Hiệu quả của môi trường nuôi cấy phôi có bổ sung GM-CSF ở những trường hợp thất bại làm tổ liên tiếp trong hỗ trợ sinh sản

mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của môi

trường nuôi cấy phôi có bổ sung GM – CSF ở

những trường hợp thất bại làm tổ liên tiếp.

phương pháp: Báo cáo loạt ca các trường

hợp nuôi cấy phôi đến ngày 2 bằng môi

trường có bổ sung GM-CSF. Đánh giá hiệu quả

của việc sử dụng môi trường này dựa trên tỉ lệ

làm tổ của phôi, tỉ lệ thai lâm sàng. Đề tài do

CGRH, Khoa Y Đại học Quốc gia TPHCM thực

hiện và số liệu được thu thập tại đơn vị IVFAS,

Bệnh viện An Sinh.

Kết quả: 41 cặp vợ chồng vô sinh do thất

bại làm tổ liên tiếp được điều trị TTTON và

được sử dụng môi trường có bổ sung GM

– CSF để nuôi cấy phôi. Tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ

phôi tốt, tỉ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ làm tổ

ghi nhận được lần lượt là 77,6%; 23,8%;

36,6%; 13,3%.

Kết luận: Việc sử dụng môi trường nuôi cấy

có bổ sung GM – CSF để nuôi cấy phôi giúp

làm tăng tỉ lệ thành công ở những trường hợp

thất bại làm tổ liên tiếp

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của môi trường nuôi cấy phôi có bổ sung GM-CSF ở những trường hợp thất bại làm tổ liên tiếp trong hỗ trợ sinh sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của môi trường nuôi cấy phôi có bổ sung GM-CSF ở những trường hợp thất bại làm tổ liên tiếp trong hỗ trợ sinh sản

