Hiệu quả của propess làm chín mùi cổ tử cung và khởi phát chuyển dạ trên thai đủ trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương

Đặt vấn đề: Khởi phát chuyển dạ hiện vẫn là vấn đề được quan tâm trên thế giới và tại Việt Nam. Tỷ lệ

chung ghi nhận là 9,6% trên thế giới.

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm khảo sát tính hiệu quả và an toàn của Propess đặt âm đạo để làm chín

muồi cổ tử cung và khởi phát chuyển dạ (KPCD) ở thai kỳ trưởng thành. Thai kỳ trưởng thành có chỉ định

KPCD có điểm Bishop ≤ 4 và không có chống chỉ định sinh ngả âm đạo.

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu dọc tiền cứu 160 thai kỳ trưởng thành, có chỉ định KPCD tại Bệnh

viện Hùng Vương từ tháng 11/2019 đến tháng 11/2020 với đánh giá cổ tử cung bằng thang điểm Bishop.

Kết quả: Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công ở thai đủ trưởng thành có chỉ định KPCD 88,8%, KTC 95%

[0,84 - 0,93]. Các yếu tố liên quan đến KPCD thành công là số lần sinh, OR = 6,12, KTC 95% [1,21-30,83],

p=0,028 và chiều dài cổ tử cung, OR = 0,18,95% CI [0,06-0,57], p = 0,004. Tác dụng ngoại ý đến mẹ và con:

CTG nhóm II 20%, gò tử cung cường tính 13,1%, vỡ ối 9,4%, băng huyết sau sinh 2,5%, vàng da 1,3% và

nhiễm trùng sơ sinh 0,6%, không có suy hô hấp.

Kết luận: Propess là phương pháp hiệu quả và an toàn để biến đổi thuận lợi cổ tử cung và giúp KPCD

thành công.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của propess làm chín mùi cổ tử cung và khởi phát chuyển dạ trên thai đủ trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của propess làm chín mùi cổ tử cung và khởi phát chuyển dạ trên thai đủ trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương

Hiệu quả của propess làm chín mùi cổ tử cung và khởi phát chuyển dạ trên thai đủ trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 238 
HIỆU QUẢ CỦA PROPESS LÀM CHÍN MÙI CỔ TỬ CUNG 
VÀ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ TRÊN THAI ĐỦ TRƯỞNG THÀNH 
TẠI BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG 
Huỳnh Nguyễn Khánh Trang1, Tăng Thường Bản2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Khởi phát chuyển dạ hiện vẫn là vấn đề được quan tâm trên thế giới và tại Việt Nam. Tỷ lệ 
chung ghi nhận là 9,6% trên thế giới. 
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm khảo sát tính hiệu quả và an toàn của Propess đặt âm đạo để làm chín 
muồi cổ tử cung và khởi phát chuyển dạ (KPCD) ở thai kỳ trưởng thành. Thai kỳ trưởng thành có chỉ định 
KPCD có điểm Bishop ≤ 4 và không có chống chỉ định sinh ngả âm đạo. 
Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu dọc tiền cứu 160 thai kỳ trưởng thành, có chỉ định KPCD tại Bệnh 
viện Hùng Vương từ tháng 11/2019 đến tháng 11/2020 với đánh giá cổ tử cung bằng thang điểm Bishop. 
Kết quả: Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công ở thai đủ trưởng thành có chỉ định KPCD 88,8%, KTC 95% 
[0,84 - 0,93]. Các yếu tố liên quan đến KPCD thành công là số lần sinh, OR = 6,12, KTC 95% [1,21-30,83], 
p=0,028 và chiều dài cổ tử cung, OR = 0,18,95% CI [0,06-0,57], p = 0,004. Tác dụng ngoại ý đến mẹ và con: 
CTG nhóm II 20%, gò tử cung cường tính 13,1%, vỡ ối 9,4%, băng huyết sau sinh 2,5%, vàng da 1,3% và 
nhiễm trùng sơ sinh 0,6%, không có suy hô hấp. 
Kết luận: Propess là phương pháp hiệu quả và an toàn để biến đổi thuận lợi cổ tử cung và giúp KPCD 
thành công. 
Từ khóa: khởi phát chuyển dạ, chỉ số Bishop cổ tử cung 
ABSTRACT 
EVALUATION OF PROPESS OUTCOMES FOR CERVICAL RIPENING AND INDUCTION OF 
LABOUR IN TERM PREGNANCY AT HUNG VUONG HOSPITAL 
Huynh Nguyen Khanh Trang, Tang Thương Ban 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 238 - 243 
Background: Induction of labor is still an issue of concern worldwide and in Vietnam. The overall rate 
recorded is 9.6% worldwide. 
Objectives: This study was to investigate the efficiency and safety of vaginal Propess as a methodology for 
cervical ripening and labour induction in term pregnant patients. Women at term with a Bishop's score of ≤ 4 
and without any contraindications, to vaginal delivery. 
Methods: A prospective longitudinal study on 160 term pregnancies, with indications for induction of labor 
at Hung Vuong Hospital from 11/2019 to November 2020 with cervical assessment by Bishop's score. 
Results: The rate of successful induction of labor of vaginal Propess in term pregnancy with indication of 
termination of pregnancy reached 88.8%, 95% CI [0.84 - 0.93]. Factors associated with a successful induction of 
labor are number of births, OR = 6.12, 95% CI [1.21-30.83], p = 0.028 and length of the cervical, OR = 0.18, 95% 
CI [0.06-0.57], p = 0.004. Adverse effects on mother and child: CTG group II fetal heart change was 20%, uterine 
hyperstimulation accounted for 13.1%, followed by rupture of amniotic sac 9.4%, postpartum haemorrhage 2.5 
