can thiệp không phù hợp 
dùng để điều trị các trường hợp thiếu máu nặng.
- Các trường hợp thiếu máu trung bình nhẹ (Hb 
từ 9 – 10 g/dl) sự gia tăng nồng độ Hb không khác 
biệt giữa các liều điều trị trong đó nhóm sử dụng 
liều 120mg hoặc 240mg mỗi ngày có tác dụng rõ 
rệt nhất (tăng Hb 1,5 g/dl).
- Các trường hợp thiếu máu nhẹ (Hb từ 9 – 10 
g/dl) sự gia tăng nồng độ Hb có khác biệt giữa các 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 38 - 44, 2016
43
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
liều điều trị trong đó nhóm sử dụng liều thấp 60 mg 
hoặc 90 mg mỗi ngày có tác dụng rõ rệt nhất (tăng 
Hb 0,7 g/dl).
- Các trường hợp thiếu máu với Hb > 10g/dl, 
phác đồ can thiệp điều trị thành công cao hơn 
7% so với nhóm đối chứng đặc biệt là nhóm dùng 
240mg mỗi ngày.
Điểm qua một số nghiên cứu trong và ngoài 
nước chúng tôi nhận thấy Bùi Thị Nhàn [1] nghiên 
cứu hiệu quả của bổ sung sắt trên 65 phụ nữ có 
thai bị thiếu máu tại Hà Tây. Tất cả các thai phụ 
điều được dùng sắt sulfate 60mg 2 viên một ngày 
trong vòng 60 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy 
tình trạng thiếu máu được cải thiện sau khi áp dụng 
can thiệp điều trị thấp hơn so với nghiên cứu của 
chúng tôi (60%) nhưng sự gia tăng nồng độ Hb thì 
tương đương.
Lê Thị Thu Vân [2] nghiên cứu trên 173 phụ nữ 
có thai với chẩn đoán thiếu máu. Nghiên cứu can 
thiệp với 120 mg sắt nguyên tố/ngày với kết quả 
thành công (Hb > 11 g/dl) trong vòng 3 tháng là 
92,3% cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi và 
cả cùng nhóm dùng liều 120mg sắt hàng ngày có 
lẽ các thai phụ TMTS ban đầu ở nghiên cứu của Lê 
Thị Vân chỉ gồm có thiếu máu nhẹ và trung bình, 
không có thiếu máu nặng. 
Trong phân tích tổng quan của Reveiz [5], 
khi so sánh giữa bổ sung sắt đường uống so 
với giả dược, tác giả tìm thấy hai thử nghiệm 
đối chứng ngẫu nhiên liên quan đến 176 phụ 
nữ. Dữ liệu từ các RCTs đầu tiên cho thấy rằng 
thai phụ thiếu máu được điều trị với sắt sulphate 
giảm nguy cơ thiếu máu trong tam cá nguyệt 
thứ hai (RR 0,38; 95% CI 0,26 - 0,55). Trong 
nhóm được điều trị, mức độ Hemoglobin trung 
bình là cao hơn (11,3 g/dl so với 10,5 g/dl; 
WMD 0,80; 95% CI 0,62 - 0,98;). Tương tự như 
vậy, Ferritin huyết thanh trung bình cao hơn cho 
phụ nữ nhận được sắt (WMD 0,70; 95% CI 0,52 
đến 0,88).
Hb
D
0
D
30
D
60
n % n % n %
Trung bình 9,9 ± 0,8 10,5 ± 1,0 11,4 ± 1,2
≥ 11 g/dl 0 0 19 29,2 39 60,0
10 - < 11 g/dl 36 55,4 25 38,5 18 27,7
8 - < 10 g/dl 26 40,0 21 32,3 8 12,3
< 8 g/dl 3 4,6 0 0 0 0
Qua phân tích các nghiên cứu trên thế giới 
chúng ta có thể nhận thấy chưa có sự thống nhất 
về các thức điều trị cũng như liều lượng thích hợp 
trong điều trị TMTS cho các thai phụ. Điều trị với 
sắt đường uống là lựa chọn đầu tay của các nhà 
lâm sàng, vấn đề chính với bổ sung sắt đường 
uống là việc kém tuân thủ do tác dụng phụ hoặc 
các lý do khác. Nhiều tác giả đã khuyến cáo 
thay thế chiến lược, chẳng hạn như bổ sung sắt 
hàng tuần hoặc hai lần một tuần, có được phát 
triển để cải thiện việc tuân thủ. Tuy nhiên, mặc 
dù liều hàng tuần thường cao, bệnh nhân không 
có một viên thuốc sắt đủ liều cho một tuần nên 
dự kiến sẽ vẫn có kết quả đầy đủ. Theo Hướng 
dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức 
khỏe sinh sản ban hành kèm theo quyết định số 
4620/QĐ-BYT, nếu thai phụ có biểu hiện thiếu 
máu rõ có thể sử dụng 2 – 3 viên sắt và Folic mỗi 
ngày. Theo trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ 
thì phác đồ điều trị cụ thể hơn: nếu thai phụ có 
nồng độ Hb <9,0 g/dl hoặc Hct < 27,0%, cần 
tìm các nguyên nhân chuyên sâu gây tình trạng 
thiếu máu trong thai kỳ. Điều trị thiếu máu bằng 
uống sắt 60 - 120 mg/ngày cùng với việc tư vấn 
cho thai phụ về chế độ ăn uống có lợi cho việc 
hấp thu sắt. Nếu sau 4 tuần, thiếu máu không 
đáp ứng với điều trị sắt (người phụ nữ vẫn còn 
thiếu máu và nồng độ Hb không tăng 1 g/dl 
hoặc Hct tăng 3%) mặc dù với một chế độ điều 
trị sắt phù hợp thì tìm nguyên nhân khác gây 
nên tình trạng thiếu máu.