Hiệu quả của môi trường nuôi cấy phôi có bổ sung GM-CSF ở những trường hợp thất bại làm tổ liên tiếp trong hỗ trợ sinh sản
huỳNh gia Bảo, NguyễN Thị Thu LaN, ĐặNg QuaNg ViNhnghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
88
HIỆU QUẢ CỦA MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤy PHÔI 
CÓ BỔ SUNG GM – CSF Ở NHỮNG TRƯỜNG HợP 
THẤT BẠI LÀM TỔ LIÊN TIẾP TRONG HỖ TRợ SINH SẢN
huỳnh gia Bảo(1),(2), Nguyễn Thị Thu Lan(1),(2), Đặng Quang Vinh(2)
(1) IVFAS, Bệnh viện An Sinh; (2) Trung tâm Nghiên cứu Di truyền & Sức khỏe Sinh sản (CGRH) – Khoa Y ĐHQG- TP.HCM
tóm tắt
mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của môi 
trường nuôi cấy phôi có bổ sung GM – CSF ở 
những trường hợp thất bại làm tổ liên tiếp.
phương pháp: Báo cáo loạt ca các trường 
hợp nuôi cấy phôi đến ngày 2 bằng môi 
trường có bổ sung GM-CSF. Đánh giá hiệu quả 
của việc sử dụng môi trường này dựa trên tỉ lệ 
làm tổ của phôi, tỉ lệ thai lâm sàng. Đề tài do 
CGRH, Khoa Y Đại học Quốc gia TPHCM thực 
hiện và số liệu được thu thập tại đơn vị IVFAS, 
Bệnh viện An Sinh. 
Kết quả: 41 cặp vợ chồng vô sinh do thất 
bại làm tổ liên tiếp được điều trị TTTON và 
được sử dụng môi trường có bổ sung GM 
– CSF để nuôi cấy phôi. Tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ 
phôi tốt, tỉ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ làm tổ 
ghi nhận được lần lượt là 77,6%; 23,8%; 
36,6%; 13,3%.
Kết luận: Việc sử dụng môi trường nuôi cấy 
có bổ sung GM – CSF để nuôi cấy phôi giúp 
làm tăng tỉ lệ thành công ở những trường hợp 
thất bại làm tổ liên tiếp.
abStract
EFFiciEncy oF mEdium WitH gm – csF on 
REpEatEd impLantation FaiLuRE in assistEd 
REpRoduction
objectives: To evaluate the efficiency 
of medium with GM – CSF on repeated 
implantation failure (RIF).
methods: This was a case series report 
on ICSI cycles using medium with GM – CSF 
growth factor for day-2 embryo culture on 
the rates of clinical pregnancy rate (CPR) 
and implantation (IR) were used as main 
outcomes. This study was conducted by 
CGRH, School of Medicine, Vietnam National 
University HCMC. Data was collected at 
IVFAS, An Sinh Hospital. 
results: 41 ISCI cycles using culture 
medium with GM – CSF growth factor for 
embryo culture., The fertilization rate, the 
good embryo rate, the clinical pregnancy 
rate and the implantation rate respectively 
were 77.6%, 23.8%, 36.6% and13.3% .
conclusions: The culture medium with GM 
– CSF increased the successful rate of repeated 
pregnancy failure cases. 
ĐẶt vấn Đề
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) 
được xem là phương pháp điều trị mang 
lại tỉ lệ thành công cao nhất cho các trường 
hợp hiếm muộn – vô sinh. Tuy nhiên, không 
phải tất cả các phôi được tạo ra bằng TTTON 
đều có khả năng làm tổ sau khi chuyển vào 
buồng tử cung. Người ta ước tính có khoảng 
30% phôi sau khi hình thành bị ngưng phát 
triển trước giai đoạn làm tổ, 30% bị mất sau 
khi đã bám và làm tổ vào niêm mạc tử cung 
nhưng trước khi phát hiện được thai trên 
siêu âm (thai sinh hóa) và 10% bị hư thai sau 
khi đã có phôi tim thai trên siêu âm [1]. 
Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều phát kiến, 