1Bộ môn Sản Phụ khoa, ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch 2Bệnh viện Hùng Vương 
Tác giả liên lạc: PGS.TS. Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ĐT: 0903882015 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 239 
%, jaundice 1.3% and neonatal infection 0.6%, no respiratory failure. 
Conclusion: Propess is an effective and safe approach to promote cervical ripening and be successfully used 
in induction of labour. 
Keywords: induction of labor, Bishop’ score 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Cuộc chuyển dạ thuận lợi và sinh qua ngả 
âm đạo là mong muốn của hầu hết thai phụ. Các 
thầy thuốc đều hiểu được lợi ích của việc sanh 
ngả âm đạo, cũng như nguy cơ của việc mổ lấy 
thai (MLT) đối với sức khỏe và tương lai sản 
khoa của người phụ nữ. Nhưng trong thực tế tỷ 
lệ MLT trên thế giới ngày càng tăng. Đây đang 
trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu. Tổ chức y tế 
thế giới khuyến cáo tỷ lệ MLT không nên vượt 
quá 15% ở các quốc gia và vùng lãnh thổ. Hiện 
nay, tỷ lệ MLT ở các nước trên thế giới đang tăng 
đều đặn qua từng năm. Ghi nhận ở Bắc Mỹ 
khoảng 25%, Trung Mỹ khoảng 30%, hơn 30% ở 
các nước châu Âu và lên đến 40% ở các nước 
châu Mỹ Latinh(1). Việt Nam, tỷ lệ MLT tại bệnh 
viện Phụ Sản Trung ương, vào những năm 60 là 
9%, đến năm 2005 con số này tăng lên gần 40%(2). 
Phần lớn những trường hợp thai phụ phải chấm 
dứt thai kỳ bằng cách mổ lấy thai khi cổ tử cung 
chưa thuận lợi để sanh ngả âm đạo. KPCD giúp 
thai phụ có thêm cơ hội sanh ngả âm đạo. 
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2011, khảo 
sát trên 300.000 trường hợp sinh ở 373 cơ sở 
chăm sóc sức khỏe ở 24 quốc gia, tỷ lệ khởi phát 
chuyển dạ (KPCD) là 9,6%(3). 
Có rất nhiều phương pháp KPCD, bằng 
thuốc hay cơ học. Mỗi loại đều có ưu và nhược 
điểm riêng. Mục đích của KPCD là làm chín 
muồi cổ tử cung và gây ra cơn gò tử cung giúp 
cổ tử cung xóa, mở. Thuốc gồm: Oxytocin, 
Prostaglandin E1 (PGE1) và Prostaglandin E2 
(PGE2). Prostaglandin E2 là tác nhân hiệu quả 
với hiệu quả KPCD thành công 83% - 96%(4). 
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2011, 
Prostaglandin E1 với liều thấp (25μg đặt âm đạo 
mỗi 6 giờ) được khuyến cáo sử dụng để KPCD(3). 
Với các ưu điểm hiệu quả thành công cao, tiện 
lợi trong sử dụng, giá thành rẻ, Misoprostol đã 
từng là phương pháp KPCD tại bệnh viện Hùng 
Vương. Tuy nhiên, từ tháng 2/2012 Bộ Y Tế đã 
không cho phép sử dụng Misoprostol trong 
KPCD trên thai sống, trưởng thành do lo ngại 
những biến chứng do không quản lý cơn gò khi 
dùng thuốc. Hiện tại, tại Việt Nam đã có sản 
phẩm Propess (Dinoprostone) dùng để KPCD, là 
một loại PGE2 đặt ở cùng đồ sau có thể thu hồi 
để KPCD, với hàm lượng 10mg, phóng thích 
prostaglandin E2 ổn định 0,3mg/giờ, thời gian 
bán hủy 1-3 phút, đã được Bộ y tế cho phép sử 
dụng tại Việt Nam từ 29/07/2016 theo hướng dẫn 
quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh 
sản, 4128/QĐ-BYT, 29/07/2016. PGE2 
(Dinoprostone, biệt dược Propess, Cerviprime): 
gây chuyển dạ thuận lợi và an toàn hơn. Chỉ 
định với những trường hợp có thể sinh được 
đường âm đạo, không có sẹo mổ cũ(5). 
