Hiệu quả của phá thai nội khoa ≤49 ngày vô kinh ở phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi

Đặt vấn đề: Kết hợp giữa mifepristone và misoprostol cho thấy hiệu quả tốt trong việc chấm dứt thai kỳ

trong 3 tháng đầu.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thành công và các biến chứng của phác đồ phá thai nội khoa uống 400 mcg

misoprostol sau khi uống 200 mg mifepristone 36 – 48 giờ trong chấm dứt thai kỳ ≤49 ngày vô kinh ở phụ

nữ có vết mổ lấy thai.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca tiến cứu trên 112 phụ nữ mang

thai ≤49 ngày.

Kết quả: Tỉ lệ tống xuất thai hoàn toàn của phác đồ với tỉ lệ thành công là 93,8%, (KTC95%: 88,4 - 98,2).

Tỉ lệ sẩy thai cộng dồn trong 4 giờ đầu 62,5% và đến 24 giờ là 90,2%. Thời gian ra huyết âm đạo trung bình 7,7

± 2,5 ngày. Đau bụng mức độ vừa chiếm tỉ lệ 63,4% và đau bụng nhiều chiếm 5,4%. Các tác dụng ngoại ý khác:

Sau uống mifepristone: 15,2% buồn nôn, 8,9% nôn, 0,9% tiêu chảy, 5,4% chóng mặt/nhức đầu. Không có

trường hợp nào ớn lạnh/run, sốt và dị ứng. Sau uống misoprostol: 34,8% buồn nôn, 21,4% nôn, 36,6% tiêu

chảy, 27,7% ớn lạnh/run, 17,9% sốt, 8% chóng mặt/nhức đầu và không có trường hợp nào dị ứng. Không có

trường hợp tai biến vỡ tử cung, choáng mất máu, nhiễm trùng trong nghiên cứu.

pdf 8 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của phá thai nội khoa ≤49 ngày vô kinh ở phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của phá thai nội khoa ≤49 ngày vô kinh ở phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi

Hiệu quả của phá thai nội khoa ≤49 ngày vô kinh ở phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 180 
HIỆU QUẢ CỦA PHÁ THAI NỘI KHOA ≤49 NGÀY VÔ KINH 
Ở PHỤ NỮ CÓ VẾT MỔ CŨ LẤY THAI 
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CỦ CHI 
Lê Thị Chuyền1, Nguyễn Hữu Trung2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Kết hợp giữa mifepristone và misoprostol cho thấy hiệu quả tốt trong việc chấm dứt thai kỳ 
trong 3 tháng đầu. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thành công và các biến chứng của phác đồ phá thai nội khoa uống 400 mcg 
misoprostol sau khi uống 200 mg mifepristone 36 – 48 giờ trong chấm dứt thai kỳ ≤49 ngày vô kinh ở phụ 
nữ có vết mổ lấy thai. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca tiến cứu trên 112 phụ nữ mang 
thai ≤49 ngày. 
Kết quả: Tỉ lệ tống xuất thai hoàn toàn của phác đồ với tỉ lệ thành công là 93,8%, (KTC95%: 88,4 - 98,2). 
Tỉ lệ sẩy thai cộng dồn trong 4 giờ đầu 62,5% và đến 24 giờ là 90,2%. Thời gian ra huyết âm đạo trung bình 7,7 
± 2,5 ngày. Đau bụng mức độ vừa chiếm tỉ lệ 63,4% và đau bụng nhiều chiếm 5,4%. Các tác dụng ngoại ý khác: 
Sau uống mifepristone: 15,2% buồn nôn, 8,9% nôn, 0,9% tiêu chảy, 5,4% chóng mặt/nhức đầu. Không có 
trường hợp nào ớn lạnh/run, sốt và dị ứng. Sau uống misoprostol: 34,8% buồn nôn, 21,4% nôn, 36,6% tiêu 
chảy, 27,7% ớn lạnh/run, 17,9% sốt, 8% chóng mặt/nhức đầu và không có trường hợp nào dị ứng. Không có 
trường hợp tai biến vỡ tử cung, choáng mất máu, nhiễm trùng trong nghiên cứu. 
Kết luận: Phá thai nội khoa ở phụ nữ có vết mổ lấy thai ≤49 ngày vô kinh cho thấy đạt được hiệu quả tống 
xuất thai rất cao và tỉ lệ tác dụng ngoại ý không đáng kể. 
Từ khóa: phá thai nội khoa, misoprostol 
ABTRACT 
THE EFFECT OF MEDICAL ABORTION ≤ 49 DAYS OF AMENORRHEA IN WOMEN WITH OLD 
CESAREAN SECTIONS AT CU CHI REGIONAL GENERAL HOSPITAL 
Le Thi Chuyen, Nguyen Huu Trung 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 1 - 2021: 180 - 187 
Background: The combination of mifepristone and misoprostol has be effective in terminating pregnancy in 
the first trimester. 
Objectives: To determine the success rates and complications of oral medical abortion regimen 400 mcg 
misoprostol after oral 200 mg mifepristone 36 - 48 hours in termination of pregnancy ≤ 49 days amenorrhea in 
women with prior cesarean section 
Research method: This study reported a series of prospective studies with a sample size of 112 pregnant 
women ≤ 49 days. 