cải tiến đã được ứng dụng nhằm nâng cao 
hiệu quả thành công của một chu kỳ TTTON. 
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trường hợp bệnh 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
89
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 88-93, 2013
nhân vẫn không thành công sau nhiều 
lần chuyển phôi. Những trường hợp này 
thường được biết đến với chẩn đoán thất 
bại làm tổ liên tiếp (recurrent implantation 
failure - RIF). Bên cạnh việc làm ảnh hưởng 
về tâm lý, tinh thần của các cặp vợ chồng 
hiếm muộn – vô sinhsau nhiều chu kỳ điều 
trị thất bại, RIF còn làm cho chi phí điều trị 
tăng đáng kể. 
Thất bại làm tổ trước đây thường được 
định nghĩa là tình trạng không có thai sau 2 – 
6 chu kỳ TTTON, với tổng số trên 10 phôi chất 
lượng tốt được chuyển vào buồng tử cung [2]. 
Tuy nhiên, với xu hướng giảm số lượng phôi 
chuyển hiện nay, tại đa số các trung tâm TTTON 
bệnh nhân được chẩn đoán RIF khi không có 
hiện tượng làm tổ sau 3 chu kỳ chuyển phôi 
với số phôi chuyển phù hợp [3]. 
Sự làm tổ của phôi vào niêm mạc tử cung 
là một quá trình phức tạp, nhìn chung phụ 
thuộc vào 3 yếu tố chính là chất lượng phôi 
được chuyển, sự chấp nhận của niêm mạc 
tử cung và hệ thống miễn dịch của cơ thể 
người phụ nữ [4]. Bài viết này tập trung vào 
phân tích các yếu tố liên quan đến yếu tố 
hệ thống miễn dịch, trong đó, các nguyên 
nhân có thể ảnh hưởng đến quá trình làm 
tổ của phôi cũng như một số tiến bộ trong 
kỹ thuật hiện nay để tăng cao khả năng phôi 
bám vào NMTC sẽ được đề cập. 
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nếu 
thiếu một số yếu tố cytokine có thể dẫn đến 
các kết quả kém về sản khoa bao gồm hiện 
tượng sảy thai [5],[6]. Về bản chất, cytokine 
là chemokine có tầm quan trọng trong các 
đáp ứng miễn dịch giúp phôi thai thích nghi 
với điều kiện làm tổ cũng như tái thiết lại 
khối mô niêm mạc giúp khởi sự cho quá 
trình làm tổ và phát triển tiếp tục của phôi 
thai. Do vậy, ở những bệnh nhân có tiền sử 
sảy thai nhiều lần có sự ghi nhận sự thiếu 
hụt hay bị hoạt hoá bất thường các yếu tố 
cytokine này thường dẫn đến những rối 
loạn về chức năng và khả năng tăng trưởng 
của phôi thai cũng như có thể dẫn đến hiện 
tượng sảy thai sau này [5]. 
Trong số các cytokines được định 
danh, Granulocyte Macrophage Colony 
Stimulating Factor (GM – CSF) đang ngày 
càng được chú ý do được chứng minh là 
có vai trò quan trọng trong quá trình phát 
triển và làm tổ của phôi. Ở người, GM – CSF 
được tìm thấy trong lớp niêm mạc tử cung 
[7],[8], vòi trứng, tế bào vỏ của nang noãn 
vượt trội [8], dịch nang noãn cũng như 
trong nhau thai. Trên mô hình nghiên cứu 
là chuột, sự hiện diện của GM – CSF trong 
quá trình phát triển của phôi được cho là 
một trong những yếu tố quan trọng ảnh 
hưởng đến khả năng làm tổ của phôi cũng 
như có tác động tích cực đến sự phát triển 
của thai sau này trong tử cung [5],[9]. 
Trong giai đoạn phân chia sớm của phôi, 
các thụ thể của GM – CSF được khởi động 
giúp cho GM – CSF bắt đầu hoạt động cũng 
như tương tác với tế bào ICM và tế bào lá 
nuôi phôi, điều này được tin là giúp cải 