PGE2 (Propess) so với giả dược hay oxytocin 
thì làm tăng tỷ lệ sinh trong vòng 24 giờ(6). Bên 
cạnh đó, PE2 so với PE1 ít gây cơn gò cường tính 
và thay đổi nhịp tim nên được đánh giá là an 
toàn hơn cho mẹ và thai. 
Với câu hỏi nghiên cứu: “Hiệu quả của 
Propess trong KPCD trên thai trưởng thành nhứ 
thế nào và có yếu tố gì ảnh hưởng khi thực 
hiện?” Chúng tôi thực hiện nghiên cứu với mục 
tiêu: 
1 Xác định tỷ lệ KPCD thành công bằng 
Propess ở thai trưởng thành (≥37 tuần). 
2 Tìm các yếu tố liên quan tỷ lệ KPCD thành 
công. 
3 Mô tả tác dụng ngoại ý trên thai phụ và 
thai nhi ở phương pháp KPCD bằng Propess. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Thai phụ mang thai trưởng thành (≥37 tuần), 
chưa vào chuyển dạ với Bishop CTC ≤4 điểm có 
chỉ định khởi phát chuyển dạ (KPCD) tại khoa 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 240 
Sản bệnh viện Hùng Vương từ tháng 11/2019 
đến tháng 12/2020, thỏa các tiêu chuẩn chọn 
mẫu. 
Tiêu chuẩn chọn vào 
Thai phụ >18 tuổi; Tuổi thai ≥37 tuần (dựa 
vào ngày kinh cuối với chu kỳ kinh nguyệt đều, 
nhớ rõ ngày kinh cuối hoặc dựa vào siêu âm 3 
tháng đầu); Đơn thai; Ngôi đầu; Khung chậu 
bình thường trên lâm sàng; Chỉ số Bishop trước 
khi KPCD ≤4; Biểu đồ tim thai nhóm I (theo 
ACOG 2009); Thai phụ có chỉ định KPCD. Đồng 
ý tham gia nghiên cứu sau khi đã được thông tin 
đầy đủ và hiểu rõ về nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại ra 
Đã có chuyển dạ: CTC ≥2 cm, xóa >50%, gò 
tử cung 3 cơn/10 phút; Có sẹo mổ cũ trên cơ tử 
cung: mổ sinh, bóc nhân xơ, sẹo vá tử cung bị vỡ 
trong lần mang thai trước, sẹo xén góc tử cung 
do thai sừng; Dị dạng tử cung; Cổ tử cung 
polyp, Herpes, Condyloma, ung thư. Hoặc CTC 
đã từng bị tổn thương hoặc can thiệp trước đó: 
rách cổ tử cung cũ, đốt lạnh, đốt điện cổ tử cung, 
khoét chóp; Viêm nhiễm đường sinh dục cấp; 
Ngôi bất thường; Bất xứng đầu chậu; Nhau tiền 
đạo. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu dọc tiến cứu. 
Cỡ mẫu 
2
2
)2/1( )1(
d
ppZ
n
Trong đó: 
Z2(1-α/2) : Trị số tới hạn ở KTC 95% (Z(1-
α/2)=1,96 với α = 0,05). 
Cỡ mẫu được ước tính dựa trên kết cục 
chính của nghiên cứu dẫn đường tại khoa Sản 
bệnh viện Hùng Vương, có 28 trường hợp thai 
trưởng thành có chỉ định KPCD bằng 
PROPESS. Trong đó: có 25 trường hợp KPCD 
thành công (Bishop ≥7 điểm) chiếm tỷ lệ 89%, 3 
ca thất bại. Nghiên cứu dự kiến đạt tỷ lệ thành 
công 89%, do vậy p=0,89. Tính n = 150. Nghiên 
cứu (NC) thu nhận 160 đối tượng. 
Phương pháp chọn mẫu 
Lấy mẫu toàn bộ. 
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả KPCD 
Thành công: chỉ số Bishop cổ tử cung (CTC) 
đạt ≥7 điểm. 
Thất bại: sau đặt Propess 24 giờ mà Bishop 
<7 điểm xem như KPCD thất bại. Có tác dụng 
ngoại ý hoặc biến chứng trầm trọng (suy thai, 
nhau bong non, rối loạn cơn gò tử cung không 
điều chỉnh được bằng thuốc giảm co, vỡ tử cung, 
ra huyết âm đạo lượng nhiều). Những trường 
hợp này nếu xảy ra chưa đến thời gian đánh giá 
hiệu quả xem như KPCD thất bại. Xử trí các tác 
dụng ngoại ý: Rút Propess, tư vấn cho sản phụ 
và người thân, với suy thai hoặc vỡ tử cung hoặc 
nhau bong non sẽ mổ sinh cấp cứu theo phác đồ 