Results: The rate of complete expulsion of the regimen was 93.8%, (CI: 88.4 - 98.2). The rate of cumulative 
abortion in the first 4 hours is 62.5% and in the first 24 hours is 90.2%. Average time of vaginal bleeding is 7.7 ± 
2.5 days. 63.4% of pregnant women had moderate abdominal pain and had 5.4% had severe abdominal pain. 
1Bệnh viện ĐKKV Củ Chi 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: TS.BS. Nguyễn Hữu Trung ĐT: 0913931988 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 181 
Other adverse effects were nausea (15.2%), vomiting (8.9%), diarrhea (0.9%), dizziness / headache (5.4%) after 
taking mifepristone. There were no chills / tremors, fever or allergies. After taking misoprostol, some adverse 
effects were nausea (34.8%), vomiting (21.4%), diarrhea (36.6%), chills/tremors (27.7%), fever (17.9%), 
dizziness/headache (8%). The study there were no cases of uterine rupture, blood loss and infection. 
Conclude: The medical abortion in women with cesarean section ≤49 days of amenorrhea has to achieve a 
very high expulsion effect and the rate of adverse events is not significant 
Keywords: medical abortion, misoprostol 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trong hai thập niên gần đây, số ca mổ lấy 
thai trên toàn cầu tăng gần gấp đôi ở một số 
nước. Theo AFP năm 2015 có 29,7 triệu ca mổ 
lấy thai trên thế giới, chiếm 21% tổng số ca 
sinh. Tại Việt Nam với sự phát triển kinh tế, 
yếu tố xã hội, nhu cầu của sản phụ ngày càng 
tăng, đồng thời tình hình mổ lấy thai đã được 
áp dụng rộng rãi ở nhiều cơ sở y tế từ tuyến 
huyện trở lên. Nên tỉ lệ mổ lấy thai tăng cao 
trong các năm gần đây, trung bình 40% cho cả 
nước và có nhiều khu vực lên đến 60%(1). 
Các tác giả trong và ngoài nước đã có nhiều 
nghiên cứu về sự kết hợp giữa mifepristone và 
misoprostol cho thấy hiệu quả tốt trong việc 
chấm dứt thai kỳ trong 3 tháng đầu. Phá thai nội 
khoa đã hạn chế những biến chứng do quá trình 
làm thủ thuật gây ra. Hơn nữa, phá thai nội khoa 
có nhiều ưu việt về tính an toàn, kinh tế, dễ bảo 
quản, dễ sử dụng, có thể theo dõi ngoại trú. Nên 
ngày càng có nhiều ứng dụng trong điều trị, kể 
cả trên những phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai(2,3). 
Tại Việt Nam đến nay cũng đã có các 
nghiên cứu về hiệu quả của phá thai nội khoa 
trên thai phụ có vết mổ lấy thai cho kết quả rất 
khả quan. Năm 2010 Lê Thị Giáng Châu thực 
hiện thử nghiệm lâm sàng không nhóm chứng 
xác định tỉ lệ thành công của phác đồ phá thai 
nội khoa ở tuổi thai ≤49 ngày vô kinh trên 170 
phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai tại khoa sản bệnh 
viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng. Tỉ lệ thành công 
90%, không có tai biến vỡ tử cung, choáng mất 
máu, nhiễm trùng(4). 
Tại bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi đã 
triển khai phá thai nội khoa với phác đồ uống 
400 mcg misoprostol sau 36 – 48 giờ uống 
mifepristone đối với thai ≤49 ngày vô kinh trên 
bệnh nhân không có vết mổ cũ từ năm 2011, 
đạt được thành công trên 95%(5). Nhưng đối 
với bệnh nhân có vết mổ cũ thì phương pháp 
phá thai chính vẫn là hút chân không và phá 
thai nội khoa trên bệnh nhân có vết mổ cũ đến 
nay vẫn chưa được áp dụng tại bệnh viện. Vì 
vậy việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiệu 
quả của phá thai nội khoa ≤49 ngày vô kinh ở 
phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai tại bệnh viện Đa 
khoa khu vực Củ Chi” 
Mục tiêu 
Xác định tỉ lệ thành công và các biến chứng 
của phác đồ phá thai nội khoa uống 400 mcg 
misoprostol sau khi uống 200 mg mifepristone 
36 – 48 giờ trong chấm dứt thai kỳ ≤ 49 ngày vô 
kinh ở phụ nữ có vết mổ lấy thai tại khoa sản 
bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Những phụ nữ có vết mổ cũ lấy thai, hiện 
đang mang thai ngoài ý muốn với tuổi thai ≤49 
ngày vô kinh, có nguyện vọng chấm dứt thai kỳ 
bằng phá thai nội khoa, đến khám và điều trị tại 
bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi Thành phố 
Hồ Chí Minh (TP. HCM) trong thời gian từ 
15/11/2019 đến 15/06/2020. 
Tiêu chuẩn chọn mẫu 
Các phụ nữ có thai trong tử cung với tuổi 
thai ≤49 ngày vô kinh. 
Có tiền sử mổ lấy thai theo phương pháp 
ngang đoạn dưới tử cung. 
Tình trạng sức khỏe tốt. 
Địa chỉ nơi ở cách cơ sở y tế gần nhất không 
quá 60 phút đường xe để có thể được xử trí kịp 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 182 
thời nếu ra huyết âm đạo nhiều. 
Đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Tuân thủ điều trị, bằng lòng tái khám theo 
yêu cầu. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Rối loạn đông máu hoặc đang điều trị thuốc 
kháng đông. 
Suy tuyến thượng thận mạn tính. 
Đang điều trị corticoid toàn thân kéo dài. 
Tăng huyết áp, hẹp van 2 lá, tắc mạch hay có 
tiền sử tắc mạch. 
Nghi ngờ thai ngoài tử cung hoặc khối cạnh 
tử cung chưa rõ nguyên nhân. 
Tiền căn có dị ứng với mifepristone hoặc 
misoprostol. 
Bất kỳ bệnh nhân với bệnh lý toàn thân 
nghiêm trọng: thiếu máu nặng, bệnh gan nặng, 
suy thận, rối loạn tâm thần không kiểm soát. 
Đang viêm nhiễm đường sinh dục cấp tính. 
Đã mổ lấy thai theo phương pháp dọc thân 
tử cung. 
Có biến chứng nhiễm trùng tử cung sau mổ 
lấy thai. 
Đã mổ lấy thai >2 lần. 
Có phẫu thuật ở thân tử cung: bóc u xơ tử cung. 
Siêu âm thấy túi thai làm tổ ở đoạn eo tử 
cung nghi ngờ là thai tại sẹo mổ lấy thai hay 
nhau cài răng lược giai đoạn sớm. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu báo cáo loạt ca tiến cứu 
Phương pháp chọn mẫu 
Chọn mẫu toàn bộ, tuần tự theo thời gian tất 
cả các thai phụ đến khám tại khoa Sản bệnh viện 
Đa khoa Củ Chi. 
Phương pháp thực hiện 
Phá thai nội khoa thất bại khi phải can 
thiệp thủ thuật nạo hút buồng tử cung do một 
trong các tình huống sau xảy ra trong suốt thời 
gian nghiên cứu: 
Thai phụ ra huyết âm đạo quá nhiều ảnh 
hưởng tổng trạng phải chuyển sang hút thai 
cầm máu. 
Tái khám lần 1 (sau 7 ngày): 
- Kết quả siêu âm thai tiếp tục phát triển 
hoặc thai lưu phải hút thai. 
- Lâm sàng thai phụ đau bụng và ra huyết 
âm đạo kéo dài, khám âm đạo tử cung còn to 
và cổ tử cung hở, kết hợp siêu âm có hình ảnh 
khối phản âm hỗn hợp cần chuyển sang hút 
kiểm tra lòng tử cung. 
Tái khám lần 2: siêu âm vẫn còn khối phản 
âm hỗn hợp, hút kiểm tra lòng tử cung. 
- Có tai biến cần nhập viện xử trí: vỡ tử cung, 
ra huyết âm đạo nhiều cần truyền máu, nhiễm 
trùng tử cung. 
- Thai phụ đổi ý chuyển sang hút thai không 
đồng ý tiếp tục tham gia nghiên cứu. 
Biến số trong nghiên cứu 
Phá thai nội khoa thành công được định 
nghĩa khi sẩy thai trọn, thai được tống xuất khỏi 
buồng tử cung hoàn toàn mà không cần phải can 
thiệp bằng thủ thuật cho đến lúc kết thúc quá 
trình theo dõi qua khám lâm sàng và siêu âm(6). 
Thời gian xảy thai: Trước khi uống 
misoprostol; ≤4 giờ; >4 giờ đến ≤24 giờ; >24 giờ 
đến ≤48 giờ; >7 ngày đến ≤ 14 ngày. 
Kết quả siêu âm: bình thường, ứ dịch lòng tử 
cung, nội mạc tử cung dày, có khối phản âm, 
hỗn hợp, thai lưu, thai sống, tiếp tục phát triển. 
Hiệu quả phác đồ: Sẩy thai trọn, sót nhau, 
thai lưu, thai tiếp tục phát triển. 
Tác dụng phụ của phác đồ: ra huyết, đau 
bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, ớn lạnh/run 
Sốt, chóng mặt / nhức đầu, dị ứng. 
Phương pháp quản lý và xử lý số liệu 
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng 
phần mềm SPSS 20.0 được sử dụng để phân 
tích thống kê. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 579/ĐHYD-HĐĐĐ. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 183 
KẾT QUẢ 
Từ ngày 15/11/2019 đến 15/06/2020, chúng 
tôi thu nhận được 112 thai phụ thỏa tiêu chuẩn 
tham gia nghiên cứu. 
Đặc điểm phá thai nội khoa bằng misoprostol 
Bảng 1: Tỉ lệ sẩy thai theo thời gian (n = 112) 
Thời gian Tần suất Tỉ lệ (%) 
Cộng 
dồn (%) 
Trước khi uống misoprostol 
Sau khi uống misoprostol 
≤ 4 giờ 
> 4 giờ đến ≤ 24 giờ 
> 24 giờ đến ≤ 48 giờ 
> 48 giờ đến ≤ 7 ngày 
> 7 ngày đến ≤ 14 ngày 
Không nhớ rõ (không biết) 
Không sẩy thai 
9 
61 
31 
6 
1 
0 
3 
1 
8 
54,5 
27,7 
5,3 
0,9 
0 
2,7 
0,9 
8 
62,5 
90,2 
95,5 
96,4 
96,4 
99,1 
100 
Có 9 trường hợp đã sẩy thai sau khi uống 
mifepristone đến trước khi uống misoprostol 
chiếm tỉ lệ 8%. Đa số các trường hợp sẩy thai 
trong vòng 4 giờ đầu sau khi uống misoprostol 
chiếm tỉ lệ 54,5%. 