thiện những tương tác cần thiết cho phôi 
và các tế bào trong niêm mạc tử cung [10]. 
Các thụ thể với GM – CSF được tìm thấy trên 
noãn đã thụ tinh cho đến các giai đoạn phát 
triển thành phôi nang trên chuột cũng như 
người. Các thực nghiệm trên phôi chuột cho 
thấy khi nuôi cấy phôi in vitro trong môi 
trường có bổ sung GM – CSF ở nồng độ 2ng/ 
ml, các phôi gia tăng hoạt động sử dụng 
glucose trong quá trình chuyển hóa, gia 
tăng số lượng tế bào thông qua việc ức chế 
chu trình chết tế bào (apoptosis) [6]. Ngoài 
ra, việc bổ sung GM – CSF vào môi trường 
nuôi cấy ở nồng độ trên còn làm tăng tỷ 
lệ làm tổ của phôi chuột, giảm bớt các bất 
thường về cấu trúc của nhau thai cũng như 
quá trình phát triển thai kỳ [9].
Trên người, khi nuôi cấy phôi trong môi 
trường có bổ sung GM – CSF, các tác giả ghi 
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
90
nhận tỷ lệ phôi sau rã đông ở ngày 2 phát 
triển đến giai đoạn phôi nang tăng gấp 2 
lần, số lượng tế bào sống trong khối ICM 
tăng thêm 30%, ngoài ra, tỷ lệ phôi làm tổ 
(in vitro) cũng tăng [8]. Trong một nghiên 
cứu ngẫu nhiên, có nhóm chứng, sử dụng 
noãn của cùng một bệnh nhân, khi nuôi cấy 
phôi từ giai đoạn thụ tinh đến phôi nang, 
phôi nuôi cấy trong môi trường có bổ sung 
GM – CSF sẽ có nhiều tế bào hơn vào thời 
điểm 72 giờ sau thụ tinh (6,1 so với 5,8; p 
< 0,05) và số lượng phôi nang hoàn chỉnh 
được hình thành tăng 50% (1,6 so với 1,1; 
p = 0,001) [11]. Về tỷ lệ thai lâm sàng, một 
nghiên cứu có nhóm chứng trên 154 chu kỳ 
điều trị, các tác giả cho thấy tỷ lệ thai lâm 
sàng tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm có 
bổ sung GM – CSF trong môi trường nuôi 
cấy (46,1% so với 30,8%; p < 0,05) [12].
mỤc tiÊu nghiÊn cứu
Đánh giá hiệu quả của GM – CSF dựa trên tỉ 
lệ làm tổ của phôi và tỉ lệ có thai lâm sàng đến 
12 tuần của những trường hợp thất bại làm tổ 
liên tiếp.
vật liệu và phƯơng phÁp 
nghiÊn cứu
Đây là đề tài nghiên cứu do CGRH, Khoa Y, 
Đại học Quốc gia TPHCM thực hiện, việc thu 
thập số liệu được tiến hành tại đơn vị IVFAS, 
Bệnh viện An Sinh.
tHiết kế ngHiên cứu
Báo cáo loạt ca các trường hợp thất bại làm 
tổ được điều trị TTTON sử dụng môi trường có 
bổ sung GM – CSF nuôi cấy phôi đến ngày 2 
tại Đơn vị IVFAS, Bệnh viện An Sinh từ 8/2012 
– 11/2012. 
pHương pHáp cHọn mẫu
tiêu chuẩn nhận mẫu: 
• Thất bại làm tổ (kết quả β-hCG âm tính)
 o ≥ 3 lần chuyển phôi (bao gồm phôi 
tươi và phôi trữ lạnh)
 o Tổng số phôi tốt chuyển ≥ 6 
• NMTC ≥ 8mm
tiêu chuẩn loại mẫu: 
• Trữ phôi toàn bộ
• Bất thường về tử cung
qui tRìnH kỹ tHuật
 quy trình chuẩn bị tinh trùng
- Tất cả các mẫu tinh dịch sau khi ly giải 
trong tủ ấm ở nhiệt độ 370C được tiến hành 
lọc rữa với phương pháp thang nồng độ 
không liên tục.
- Đặt môi trường thang nồng độ Supra 
Sperm (Medicult-Origio) vào tube ly tâm 
15ml đáy nhọn, 1ml lớp 45% ở trên và 1ml 
lớp 90% ở dưới.
- Trộn đều mẫu tinh dịch.
- Đặt 1ml tinh dịch lên lớp môi trường lọc 
và ly tâm 1500vòng/phút trong 15 phút. Có 
thể sử dụng nhiều tube ly tâm nếu mật độ 
tinh trùng quá ít.
- Loại bỏ phần dịch nổi.
- Chuyển cặn lắng vào tube 5ml đáy tròn 
chứa 3ml môi trường rửa Sperm Preparation 