của bệnh viện. 
Phòng ngừa các tác dụng không mong 
muốn: cung cấp thông tin những biến chứng có 
thể xảy ra khi sử dụng phương pháp này như: 
đau tức, chảy máu AĐ, sốt, vỡ ối, suy thai, rối 
loạn cơn gò TC, vỡ TC, nhau bong non, sa dây 
rốn. Vô khuẩn khi đặt Propess. 
Quy định ngừng tham gia nghiên cứu: Thai 
phụ không đồng ý tiếp tục tham gia sẽ rút 
Propess. Tư vấn phương pháp can thiệp phù 
hợp. 
Xử lý dữ liệu 
Dữ liệu được kiểm tra, mã hóa, nhập liệu và 
quản lý bằng Excel và phân tích bằng SPSS 20. 
Trình bày dưới dạng tần số, tỷ lệ phần trăm cho 
biến số không liên tục và trung bình, độ lệch 
chuẩn cho biến số liên tục. Khảo sát tương quan 
giữa các biến danh định dùng phép kiểm Chi 
bình phương, giữa biến danh định với biến liên 
tục dùng T- test. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 631/ĐHYD-HĐĐĐ, 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 241 
ngày 15/11/2019. 
KẾT QUẢ 
Tuổi thai phụ trung bình 28,4. Phần lớn thai 
phụ ở độ tuổi <35 tuổi (85%). Đa phần là con so 
(65,6%). Số thai phụ sống ở các tỉnh khác nhiều 
hơn TP. HCM (66,3% so với 33,8%). Tuổi thai 
trung bình là 38,9 ± 1,2 tuần. Trọng lượng sơ sinh 
trung bình 3006 ± 35.5 gram, trong đó nhỏ nhất 
1870 gram và lớn nhất 4055 gram (Bảng 1). 
Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm Tổng (n=160) Tỷ lệ (%) 
Tuổi mẹ 
Trung bình: 28,4 ± 5,2 
< 35 tuổi 136 85 
≥ 35 tuổi 24 15 
Số lần sinh: 
Con so 105 65,6 
Con rạ 55 34,4 
Địa chỉ 
TP HCM 54 33,8 
Tỉnh khác 106 66,3 
Tuổi thai (tuần) Trung bình: 38,9 ± 1,2 
37 tuần đến 37 tuần 6 ngày 41 25,6 
38 tuần đến 38 tuần 6 ngày 21 13.1 
39 tuần đến 39 tuần 6 ngày 62 38,8 
40 tuần đến 40tuần 6 ngày 33 20,6 
41 tuần đến 41 tuần 6 ngày 3 1,9 
≥42 tuần 0 0 
Chỉ định KPCD 
TSG - THA 11 6,9 
ĐTĐ 52 32,5 
Thai quá ngày dự sanh 15 9,4 
IUGR 41 25,6 
NST nghi ngờ 17 10,6 
Thiểu ối 13 8,1 
Khác 11 6,9 
Phân bố điểm số Bishop CTC 
Con so với 105 trường hợp, điểm trung bình 2,7 ± 1,1 
0 4 3,8 
1 12 11,4 
2 27 25,7 
3 35 33,4 
4 27 25,7 
Con so với 55 trường hợp, điểm trung bình 2,8 ± 0,9 
0 0 0 
1 2 3,7 
2 21 38,2 
3 19 34,5 
4 13 23,6 
Bảng 2: Tỷ lệ KPCD thành công 
Kết quả Tổng số Tỷ lệ (%) KTC 95% 
Thành công 142 88,8 0,84 – 0,93 
Thất bại 18 11,2 0,07 – 0,16 
Tổng 160 100 
Tỷ lệ KPCD thành công đạt 88,8% [KTC 95% 
0,84 – 0,93] (Bảng 2). 
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến khả năng KPCD 
thành công trong phân tích hồi quy logistic đa biến 
Các yếu tố liên quan OR (KTC 95%) P 
Bishop trước KPCD 2,34 (0,71-7,8) 0,164 
Số lần sinh 6,12 (1,21-30,84) 0,028 
Chiều dài kênh CTC 0,18 (0,06-0,57) 0,004 
BMI 0,71 (0,38-1,34) 0,291 
CTC đóng 0,59 (0,37-5,74) 0,599 
Sau khi phân tích đa biến, chỉ còn yếu tố số 
lần sinh và chiều dài kênh CTC liên quan đến 
khả năng KPCD thành công, p <0,05 (Bảng 3). 
Bảng 4: Biến chuyển ngoại ý trong qua trình KPCD 
Kết cục sau sinh (Mẹ) Tổng số Tỷ lệ (%) 
Vỡ ối 15 9,4 
Nhiễm trùng 1 0,6 
Thay đổi ngôi thai 1 0,6 
Cơn gò cường tính 21 13,1 
Biến đổi tim thai CTG nhóm II 32 20 
BHSS 4 2,5 
Apgar 1 phút < 7 3 1,9 
Nhập khoa nhi 3 1,9 
Vàng da 2 1,3 
Nhiễm trùng sơ sinh 1 0,6 
Biến chứng sau KPCD thấp, đáng chú ý là 