Trong nghiên cứu chúng tôi, kết quả ghi nhận 
tác dụng không mong muốn khi sử dụng thuốc 
sắt chiếm 3,8% ở nhóm can thiệp và 7,0% ở 
nhóm chứng, sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê. Đặc biệt ở nhóm 240mg sắt mỗi ngày 
tỷ lệ buồn nôn, chán ăn chiếm 5,9%, tiêu chảy là 
11,8%, táo bón chiếm 7,8%. Kết quả này cũng 
đúng với một số nghiên cứu của các tác giả khác 
cho rằng liều điều trị thay đổi từ 60 – 200mg, 
liều cao hơn 200mg cho thấy hiệu quả điều trị 
không có sự khác biệt nhưng tác dụng không 
mong muốn nhiều hơn [3, 7].
Theo Anonymous khi điều trị liều sắt cao hơn 
200mg/ngày sẽ gây nên nhiều tác dụng không 
mong muốn và làm tăng tỷ lệ bỏ điều trị đến 1/3 
số trường hợp [3]. 
NGUYỄN DUY TÀI, HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG, PHẠM THANH HẢI
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
44
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
5. Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu thử nghiệm can thiệp 
lâm sàng có nhóm chứng trên 377 thai phụ thiếu 
máu thiếu sắt được phân làm 2 nhóm điều trị, 
nhóm can thiệp liều sắt cung cấp tùy theo nồng 
độ Ferritin và nhóm chứng theo các phác đồ tại 
2 bệnh viện, chúng tôi có kết luận như sau:
- Tỷ lệ điều trị thành công thiếu máu ở nhóm 
can thiệp là 82,8% cao hơn nhóm chứng 80,6%, 
tuy nhiên sự khác biệt này chưa ghi nhận có ý 
nghĩa về mặt thống kê (p > 0,05).
- Tỷ lệ điều trị thành công TMTS thai kỳ ở nhóm 
can thiệp là 36,6% cao hơn nhóm chứng 34,0% và 
sự khác biệt này cũng chưa ghi nhận có ý nghĩa về 
mặt thống kê (p > 0,05).
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Thị Nhàn, Nguyễn Xuân Ninh, Hà Huy Khôi (2003), “Hiệu quả 
bổ sung sắt và axit Folic trên phụ nữ có thai bị thiếu máu”. Y học Việt 
Nam, 3, 7 - 9.
2. Lê Thị Thu Vân (2008), “Hiệu quả điều trị thiếu máu thiếu sắt trong 
thai kỳ tại bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ”. Luận văn Thạc sĩ 
Y học - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
3. Anonymous (1991), Iron supplement: Why are pregnant woman not 
complying? WHO Bulletin OMS, 66-130
4. Khalafallah A. A., Dennis A. E. (2012), Iron deficiency anaemia in 
pregnancy and postpartum: pathophysiology and effect of oral versus 
intravenous iron therapy. J Pregnancy, 2012, 630519.
5. Reveiz L, Gyte GML, Cuervo LG (2007), “Treatments for iron-
deficiency anaemia in pregnancy”. Cochrane Database of Systematic 
Reviews, Issue 2, Art. No.: CD003094. DOI: 003010.001002/14651858
6. Ridwan E., Schultink S., Dillon D., R. Gross (1996), Effects of weekly 
in iron supplementation on pregnant Indonesian women are similar to 
those of daily supplementation. Am J Clin Nutr, 63, 884-890.
7. Romslo I, K Haram, al Sagen et (1983), Iron requirement in normal 
pregnancy as assessed by serum Ferritin; serum transferin saturation and 
erythrocyte protoporphyrin detemination. Br Obstet Gynecol, 90, 101- 107

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_dieu_tri_thieu_mau_thieu_sat_o_thai_ky_trong_hai_be.pdf