Medium (Medicult-Origio) và ly tâm ở 1200 
vòng/phút trong 10 phút.
- Rửa lần 2.
- Hút bỏ phần trên, cặn thu được cuối cùng 
khoảng 0,2 – 0,3ml sẽ đặt vào tủ cấy CO2 
chuẩn bị cho ICSI.
quy trình chuẩn bị noãn
- Chọc hút noãn được tiến hành vào 36 
giờ sau tiêm hCG. Bệnh nhân được gây tê 
cạnh cổ tử cung và tiền mê. Chọc hút trứng 
được thực hiện dưới hướng dẫn đầu dò siêu 
âm ngả âm đạo.
- Khối OCC (oocyte corona cumulus) 
sau khi chọc hút sẽ được rửa trong đĩa 
petri 35 chứa môi trường Flushing Medium 
huỳNh gia Bảo, NguyễN Thị Thu LaN, ĐặNg QuaNg ViNh
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
91
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 88-93, 2013
(Medicult – Origio) và nuôi cấy trong hộp 
nuôi cấy 4 giếng chứa môi trường Universal 
IVF (Medicult – Origio) được phủ dầu Liquid 
Paraffin (Medicult – Origio). Các đĩa rửa 
noãn và hộp nuôi cấy noãn sẽ được chuẩn 
bị trước ngày chọc hút noãn và cất trong tủ 
6% CO2 ở 37
0C.
- Sau 2 – 3 giờ nuôi cấy với môi trường 
Universal IVF (Medicult – Origio) trong tủ 
cấy tri-gas, các khối OCC được tách bỏ các 
tế bào hạt xung quanh bằng men Synvitro 
Hyadase (Medicult – Origio) để thu tế bào 
noãn. Sau đó, noãn được tiếp tục nuôi 
cấy trong đĩa petri 35mm với môi trường 
Universal IVF (Medicult – Origio) 1 – 2 giờ 
đến khi thực hiện ICSI. Các đĩa tách noãn 
và nuôi cấy noãn sau khi tách khối OCC sẽ 
được chuẩn bị trước khi chọc hút noãn và 
cất trong tủ 6% CO2 ở 37
0C.
quy trình tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (icsi)
- Tất cả các noãn với sự hiện diện của thể 
cực đầu tiên được thực hiện ICSI (1-2 giờ sau 
khi tách bỏ tế bào hạt bên ngoài)
- Mỗi bệnh nhân được chuẩn bị các đĩa 
chích ICSI, bên trong có 1 giọt PVP 50% 
(Medicult – Origio) (pha loãng 1:1 với môi 
trường Universal IVF), được kéo mỏng kèm 5 
giọt môi trường Univerval IVF (5µl/giọt) được 
phủ dầu Liquid Paraffin (Medicult – Origio) để 
chứa noãn. Số lượng noãn tối đa trong một 
đĩa chích là 4 và số dĩa ICSI cần làm tùy thuộc 
vào số noãn chọc hút được. 
- Các đĩa ICSI sẽ được chuẩn bị ngay sau 
chọc hút noãn hoàn tất và cất trong tủ 6% 
CO2 ở 37
0C. Trước khi tiến hành ICSI, tinh trùng 
được đưa vào PVP (Medicult – Origio) ở rìa 
bên phải và dưới đáy của giọt PVP (Medicult – 
Origio) đã kéo dài. Noãn được cho vào các giọt 
môi trường chứa noãn. 
- Dưới kính hiển vi đảo ngược, độ phóng 
đại 300X, chuyên viên labo sẽ lựa chọn tinh 
trùng di động và có hình dạng bình thường 
nhất tại rìa bên trái của giọt PVP (Medicult – 
Origio). Tinh trùng được bất động bằng cách 
dùng kim tiêm tinh trùng “cứa” lên đuôi 2 – 3 
lần cho đến khi bất động hoàn toàn. Sau đó, 
tinh trùng sẽ được tiêm vào noãn ở vị trí 3 
giờ, sau khi cố định noãn với thể cực ở vị trí 
6 – 12 giờ hay 7 – 11 giờ. 
quy trình nuôi cấy phôi bằng môi trường 
Embryogen (medicult-origio)
- Noãn sau ICSI được rửa và chuyển vào 
đĩa petri BD 60mm (BD Falcon) có chứa môi 
trường Embryogen (Medicult – Origio) được 
phủ dầu Liquid Paraffin (Medicult – Origio). 
Tiến hành nuôi cấy qua đêm trong tủ cấy với 
điều kiện 37oC, 8% CO2 và 5% O2. 
- Sau 16 – 18 giờ ICSI, tất cả noãn được 