biến đổi tim thai CTG nhóm II là 20%, cơn gò 
TC cường tính chiếm 13,1%, tiếp theo là vỡ ối 
9,4%, BHSS là 2,5%, những biến chứng còn lại 
không đáng kể. Không có trường hợp nào vỡ 
tử cung. Không có trường hợp nào trẻ sinh ra 
có Apgar 1 phút <7, phải hồi sức sơ sinh hay tử 
vong. Tỷ lệ nhập khoa nhi là 1,9%, trong đó 
vàng da chiếm 1,3% và nhiễm trùng sơ sinh 
chiếm 0,6% (Bảng 4). 
BÀN LUẬN 
Chỉ số Bishop trước KPCD có giá trị trong 
việc tiên lượng khả năng thành công hay thất bại 
của KPCD. Điểm Bishop càng cao thì kết quả 
KPCD thành công càng cao và ngược lại. Nghiên 
cứu này chỉ nhận những trường hợp có điểm 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
 Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 242 
Bishop trước KPCD là ≤4 điểm. Bishop trung 
tình trước KPCD là 2,7 ± 0,1. Phần lớn các trường 
hợp có Bishop trước KPCD ở nhóm con so là 3 
điểm (33,4%), con rạ là 2 điểm (38,2%). 
Tỷ lệ KPCD thành công trong NC chúng 
tôi đạt 88,8% KTC 95% [0,84 – 0,93]. Điểm 
Bishop tại thời điểm đánh giá là 7,5 ± 1,8 điểm. 
Kết quả này tương tự tác giả Chen W (7,2 ± 1,8 
điểm)(7). Cho đến nay, chưa có một tiêu chuẩn 
thống nhất để đánh giá hiệu quả KPCD. Hai 
yếu tố ảnh hưởng đến diễn tiến cuộc chuyển 
dạ là cơn gò TC và sự xóa mở CTC. Phần lớn 
các NC trên thế giới chọn sự thay đổi điểm 
Bishop làm tiêu chuẩn đánh giá thành công. 
Có tác giả chọn Bishop sau KPCD ≥7 điểm, 
hoặc Bishop tăng ≥3 điểm so với lúc đầu là 
thành công. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
tiêu chuẩn chọn vào là Bishop ≤4 điểm, tiêu 
chuẩn KPCD thành công là Bishop ≥7 điểm, 
lấy thuốc ra khi chuyển dạ hoặc sau 24 giờ, 
hoặc cơn gò cường tính. 
Kết quả này thì tương tự với tác giả Marconi 
AM (86%)(8) và Daykan Y (82,8%)(9) và cao hơn 
tác giả Frank R (73,2%)(10), Chen W (60,3%)(7), 
Hiersch L (2017)(11). Chúng tôi thiết nghĩ, sự khác 
biệt là do đối tượng NC và phương pháp NC 
khác nhau. NC của tác giả Frank R (73,2%)(10) chỉ 
đánh giá Bishop sau đặt 12 giờ khác với chúng 
tôi là 24 giờ. Tác giả Marconi AM (86%)(8) chọn 
đầu vào là Bishop ≤7 điểm, lấy thuốc ra sau đặt 
12 giờ. Tác giả W Chen (60,3%)(7) sử dụng tiêu 
chuẩn chọn vào Bishop ≤6 điểm, tiêu chuẩn 
thành công là Bishop thay đổi ≥3 điểm, chuyển 
dạ phải xảy ra sau 12 giờ đặt thuốc. NC của 
Hiersch L (2017)(11) có điểm khác với NC chúng 
tôi là Bishop ban đầu ≤7 điểm và định nghĩa 
KPCD thất bại: Bishop <7 điểm sau 24 giờ đặt 
thuốc hay mổ sinh vì thai trình ngưng tiến (CTC 
≤5 cm). Daykan Y (82,8%)(9) thì chọn đầu vào là 
Bishop <6 điểm, tiêu chuẩn lấy thuốc ra: sau khi 
đặt 24 giờ hoặc chuyển dạ hoặc Bishop ≥ điểm. 
Daykan Y (2018) cho biết những yếu tố dự 
đoán khả năng KPCD thành công là: số lần sinh 
(p=0,001), tuổi thai nhỏ hơn lúc sinh so với 
những ca mổ lấy thai (p <0,05)(9). Hiersch L (2017) 
kết luận rằng những yếu tố tiên lượng khả năng 
thành công của KPCD là: số lần sinh, độ mở 
CTC lúc ban đầu và tuổi thai(11). NC của chúng 
tôi, sau khi phân tích đa biến, chỉ còn yếu tố số 
lần sinh và chiều dài kênh CTC liên quan đến 
khả năng KPCD thành công, p <0,05. 
Tác dụng ngoại ý khi KPCD thấp, đáng chú 
ý là biến đổi tim thai CTG nhóm II là 20%, cơn 