Có 3 trường hợp không nhớ rõ có sẩy thai 
hay chưa tỉ lệ 2,7%, những trường hợp này 
xem như chưa sẩy thai. Nên tỉ lệ chưa sẩy thai 
chiếm 3,6%. 
Bảng 2: Kết quả siêu âm khám lần 1 sau uống 
misoprostol (n = 112) 
Kết quả siêu âm Tần suất Tỉ lệ (%) 
Bình thường 
Ứ dịch lòng tử cung 
Nội mạc tử cung dày 
Có khối phản âm hỗn hợp 
Thai lưu 
Thai sống, tiếp tục phát triển 
93 
2 
6 
7 
3 
1 
83 
1,8 
5,4 
6,2 
2,7 
0,9 
Ở lần tái khám 1 sau uống misoprostol, kết 
quả siêu âm bình thường chiếm tỉ lệ cao 83%. Ứ 
dịch lòng tử cung 1,8%, nội mạc tử cung dày 5,4%, 
có khối phản âm hỗn hợp 6,2%, thai lưu 2,7% và có 
1 trường hợp thai tiếp tục phát triển 0,9%. 
Có 19 trường hợp tái khám lần 2 sau uống 
misoprostol, có 15 trường hợp siêu âm bình 
thường chiếm tỉ lệ 78,9% và 4 trường hợp ứ dịch 
lòng tử cung chiếm tỉ lệ 21,1%. 
Hiệu quả của phác đồ nghiên cứu 
Có 105 trường hợp sẩy thai trọn với phác đồ 
phá thai nội khoa này với tỉ lệ thành công là 
93,8%, khoảng tin cậy 95%: 88,4% đến 98,2%. 
Thất bại có 7 trường hợp chiếm tỉ lệ 6,2% bao 
gồm: 4 trường hợp sót nhau, 2 trường hợp thai 
lưu và 1 trường hợp thai tiếp tục phát triển. 
Hình 1: Hiệu quả của phác đồ phá thai nội khoa 
(n=112) 
Các tác dụng phụ của phác đồ phá thai nội 
khoa 
Bảng 3: Đặc điểm ra huyết âm đạo (n = 112) 
Tính chất Tần suất Tỉ lệ (%) 
Thời điểm bắt đầu ra huyết 
Sau uống mifepristone 
Sau uống misoprostol 
Không ra huyết 
19 
92 
1 
17 
82,1 
0,9 
Mức độ ra huyết 
Không ra huyết 
Ít hơn kinh nguyệt 
Giống như kinh nguyệt 
Nhiều hơn kinh nguyệt 
1 
11 
69 
31 
0,9 
9,8 
61,6 
27,7 
Thời gian ra huyết 
≤7 ngày 
>7 ngày đến ≤14 ngày 
>14 ngày đến ≤21 ngày 
>21 ngày 
60 
51 
1 
0 
53,6 
45,5 
0,9 
0 
Đa số thai phụ ra huyết âm đạo sau uống 
misoprostol chiếm tỉ lệ 82,1%, chỉ có 17% trường 
hợp ra huyết âm đạo sau uống mifepristone và 1 
trường hợp không ra huyết âm đạo. 
Phần lớn mức độ ra huyết âm đạo giống như 
kinh chiếm tỉ lệ 61,6%. 
Thời gian ra huyết âm đạo kéo dài trung 
bình 7,7 ± 2,5 ngày, ngắn nhất là 4 ngày và dài 
nhất là 17 ngày. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 184 
Hình 2: Mức độ đau bụng sau khi uống misoprostol 
(n = 112) 
Về cảm giác đau bụng của thai phụ sau khi 
uống misoprostol, đa số (76%) các thai phụ có 
cảm giác đau bụng ở mức độ vừa đến nhiều. 
Bảng 4: Các tác dụng phụ sau uống mifepristone và 
misoprostol (n = 112) 
Tác dụng phụ 
Sau uống 
mifepristone 
Sau uống 
misoprostol 
Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỉ lệ (%) 
Buồn nôn 
Nôn 
Tiêu chảy 
Ớn lạnh/run 
Sốt 
Chóng mặt/nhức 
đầu 
Dị ứng 
17 
10 
1 
0 
0 
6 
0 
15,2 
8,9 
0,9 
0 
0 
5,4 
0 
39 
24 
41 
31 
20 
9 
0 
34,8 
21,4 
36,6 
27,7 
17,9 
8 
0 
Sau uống mifepristone: 15,2% buồn nôn, 
8,9% nôn, 0,9% tiêu chảy, 5,4% chóng 
mặt/nhức đầu. Không có trường hợp nào ớn 
lạnh/run, sốt và dị ứng. 
Sau uống misoprostol: 34,8% buồn nôn, 
21,4% nôn, 36,6% tiêu chảy, 27,7% ớn lạnh/run, 
17,9% sốt, 8% chóng mặt/nhức đầu và không có 
trường hợp nào dị ứng. 
