Hiệu quả điều trị thay thế các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Thái Bình
Nghiên cứu mô tả được tiến hành trên 450 người bệnh
với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị thay thế các chất gây
nghiện dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Thái Bình từ 6/
2016 đến 12/2017 chúng tôi thu được kết quả như sau: Hiệu
quả rõ rệt về giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp ở những
người bệnh tham gia điều trị Methadone: tỷ lệ sử dụng ma
túy giảm từ 100% trước khi điều trị xuống còn 8,4% tại thời
điểm 18 tháng sau nghiên cứu (CSHQ: 91,6% và p<>
Tỷ lệ có hành vi phạm pháp luật có tiền án, tiền sự giảm từ
35,8% trước điều trị xuống 3,8% tại thời điểm 18 tháng sau
nghiên cứu (CSHQ: 89,4%; p<0,001); tỷ="" lệ="" có="" hành="" bạo="">0,001);>
gia đình giảm từ 13,8% xuống 0,27% sau 18 tháng nghiên
cứu (CSHQ: 98%; p<0,001). tỷ="" lệ="" người="" bệnh="" có="" việc="">0,001).>
sau 18 tháng nghiên cứu là 91,9% cao hơn so với thời điểm
trước khi điều trị (79,1%) với CSHQ=16,2%, trong đó tỷ lệ
có việc làm ổn định sau 18 tháng nghiên cứu (57,6%) tăng
lên so với trước điều trị là 11,3%, tỷ lệ người bệnh không có
việc làm đã giảm từ 20,9% trước điều trị xuống còn 8,1% sau
18 tháng nghiên cứu
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả điều trị thay thế các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Thái Bình
SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 65 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÓM TẮT Nghiên cứu mô tả được tiến hành trên 450 người bệnh với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị thay thế các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Thái Bình từ 6/ 2016 đến 12/2017 chúng tôi thu được kết quả như sau: Hiệu quả rõ rệt về giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp ở những người bệnh tham gia điều trị Methadone: tỷ lệ sử dụng ma túy giảm từ 100% trước khi điều trị xuống còn 8,4% tại thời điểm 18 tháng sau nghiên cứu (CSHQ: 91,6% và p<0,001). Tỷ lệ có hành vi phạm pháp luật có tiền án, tiền sự giảm từ 35,8% trước điều trị xuống 3,8% tại thời điểm 18 tháng sau nghiên cứu (CSHQ: 89,4%; p<0,001); tỷ lệ có hành bạo lực gia đình giảm từ 13,8% xuống 0,27% sau 18 tháng nghiên cứu (CSHQ: 98%; p<0,001). Tỷ lệ người bệnh có việc làm sau 18 tháng nghiên cứu là 91,9% cao hơn so với thời điểm trước khi điều trị (79,1%) với CSHQ=16,2%, trong đó tỷ lệ có việc làm ổn định sau 18 tháng nghiên cứu (57,6%) tăng lên so với trước điều trị là 11,3%, tỷ lệ người bệnh không có việc làm đã giảm từ 20,9% trước điều trị xuống còn 8,1% sau 18 tháng nghiên cứu. Từ khóa: Methadone. ABSTRACT: EFFECTIVENESS OF METHADONE MAINTENANCE TREATMENT AMONG OPIOID DEPENDENCE PATIENTS IN THAI BINH PROVINCE The descriptive study was implemented among 450 patients which aimed to describe the effectiveness of methadone maintenance treatment among opioid dependence patients in thai Binh province from 2016 to 2017. The results show that the significant effectiveness on reducing opium use among the patients: The percentage of opium use dropped from 100% before treatment to 8.4% at 18 months post-study with effectiveness index (EI): 91.6% and p <0.001. The percentage of violating a law and having criminal record has been reduced from 35.8% before treatment to 3.8% at 18 months post-study (EI: 89.4%; p <0.001). The percentage of domestic violence has decreased from 13.8% to 0.27% after 18 months of the study (EI: 98%, p <0.001). The percentage of patients who had job after 18 months of the study was higher than the time before treatment (91.9% versus 79.1% with EI: 16.2%). The percentage of unemployed patients has decreased from 20.9% before treatment to 8.1% after 18 months of study. Key words: Methadone. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Điều trị nghiện và dự phòng tái nghiện ma túy là thách thức lớn của nhiều quốc gia trên thế giới. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy rõ hiệu quả của điều trị thay thế bằng thuốc Methadone trong dự phòng lây nhiễm HIV, giảm sử dụng ma tuý bất hợp pháp, giảm tội phạm, bạo lực gia đình và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghiện. Công tác điều trị nghiện thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Thái Bình được triển khai từ năm 2012 tại cơ sở điều trị Methadone-Trung tâm Y tế thành phố Thái Bình, hiện nay có 9 cơ sở điều trị Methadone (CSĐT) tại các huyện/thành phố. Để đánh giá công tác điều trị bằng Methadone chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu mô tả với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị thay thế các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Thái Bình. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Người nghiện ma túy tham gia điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE TẠI THÁI BÌNH Phạm Văn Dịu1, Phạm Nam Thái2, Vũ Phong Túc3 Ngày nhận bài: 02/03/2018 Ngày phản biện: 09/03/2018 Ngày duyệt đăng: 16/03/2018 1. Sở Y tế tỉnh Thái Bình 2. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Thái Bình 3. Trường Đại học Y Dược Thái Bình SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn66 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Bảng 3.1. Tình trạng bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 18 tháng Tình trạng điều trị Trước điều trị (1) Sau 12 tháng (2) Sau 18 tháng (3) SL % SL % SL % Tham gia nghiên cứu 450 100 383 85,1 370 82,2 Kết thúc nghiên cứu 0 0 67 14,9 80 17,8 Bảng 3.2. Hiệu quả điều trị trong giảm hành vi vi phạm pháp luật và bạo lực gia đình Chỉ tiêu đánh giá Trước điều trị (1) (n =450) Sau 12 tháng (2) (n =383) Sau 18 tháng (3) (n =370) SL % SL % SL % Tiền án, tiền sự 161 35,8 11 2,9 14 3,8 CSHQ; p CSHQ (1-2) : 91,1%; CSHQ (1-3) : 89,4%; p < 0,001 Có hành vi bạo lực 62 13,8 1 0,26 1 0,27 CSHQ; p CSHQ (1-2) : 98,1%; CSHQ (1-3) : 98,0%; p < 0,001 2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2016 đến tháng 12/2017. 2.3. Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện ở 9 cơ sở điều trị Methadone tại tỉnh Thái Bình. 2.4. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả Cỡ mẫu và chọn mẫu: Bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Các bệnh nhân đang điều trị tại các huyện/thành phố tỉnh Thái Bình gồm có 9 cơ sở điều trị Methadone, tổng cộng có 450 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. 2.5. Phương pháp thu thập thông tin Thu thập thông tin theo phương pháp mô tả, triển khai nghiên cứu, thu thập các chỉ số nghiên cứu theo từng giai đoạn từ lúc bắt đầu nghiên cứu, sau 12 tháng và 18 tháng. Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê so sánh các chỉ số được thu thập sau 18 tháng sử dụng Methadone dưới sự giám sát của nhóm nghiên cứu để: Phân tích các chỉ số về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đối chiếu với chỉ số chung trong và ngoài nước, chi phí hiệu quả đối với việc sử dụng Methadone. Sự thay đổi của tình trạng sử dụng ma túy bao gồm hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm; sự thay đổi hành vi tình dục, bao gồm loại bạn tình và tỷ lệ sử dụng bao cao su; nâng cao hành vi/sự tương tác xã hội bao gồm việc giảm sự tham gia vào các hoạt động tội phạm và sự thành công trong việc hòa nhập với xã hội; sức khỏe thể chất và tâm thần của bệnh nhân. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Qua kết quả tại bảng 3.1 cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 12 tháng là 85,1% và sau 18 tháng là 82,2%. Tỷ lệ bệnh nhân kết thúc nghiên cứu từ 14,9% đến 17,8%. Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi vi phạm pháp luật (có tiền án và tiền sự) từ 35,8% trước điều trị methadone đã giảm xuống 2,9% sau 12 tháng nghiên cứu và 3,8% sau 18 tháng nghiên cứu. Sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ là rất có ý nghĩa thống kê (p<0,001); CSHQ đạt 91,1% và 89,4%. Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi bạo lực gia đình từ 13.8% trước điều trị đã giảm xuống 0,26% sau 12 tháng và 0,27% sau ĐT. Sự khác biệt giữa 2 tỷ lệ là rất có ý nghĩa thống kê (p<0,001); CSHQ đạt 98,1% và 98,0%. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 67 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Bảng 3.3. Kết quả theo dõi xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy theo thời gian Thời gian nghiên cứu Test dương tính Tỷ lệ % Trước điều trị 450/450 100 Bắt đầu 91/450 20,2 Sau 3 tháng 75/432 17,4 Sau 6 tháng 55/392 14,0 Sau 9 tháng 42/387 10,9 Sau 12 tháng 35/383 9,1 Sau 18 tháng 31/370 8,4 CSHQ (sau 18 tháng): 91,6%, p<0,001 Bảng 3.4. Hiệu quả điều trị trong giảm bệnh nhân dùng chung bơm kim tiêm Tình trạng Trước điều trị (1) Sau 12 tháng (2) Sau 18 tháng (3) (n=351) (n=52) (n=17) SL % SL % SL % Có dùng chung 21 6,0 2 3,8 0 0 CSHQ; p CSHQ (1-2) : 36,6%, CSHQ (1-3) : 100%; p <0,001 Bảng 3.5. Hiệu quả của bệnh nhân tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế và dịch vụ hỗ trợ xã hội Chỉ tiêu Trước điều trị (1) (n =450) Sau 12 tháng (2) (n =383) Sau 18 tháng (3) (n =370) SL % SL % SL % Tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế 274 61,0 296 77,3 307 83,0 CSHQ; p CSHQ (1-2) : 91,1%; CSHQ (1-3) : 89,4%; p< 0.001 Có hành vi bạo lực 68 15,1 66 17,2 52 14,1 CSHQ; p CSHQ (1-2) : 98.1%; CSHQ (1-3) : 98%; p< 0.001 Kết quả theo dõi xét nghiệm nước tiểu của bệnh nhân dương tính với ma túy đã giảm từ 100% trước điều trị xuống 8,4% sau 18 tháng nghiên cứu với CSHQ: 91,6%, và p<0,001. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân dùng chung BKT khi tiêm chích ma túy giảm rõ rệt khi điều trị methadone, cụ thể giảm từ 6% trước điều trị xuống còn 3.8% sau 12 tháng nghiên cứu và không còn trường hợp bệnh nhân nào dùng chung bơm kim tiêm sau 18 tháng. SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn68 JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2018 Biểu đồ 3.1: Tình trạng việc làm của đối tượng nghiên cứu Tỷ lệ bệnh nhân tiếp cận và sử dụng DVYT, như can thiệp giảm tác hại, truyền thông thay đổi hành vi tương đối cao, từ 61% trước điều trị, sau đó tiếp cận điều trị Methadone là 77% sau 12 tháng nghiên cứu và sau đó các dịch vụ chuyển tuyến được tăng cường lên 83% sau 18 tháng nghiên cứu. Tỷ lệ bệnh nhân tiếp cận và sử dụng DVXH không có sự thay đổi đáng kể và vẫn ở mức độ rất thấp từ 15% trước điều trị đến 17% sau 12 tháng nghiên cứu và còn 14% sau 18 tháng nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có việc làm sau 18 tháng nghiên cứu là 91,9% cao hơn so với thời điểm trước khi điều trị (79,1%) với CSHQ=16,2%, trong đó tỷ lệ có việc làm ổn định sau 18 tháng nghiên cứu (57,6%) tăng lên so với trước điều trị là 11,3%, tỷ lệ bệnh nhân thất nghiệp đã giảm từ 20,9% trước điều trị xuống còn 8,1% sau 18 tháng nghiên cứu, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0.05. IV. BÀN LUẬN Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng chứng minh lý thuyết Methadone làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp là phù hợp với thực tiễn: tỷ lệ bệnh nhân dương tính với ma túy khi xét nghiệm nước tiểu đã giảm từ 100% trước điều trị Methadone xuống là 11% sau 12 tháng nghiên cứu và 8,4% sau 18 tháng nghiên cứu, sự khác biệt giữa trước điều trị với sau điều trị 12 tháng và 18 tháng sau nghiên cứu có ý nghĩa thống kê với p<0,001, CSHQ đạt được sau 18 tháng là 94,5%. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác về hiệu quả của điều trị Methadone đã làm giảm việc sử dụng ma túy: Kết quả nghiên cứu của Viện Sức khoẻ Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu đầu tiên trong môi trường bệnh viện về điều trị Methadone tại Việt Nam, điều trị thí điểm Methadone tại TP. Hà Nội (với 68 người tiêm chích ma túy) và TP. Hải Phòng (với 74 người tiêm chích ma túy), thời gian từ 1996 đến năm 2002, kết quả đã làm giảm rõ rệt hành vi sử dụng CDTP bất hợp pháp: Tỷ lệ người sử dụng ma túy giảm từ 100% xuống còn 18% sau 6 tháng và chỉ còn 9% sau 2 năm điều trị V. KẾT LUẬN - Có hiệu quả rõ rệt về giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp ở những người tham gia điều trị Methadone: tỷ lệ sử dụng ma túy giảm từ 100% trước khi điều trị xuống còn 8,4% tại thời điểm 18 tháng sau nghiên cứu (CSHQ: 91,6% và p<0,001). - Điều trị Methadone làm giảm các vi phạm pháp luật trong gia đình và xã hội: Tỷ lệ có hành vi phạm pháp luật có tiền án, tiền sự giảm từ 35,8% trước điều trị xuống 3,8% tại thời điểm 18 tháng sau nghiên cứu (CSHQ: 89,4%; p<0,001); tỷ lệ có hành bạo lực gia đình giảm từ 13,8% xuống 0,27% sau 18 tháng nghiên cứu (CSHQ: 98%; p<0,001). - Tỷ lệ bệnh nhân điều trị Methadone được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế và dịch vụ hỗ trợ xã hội còn thấp và không cải thiện được sau 12 tháng và 18 tháng nghiên cứu. - Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm sau 18 tháng nghiên cứu là 91,9% cao hơn so với thời điểm trước khi điều trị (79,1%) với CSHQ=16,2%, trong đó tỷ lệ có việc làm ổn định sau 18 tháng nghiên cứu (57,6%) tăng lên so với trước điều trị là 11,3%, tỷ lệ bệnh nhân thất nghiệp đã SỐ 3 (44) - Tháng 05-06/2018 Website: yhoccongdong.vn 69 V I N S C K H E C NG NG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC giảm từ 20,9% trước điều trị xuống còn 8,1% sau 18 tháng nghiên cứu (p<0.05). VI. KIẾN NGHỊ 1. Tiếp tục duy trì và mở rộng quy mô của chương trình điều trị Methadone trên địa bàn tỉnh đặc biệt tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn tạo điều kiện thuận lợi một cách tối đa cho bệnh nhân điều trị Methadone. 2. Các cơ sở điều trị Methadone cần tuân thủ nghiêm quy trình điều trị, thực hiện đầy đủ quy trình khám lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng và quy trình tư vấn để phát hiện các bệnh đồng nhiễm qua đó hướng dẫn để người bệnh được điều trị sớm nhất và đạt hiệu quả. 3. Để chương trình điều trị Methadone đạt hiệu quả cao, cần thiết phải triển khai đồng thời các chương trình hỗ trợ cho người điều trị Methadone về định hướng nghề nghiệp, giới thiệu tạo việc làm, dạy nghề, dạy văn hóa, điều trị về tâm lý xã hội, hướng dẫn rèn luyện thể chất, nâng cao thu nhập, giảm các gánh nặng về chi phí bệnh tật, cải thiện điều kiện sống của bệnh nhân. 1. Lại Kim Anh, Nguyễn Thanh Long, Đỗ Văn Dũng, Hoàng Đình Cảnh (2008), “Nghiên cứu hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI trên nhóm nghiện chích ma túy tại Cần Thơ, 2006-2007”, Tạp chí Y học Thực hành, 742-743, tr. 210-214. 2. Bộ Y tế (2010), Đánh giá bước đầu triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu cấp Bộ. 3. Bộ Y tế (2011), Tổng kết công tác điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Hà Nội. 4. Nguyễn Dương Châu Giang (2015), Tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị Methadone tại thành phố Đà Nẵng và một số yếu tố liên quan năm 2015, Trường Đại học Y tế Công cộng. 5. Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai (2005), Nghiên cứu thí điểm điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Tp Hà Nội và Tp Hải Phòng, Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp Bộ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
File đính kèm:
hieu_qua_dieu_tri_thay_the_cac_chat_gay_nghien_dang_thuoc_ph.pdf