gò tử cung cường tính chiếm 13,1%, tiếp theo là 
vỡ ối 9,4%, băng huyết sau sinh (BHSS) là 2,5%, 
những biến chứng còn lại không đáng kể. Không 
có trường hợp nào vỡ tử cung, nhau bong non, 
sa dây rốn. Tác dụng ngoại ý nghiêm trọng sau 
KPCD bằng Propess trên thai phụ thì thấp. 
Trong NC chúng tôi có 21/160 trường hợp rối 
loạn cơn co tử cung, chiếm 13,1%. Kết quả này 
thì tương tự tác giả Maggi C (12%)(12), Bayoglu 
TY (11,2%)(13), nhưng cao hơn của tác giả 
D’Aniello G (3%)(14), Chen W (1,8%)(7). Chúng tôi 
ghi nhận những trường hợp rối loạn cơn co này 
đều ở dạng cơn co nhiều (≥6 cơn/10 phút) nhưng 
cường độ chỉ ở mức 60-80 mmHg, không có 
trường hợp cơn co cường độ mạnh 100 mmHg, 
kéo dài >2 phút. Những thai phụ này được rút 
thuốc ra, theo dõi chặt chẽ bằng Monitor và 
thông thường sau khoảng 30-60 phút sau, cơn co 
sẽ giảm vì thời gian bán hủy 1-3 phút. Chỉ có 1 ca 
là phải sử dụng thuốc giảm co. Phần lớn các 
trường hợp đều đi vào chuyển dạ hoạt động sau 
đó, không gây khó chịu đáng kể cho thai phụ. 
Tất cả các trường hợp này đều được kiểm soát 
tốt, không gây ảnh hưởng xấu đến kết cục của 
mẹ và thai. Không có trường hợp nào vỡ tử 
cung, tử vong. Biến đổi tim CTG nhóm II thai 
khi đặt Propess là 32/160 trường hợp, chiếm 
20%, không có ca nào ở nhóm CTG III. Kết quả 
chúng tôi thì cao hơn tác giả Chen W (8,2%)(7). 
BHSS là 4/160 trường hợp, chiếm 2,5%, những ca 
này đều không phải truyền máu. Kết quả chúng 
tôi thì thấp hơn tác giả Maggi C (21%)(12), 
Jozwiak M (6%)(15), nhưng cao hơn tác giả 
Bayoglu TY (0,8%)(13). Những tác dụng phụ khác 
như nhiễm trùng 1 ca, 0,6%. Tác dụng ngoại trên 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 243 
trẻ sơ sinh trong NC: về chỉ số Apgar 1 phút <5 
và Apgar 5 phút <7 đều thấp hơn các tác giả 
D’Aniello G (2003)(14), Marconi AM (2008)(8), 
Jozwiak M (2013)(15), Daykan Y (2018)(9), Maggi C 
(2019)(12). Chỉ số Apgar là một thang đo phổ biến 
và quan trọng kết cục của thai nhi sau sinh. Trẻ 
có chỉ số Apgar 5 phút sau sinh ≥7 điểm xem 
như bình thường. Trong nghiên cứu chúng tôi, 
không có trường hợp nào trẻ sinh ra có Apgar 1 
phút <5, Apgar 5 phút <7, phải hồi sức sơ sinh 
tích cực hay tử vong. Phần lớn các trường hợp 
nhập khoa nhi là do vàng da. Qua đó, nhận thấy 
Propess là một phương pháp KPCD được dung 
nạp tốt. 
Hạn chế 
Đề tài thực hiện trên 1 nhóm nên các giá trị 
kết quả chưa thực sự khách quan. Tuy nhiên với 
kết quả thu được có thể giúp các nghiên cứu có 
nhóm chứng hoặcso sánh với các phương pháp 
khác trong tương lai được thuận lợi hơn. 
KẾT LUẬN 
Qua NC dọc tiến cứu đánh giá hiệu quả 
KPCD bằng dinoprostone dạng đặt âm đạo 
(Propess) ở 160 trường hợp thai trưởng thành tại 
bệnh viện Hùng Vương Thành phố Hồ Chí 
Minh, rút ra các kết luận như sau: 
1. Tỷ lệ KPCD thành công của 
dinoprostone dạng đặt âm đạo trên thai 
trưởng thành có chỉ định chấm dứt thai kỳ đạt 
88,8%, KTC 95% [0,84–0,93]. 
2. Các yếu tố liên quan đến khả năng KPCD 
thành công là số lần sinh, OR=6,12, KTC 95% 
[1,21-30,83], p=0,028 và chiều dài kênh CTC, 
OR=0,18, KTC 95% [0,06-0,57], p=0,004. 
3. Tỷ lệ tác dụng ngoại ý trên mẹ và con: biến 