BÀN LUẬN 
Tỉ lệ tống xuất thai hoàn toàn của mẫu 
nghiên cứu là 93,8%, khoảng tin cậy 95%: 88,4% 
đến 98,2%. Với hiệu quả này cho thấy phác đồ 
rất khả thi, có thể tránh được 93,8% việc can 
thiệp thủ thuật ngoại khoa vào buồng tử cung 
trên bệnh nhân có vết mổ lấy thai nguy hiểm và 
mang lại ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe sinh 
sản của người phụ nữ. 
Những nghiên cứu của tác giả nước ngoài 
đạt được tỉ lệ thành công rất cao như nghiên cứu 
của Xu J thực hiện trên 35 thai phụ chỉ chọn mổ 
lấy thai 1 lần với tuổi thai ≤49 ngày vô kinh, 
dùng 150 mg mifepristone chia ra uống trong 3 
ngày và 600 mcg misoprostol vào ngày thứ 4, tỉ 
lệ thành công 94,29%(7). Nghiên cứu của Gao P 
(1999) ở 213 thai phụ có tiền căn đã mổ lấy thai ở 
tuổi thai <70 ngày vô kinh, cho uống 150 mg 
mifepristone và sau đó uống 600 mcg 
misoprostol vào ngày thứ 3, có tỉ lệ thành công là 
92,5%, thấp hơn tỉ lệ sẩy thai trọn trong đề tài 
của chúng tôi 93,6%(8). 
Nghiên cứu của Gautam R. thực hiện trên 66 
thai phụ có vết mổ lấy thai 1 hay 2 lần, ở tuổi 
thai ≤60 ngày vô kinh, với phác đồ 50 mg 
methotrexate tiêm bắp ở ngày 1 và đặt âm đạo 
800 mcg misoprostol ở ngày 2 – 3, lặp lại liều thứ 
2 400 mcg (uống hoặc đặt âm đạo) có tỉ lệ thành 
công là 87,9%. Tuy nhiên, nghiên cứu dùng phác 
đồ phối hợp giữa methotrexate và misoprostol 
khác với nghiên cứu của chúng tôi(9). Tác giả 
Chen BA so sánh hiệu quả của phá thai nội khoa 
giữa có vết mổ cũ và không có vết mổ cũ với 
phác đồ chỉ dùng 800 mcg misoprostol đặt âm 
đạo và lặp lại liều thứ 2 sau 3 ngày. Mẫu có 652 
ca trong đó có 78 ca có vết mổ cũ. Kết quả 
nghiên cứu tác giả ghi nhận tỉ lệ thành công 
chung là 82,1% và không có sự khác biệt về hiệu 
quả, tính an toàn và tác dụng phụ giữa 2 
nhóm(10). 
Đối với một số nghiên cứu trong nước, mẫu 
nghiên cứu của chúng tôi có kết quả cao hơn 
nghiên cứu của Lê Thị Giáng Châu đạt hiệu quả 
90%(4), của Hoàng Thị Diễm Tuyết đạt hiệu quả 
87,6%(11) được áp dụng trên cùng đối tượng có 
vết mổ lấy thai với tuổi thai ≤49 ngày vô kinh. 
Tương đương với kết quả của Nguyễn Thị Kiều 
Loan trên thai có vết mổ cũ từ 50 – 63 ngày vô 
kinh có tỉ lệ thành công 93,6%(12). Trong nước 
cũng có những nghiên cứu trên đối tượng không 
có vết mổ cũ như nghiên cứu của Nguyễn Bạch 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 185 
Tuyết dùng trên thai ≤49 ngày vô kinh tỉ lệ thành 
công rất cao 98,7% và của Tô Hoài Thư trên thai 
50 – 63 ngày vô kinh tỉ lệ thành công 97,2%(12,13). 
Sở dĩ có sự khác biệt về hiệu quả tống xuất 
thai hoàn toàn của nghiên cứu chúng tôi với các 
tác giả khác là do sự khác biệt về thiết kế nghiên 
cứu, tuổi thai, liều sử dụng và đường dùng 
thuốc. Theo nghiên cứu dược động học của Tang 
OS (2002) và Aronson A (2007), so sánh các 
đường sử dụng thuốc misoprostol, ghi nhận liều 
lượng và thời gian lặp lại ở mỗi đường dùng 
trong nghiên cứu rất quan trọng vì các yếu tố 
này quyết định nồng độ đỉnh cũng như nồng độ 
duy trì của misoprostol trong suốt tiến trình tống 
xuất thai và sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ thành công 
của phác đồ(9). Khi sử dụng misoprostol đường 
uống nó sẽ được hấp thu nhanh và gần như 
hoàn toàn trong đường tiêu hóa, nồng độ thuốc 
trong huyết thanh đạt đỉnh sau 30 phút. Đường 
ngậm cạnh má thời gian đạt nồng độ đỉnh như 
đường âm đạo. Đường âm đạo có tác dụng sinh 
học mạnh và duy trì đến 6 giờ sau khi đặt thuốc. 
Tuy nhiên đường âm đạo không được tiện lợi và 
có thể bị ảnh hưởng do lượng máu và dịch chảy 
ra từ cổ tử cung, do đó làm thuốc chảy bớt ra 
ngoài theo dịch và máu. Do vậy, mẫu nghiên 
cứu này đã chọn đường uống và chỉ dùng 
misoprostol 1 liều 400 mcg. Với các liều trong 
nghiên cứu hiện nay ở đường uống có thể là 400 
mcg đến 600 mcg. Nhưng đây là nghiên cứu 
khởi đầu và trên thai ≤49 ngày vô kinh có vết mổ 
cũ, nên chúng tôi chọn 1 liều 400 mcg theo 
khuyến cáo của bộ y tế 2016(14). Mục đích chọn 
phác đồ này là nhằm duy trì nồng độ đỉnh của 
misoprostol không quá cao trong suốt tiến trình 
tống xuất thai, đồng thời hi vọng hạn chế tác 
dụng phụ của thuốc trên bệnh nhân. 
Thời gian ra huyết âm đạo 
Thời gian ra huyết âm đạo của phác đồ kéo 
dài trung bình 7,7 ± 2,5 ngày, đa số ra huyết 
nhiều quanh thời điểm tống xuất thai, sau đó ít 
dần và không khác so với một chu kỳ kinh bình 
thường (thời gian hành kinh từ 3 – 7 ngày), ra 
huyết âm đạo ngắn nhất là 4 ngày, dài nhất là 17 
ngày. Các trường hợp ra huyết âm đạo trên 7 
ngày sẽ được tư vấn cách theo dõi tại nhà và hẹn 
tái khám tiếp theo sau 1 tuần, số thai phụ này đa 
số ổn không cần điều trị thêm. 
Ngắn hơn so với nghiên cứu của Tô Hoài 
Thư (2012) trong phá thai nội khoa ở thai sống 
với tuổi thai từ 50 đến 63 ngày vô kinh, có thời 
gian ra huyết âm đạo trung bình là 11,5 ± 4,7 
ngày, ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 33 ngày(12). 
Và nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Loan phá 
thai trên vết mổ cũ có tuổi thai 50 đến 63 ngày vô 
kinh có thời gian ra huyết trung bình 12 ± 6 
ngày, ngắn nhất là 6 ngày, dài nhất là 30 ngày(15). 
So sánh trên cho thấy thời gian ra huyết âm đạo 
của phác đồ chúng tôi đối với các nghiên cứu, sự 
khác biệt có thể do không hoàn toàn giống nhau 
về tuổi thai, tình trạng thai, liều lượng và đường 
sử dụng thuốc. 
Mức độ ra huyết âm đạo 
Mức độ ra kinh hàng tháng, mẫu nghiên cứu 
ghi nhận mức độ ra huyết giống kinh chiếm tỉ lệ 
cao nhất 61,6%, ra huyết ở mức độ nhiều hơn 
kinh chiếm 27,7%, ra huyết ít hơn kinh tỉ lệ 9,8% 
và có 1 trường hợp không ra huyết âm đạo. 
Thường thì ra huyết âm đạo nhiều hoặc vừa 
thường tập trung giai đoạn tống xuất thai, sau 
khi thai sẩy trọn thì mức độ ra huyết sẽ ít dần. 
Còn các trường hợp ra huyết ít hơn kinh hoặc 
không ra thường liên quan đến việc sẩy thai 
không trọn còn phản âm hỗn hợp lòng tử cung. 
Cụ thể ra huyết ít hơn kinh trong mẫu nghiên 
cứu có 4 trường hợp sót nhau, 2 trường hợp thai 
lưu, 1 trường hợp không ra huyết là thai vẫn 
phát triển và không có trường hợp nào ra huyết 
nhiều hay băng huyết phải truyền máu. Kết quả 
mức độ ra huyết của mẫu nghiên cứu gần giống 
với nghiên cứu của Tô Hoài Thư ra huyết giống 
kinh chiếm tỉ lệ cao nhất 51,4%, ra huyết nhiều 
hơn kinh chiếm 40,3% và 8,3% ra huyết ít hơn 
kinh(12). 
Nhưng so với nghiên cứu của Lê Thị Giáng 
Châu có mức độ ra huyết nhiều hơn kinh 
45,3%, rất nhiều hơn kinh 23,5% khi tống xuất 
thai(4), nghiên cứu của Nguyễn Thị Kiều Loan 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 186 
ra huyết âm đạo nhiều hơn kinh chiếm tỉ lệ 
74,5%, ra huyết âm đạo rất nhiều hơn kinh 
chiếm 12,8%(15). Sự khác biệt này có thể do tiêu 
chuẩn đánh giá còn mang tính chủ quan cảm 
tính, chỉ so sánh lượng máu mất với chu kỳ 
kinh nguyệt hàng tháng nên rất khó để đưa ra 
kết luận chính xác được. 
Mức độ đau bụng 
Mẫu nghiên cứu sau khi dùng thuốc đa số 
thai phụ đều có đau bụng. Đau ở mức độ nhiều 
chiếm tỉ lệ 5,4%, mức độ vừa 63,4%, mức độ ít 
25% và không đau bụng chiếm 6,2%, trong đó 
cần dùng thuốc giảm đau 58,6%. So với trong 
nghiên cứu của Lê Thị Giáng Châu có đau bụng 
rất nhiều và đau nhiều là 19,4%, đau bụng vừa tỉ 
lệ 25,9%, đau ít và rất ít chiếm 22,9%, chỉ có 
14,9% là cần dùng thuốc giảm đau. Có sự khác 
biệt về tỉ lệ đau nhiều và đau vừa giữa 2 nghiên 
cứu, nhưng nghiên cứu của Lê Thị Giáng Châu 
có tỉ lệ dùng thuốc thấp hơn. Điều này có khả 
năng do tác giả Lê Thị Giáng Châu đã có khâu tư 
vấn khá tốt, giúp đối tượng tham gia yên tâm, 
sẵn sàng vượt qua cảm giác đau mà không cần 
dùng thuốc giảm đau, đây cũng là vấn đề cần 
được chú ý quan tâm rút kinh nghiệm cho các 
nghiên cứu sau này. 