đổi tim thai CTG nhóm II là 20%, cơn gò TC 
cường tính chiếm 13,1%, tiếp theo là vỡ ối 9,4%, 
BHSS là 2,5%, vàng da phải nhập nhi 1,3% và 
nhiễm trùng sơ sinh trẻ sơ sinh 0,6%, không có 
suy hô hấp. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Ferreira EC, Pacagnella RC, Costa ML, Cecatti JG (2015). The 
Robson ten-group classification system for appraising 
deliveries at a tertiary referral hospital in Brazil. Int J Gynaecol 
Obstet, 129(3):236-239. 
2. Vũ Thị Nhung (2014). Lợi ích và nguy cơ của mổ lấy thai. Hội 
Y Học TP. HCM. 
3. Organization WHO (2011). WHO recommendations for 
induction of labour. URL: 
https://www.who.int/reproductivehealth/publications/materna
l_perinatal_health/9789241501156/en/. 
4. WHO (2011). WHO recommendation on use of low doses of 
vaginal prostaglandins for induction of labour. URL: 
https://apps.who.int/iris/bitstream/handle/10665/44531/9789241
501156_eng.pdf?sequence=1. 
5. Bộ Y tế (2016). Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc 
sức khỏe sinh sản. Quyết định số: 4128QĐ/BYT. 
6. ACOG (2009). ACOG Practice Bulletin No. 107: Induction of 
labor. Obstet Gynecol, 114(2 Pt 1):386-397. 
7. Chen W, Zhou Y, Pu X, Xiao C (2014). Evaluation of Propess 
outcomes for cervical ripening and induction of labour in full-
term pregnancy. J Obstet Gynaecol, 34(3):255-258. 
8. Marconi AM, Bozzetti P, Morabito A, Pardi G (2008). 
Comparing two dinoprostone agents for cervical ripening and 
induction of labor: a randomized trial. Eur J Obstet Gynecol 
Reprod Biol, 138(2):135-140. 
9. Daykan Y, Biron-Shental T, Navve D, et al (2018). Prediction of 
the efficacy of dinoprostone slow release vaginal insert 
(Propess) for cervical ripening: A prospective cohort study. J 
Obstet Gynaecol Res, 44(9):1739-1746. 
10. Witter FR, Rocco LE, Johnson TR (1992). A randomized trial of 
prostaglandin E2 in a controlled-release vaginal pessary for 
cervical ripening at term. Am J Obstet Gynecol, 166(3): 830-834. 
11. Hiersch L, Borovich A, Gabbay-Benziv R, et al (2017). Can we 
predict successful cervical ripening with prostaglandin E2 
vaginal inserts? Arch Gynecol Obstet, 295(2):343-349. 
12. Maggi C, Mazzoni G, Gerosa V, Fratelli N, et al (2019). Labor 
induction with misoprostol vaginal insert compared with 
dinoprostone vaginal insert. Acta Obstet Gynecol Scand, 
98(10):1268-1273. 
13. Bayoglu TY, Mete Ural U, Kerimoglu, et al (2015). Is induction 
of labour by Propess((R)) safe? A comparison of midwife-led 
versus obstetrician-led labour management. J Obstet Gynaecol, 
35(4):346-349. 
14. D'Aniello G, Bocchi C, Florio P, et al (2003). Cervical ripening 
and induction of labor by prostaglandin E2: a comparison 
between intracervical gel and vaginal pessary. J Matern Fetal 
Neonatal Med, 14(3):158-162. 
15. Jozwiak M, Oude Rengerink K, Eikelder T, et al (2013). Foley 
catheter or prostaglandin E2 inserts for induction of labour at 
term: an open-label randomized controlled trial (PROBAAT-P 
trial) and systematic review of literature. Eur J Obstet Gynecol 
Reprod Biol, 170(1):137-145. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_propess_lam_chin_mui_co_tu_cung_va_khoi_phat_ch.pdf