Các tác dụng phụ của phác đồ 
Tác dụng phụ của phác đồ là bao gồm tác 
dụng của thuốc mifepristone và misoprostol. Đối 
với mifepristone thì đường dùng thường là uống 
200 mg, còn với misoprostol tùy thuộc vào 
đường dùng và liều dùng thì tỉ lệ tác dụng phụ 
có thể khác nhau. Điều quan trọng là nhóm 
nghiên cứu phải cung cấp đầy đủ thông tin về 
các dấu hiệu tác dụng phụ cho đối tượng tham 
gia nghiên cứu hiểu và nắm rõ để họ có thể vượt 
qua các triệu chứng dễ dàng mà không cần đến 
thuốc hổ trợ. 
Các tác dụng phụ của mifepristone 
Sau uống mifepristone tỉ lệ tác dụng phụ 
chiếm 15,2% buồn nôn, 8,9% nôn, 0,9% tiêu chảy, 
5,4% chóng mặt/nhức đầu. Không có trường hợp 
nào ớn lạnh/run, sốt và dị ứng. Các dấu hiệu 
trên rất giống với triệu chứng của nghén 3 tháng 
đầu, nên đôi lúc không thể phân biệt được là do 
tác dụng phụ của thuốc hay do thai nghén. 
Nhưng thường là triệu chứng thoáng qua và gần 
như không có trường hợp nào cần phải dùng 
thuốc trong giai đoạn này. Giống như nghiên 
cứu của Lê Thị Giáng Châu có tỉ lệ mệt mỏi 
20,6%, buồn nôn 19,4%, chóng mặt 13,5% và 
cũng không có trường hợp nào cần đến thuốc 
điều trị(4). 
Các tác dụng phụ của misoprostol 
Nghiên cứu tỉ lệ tác dụng phụ gồm 34,8% 
buồn nôn, 21,4% nôn, 36,6% tiêu chảy, 27,7% ớn 
lạnh/run, 17,9% sốt, 8% chóng mặt/nhức đầu và 
không có trường hợp nào dị ứng. Đa số tác dụng 
phụ tập trung trong 4 giờ đầu dùng misoprostol 
và ít hơn trong các giờ sau, tuy nhiên không có 
trường hợp nào phải ngưng phác đồ. So với 
nghiên cứu của Hoàng Thị Diễm Tuyết tỉ lệ tác 
dụng phụ buồn nôn – nôn (7%), tiêu chảy (3,2%), 
sốt/run (0,6%)(11) và của Lê Thị Giáng Châu tỉ lệ 
tác dụng phụ buồn nôn – nôn 18,8%, tiêu chảy 
4,1%, sốt/run 0,6%(4). Về can thiệp điều trị bằng 
thuốc thì thuốc giảm đau chiếm 51,8%, còn tiêu 
chảy, buồn nôn thì tự cải thiện không trường 
hợp nào dùng thuốc và cũng không có trường 
hợp nào truyền dịch. 
Qua so sánh trên cho thấy tỉ lệ tác dụng phụ 
của mẫu nghiên cứu chúng tôi phù hợp với các 
tác giả khác, nhưng để đánh giá chính xác hơn 
thì đòi hỏi một nghiên cứu có cỡ mẫu lớn và cần 
khoảng thời gian dài hơn. Còn về biến chứng thì 
không có trường hợp nào bị băng huyết hay 
nhiễm trùng, vì chúng tôi đã chọn tiêu chuẩn 
điều trị, theo dõi sẩy thai tại phòng khám trong 4 
giờ đầu uống misoprostol. Nên việc theo dõi sát 
tổng trạng, sinh hiệu thai phụ phần nào đã hạn 
chế được các biến chứng trên và phác đồ chỉ 
thực hiện ở tuổi thai ≤49 ngày vô kinh. 
Phá thai nội khoa ≤49 ngày vô kinh ở phụ nữ 
có vết mổ cũ lấy thai là một phương pháp điều 
trị nội khoa, lần đầu tiên được thực hiện tại bệnh 
viện đa khoa khu vực Củ Chi với tỉ lệ thành 
công khá cao. Điều này cho thấy phương pháp 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 
Chuyên Đề Sản Phụ Khoa 187 
chấm dứt thai ≤49 ngày vô kinh ở phụ nữ có vết 
mổ cũ lấy thai bằng nội khoa đã có thể thay thế 
dần cho thủ thuật ngoại khoa vốn có nhiều tai 
biến, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của 
người phụ nữ mà khoa sản của bệnh viện vẫn 
đang áp dụng từ trước đến nay. Phác đồ nghiên 
cứu có nhiều ưu điểm vì mang tính kinh tế, thiết 
thực, dễ thực hiện, khá an toàn, ít tác dụng phụ, 
không xâm lấn và hiệu quả điều trị cao nên cần 
được triển khai tại các tuyến y tế như bệnh viện 
Đa khoa khu vực Củ Chi. 
Tuy nhiên, do đây là nghiên cứu bước đầu 
nên tiêu chuẩn chọn mẫu còn bị hạn chế chỉ 
thực hiện đối với tuổi thai ≤49 ngày vô kinh. 
Trong thực tế, đa số các trường hợp do thai 
phụ không nhớ ngày kinh cuối hay kinh 
nguyệt không đều, thường đến khám trễ nên 
tuổi thai vượt quá tiêu chuẩn chọn mẫu và 
được đưa ra khỏi nghiên cứu. Trong những 
nghiên cứu trong tương lai có thể thực hiện ở 
những đối tượng có tuổi thai lớn hơn. 
KẾT LUẬN 
Tỉ lệ tống xuất thai hoàn toàn của phác đồ 
với tỉ lệ thành công là 93,8%, (KTC95%: 88,4 - 
98,2). Tỉ lệ sẩy thai cộng dồn trong 4 giờ đầu 
62,5% và đến 24 giờ là 90,2%. Thời gian ra huyết 
âm đạo trung bình 7,7 ± 2,5 ngày. Đau bụng mức 
độ vừa chiếm tỉ lệ 63,4% và đau bụng nhiều 
chiếm 5,4%. Các tác dụng ngoại ý khác: Sau 
uống mifepristone: 15,2% buồn nôn, 8,9% nôn, 
0,9% tiêu chảy, 5,4% chóng mặt/nhức đầu. 
Không có trường hợp nào ớn lạnh/run, sốt và dị 
ứng. Sau uống misoprostol: 34,8% buồn nôn, 
21,4% nôn, 36,6% tiêu chảy, 27,7% ớn lạnh/run, 
17,9% sốt, 8% chóng mặt/nhức đầu và không có 
trường hợp nào dị ứng. Không có trường hợp tai 
biến vỡ tử cung, choáng mất máu, nhiễm trùng 
trong nghiên cứu. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Minh Nguyên (2018). 'Đại dịch' đẻ mổ trên thế giới, URL: 
https://vnexpress.net/suc-khoe/dai-dich-de-mo-tren-the-gioi-
3824004. html truy cập ngày 01/01/2020. 
2. Nathalie K, Elisabeth E, Antonella L, et al (2019). Medical 
abortion in the late first trimester: a systematic review. 
Contraception, 99(2):77-86. 
3. Song LP, Tang SY, Li CL, et al (2018). Early medical abortion 
with self-administered low-dose mifepristone in combination 
with misoprostol. Obstetrics and Gynaecology Research, 44(9):1705-
1711. 
4. Lê Thị Giáng Châu (2010). Hiệu quả của Mifepristone và 
Misoprostol trong chấm dứt thai kỳ dưới 49 ngày vô kinh ở phụ 
nữ có vết mổ cũ lấy thai. Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Y 
Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 
5. Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi (2011,2017,2018,2019). Báo 
cáo tổng kết cuối năm khoa sản BV ĐKKV Củ Chi, thành phố 
Hồ Chí Minh. 
6. World Health Organization (2014). Clinical practice hanbook for 
Safe abortion, WHO Press - Switzerland. 
7. Gao P, Wang P (1999). Clinical observation on termination of 
early pregnancy of 213 cases after caesarian section with 
repeated use of mifepristone and misoprostol. Reprod Contracept, 
10(4):227-233. 
8. Xu J (2001). Termination of early pregnancy in the scarred 
uterus with mifepristone and misoprostol. J Repro Med, 
72(3):245-251. 
9. Gautam R, Agrawal V (2003). Early medical termination 
pregnancy with methotrexate and misoprostol in lower segment 
cesarean section cases. NIH, 29(4):251-256. 
10. Chen B (2008). Misoprostol for treatment of early pregnancy 
failure in women with previous uterine surgery. NIH, 
198(6):626.e1-e5. 
11. Hoàng Thị Diễm Tuyết (2008). Đánh giá hiệu quả của phá thai 
nội khoa ở bệnh nhân có vết mổ cũ lấy thai. Y học Thành phố Hồ 
Chí Minh, 12(2):17-23. 
12. Tô Hoài Thư (2012). Hiệu quả của Misoprostol đặt dưới lưỡi sau 
khi uống Miferristone trong chấm dứt thai kỳ từ 50 đến hết 63 
ngày vô kinh tại bệnh viện Từ Dũ. Luận văn Thạc sĩ, trường Đại 
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 
13. Nguyễn Bạch Tuyết (2006). Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ 
của Mifepristone - Misoprostol trong phá thai nội khoa. Luận 
văn Tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí 
Minh. 
14. Bộ Y Tế (2009,2016). Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm 
sóc sức khỏe sinh sản, Hà Nội. 
15. Nguyễn Thị Kiều Loan (2013). Hiệu quả phá thai nội khoa trong 
chấm dứt thai kỳ từ 50 đến 63 ngày vô kinh ở phụ nữ có vết mổ 
cũ lấy thai tại bệnh viện Từ Dũ. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại 
học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 06/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_pha_thai_noi_khoa_49_ngay_vo_kinh_o_phu_nu_co_v.pdf