kiểm tra đánh giá sự thụ tinh với sự hiện 
diện của hình ảnh 2 tiền nhân (2PN) và ghi 
nhận tỉ lệ thụ tinh.
- Rửa và chuyển noãn sang đĩa petri BD 
60mm có chứa môi trường Embryogen 
(Medicult – Origio) mới có phủ dầu Liquid 
Paraffin (Medicult – Origio) đã được chuẩn 
bị ít nhất 2 giờ trước khi sử dụng. Tiếp tục 
nuôi cấy qua đêm trong điều kiện 37oC, 8% 
CO2 và 5% O2. 
- Vào ngày thứ 2 (42-44 giờ sau ICSI), tiến 
hành kiểm tra đánh giá chất lượng phôi và ghi 
nhận tỉ lệ phôi tốt.
các yếu tố ĐánH giá kết quả
• Tỉ lệ noãn thụ tinh bình thường 
• Tỉ lệ phôi có chất lượng tốt
• Tỉ lệ thai lâm sàng
• Tỉ lệ làm tổ của phôi
Kết QuẢ
Từ 8/2012 – 12/2012, tổng cộng 41 cặp vợ 
chồng vô sinh do thất bại làm tổ liên tiếp điều 
trị tại IVFAS được nhận vào nghiên cứu. Bảng 
1 mô tả các đặc điểm của nhóm bệnh nhân 
tham gia nghiên cứu.
nghiên cứu 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
92
Tuổi 35,9 ± 4,85
số lần điều trị TTToN thất bại trung bình 4,34 ± 1,28
số phôi chuyển trung bình 3,8 ± 0,6
Độ dày niêm mạc tử cung trung bình 11,43 ± 1,39
Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhân
Kết quả ở bảng 1 cho thấy đối tượng bệnh nhân tham gia trong nghiên cứu của chúng tôi đều 
có những đặc điểm về độ tuổi, số lần điều trị thất bại trước đây, số phôi chuyển trung bình và độ 
dày niêm mạc tử cung ở chu kỳ điều trị hiện tại tương tự nhau và thỏa các tiêu chuẩn nhận vào 
nghiên cứu đã đề ra.
Các chỉ số nghiên cứu Tỉ lệ (n = 41)
Tỉ lệ phôi tốt 23,8%
Tỉ lệ thai lâm sàng 36,6% (15/41)
Tỉ lệ làm tổ của phôi 13,3% (21/158)
Bảng 2: Kết quả của các thông số nghiên cứu
đường sinh dục nữ vào giai đoạn thai sớm được 
xem là một trong những nguyên nhân quan 
trọng gây ra RIF. GM – CSF đã được chứng minh 
là có vai trò chủ yếu trong điều hòa sự phát 
triển của phôi ở giai đoạn sớm [10]. Do đó, việc 
sử dụng môi trường có bổ sung GM – CSF để 
nuôi cấy phôi trong những trường hợp RIF giúp 
làm tăng tỉ lệ có thai lâm sàng ở những trường 
hợp bệnh nhân đúng với chỉ định này. Do phác 
đồ điều trị tại trung tâm của chúng tôi chủ yếu 
là chuyển phôi ngày 2, hiệu quả thực sự của 
GM – CSF lên phôi ở giai đoạn phân chia (ngày 
2, ngày 3) không rõ. Tuy nhiên, GM – CSF được 
nhiều tác giả chứng minh là giúp tăng tỉ lệ phôi 
phát triển đến giai đoạn phôi nang (từ 47% lên 
78% trong nghiên cứu của Sjoblom và cộng sự 
(2005) trên nhóm người tình nguyện) và làm 
huỳNh gia Bảo, NguyễN Thị Thu LaN, ĐặNg QuaNg ViNh
Ở bảng 2, tỉ lệ thụ tinh ở các trường hợp 
được sử dụng môi trường có bổ sung GM – 
CSF trong nghiên cứu của chúng tôi là 77,6%, 
tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ thụ tinh trung 
bình tại IVFAS. Tuy nhiên, tỉ lệ phôi tốt ở nhóm 
bệnh nhân này trong nghiên cứu chỉ đạt 23,8%. 
Đặc điểm phôi ghi nhận được trong tất cả các 
trường hợp tham gia nghiên cứu là tốc độ phát 
triển chậm, do đó làm cho tỉ lệ phôi tốt thấp 
hơn so với tỉ lệ phôi tốt trung bình tại trung tâm 
của chúng tôi.
Đối với những trường hợp RIF, tỉ lệ thai lâm 
sàng đạt được dưới 20% nếu như chỉ thực hiện 
qui trình TTTON một cách bình thường [13]. 
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ thai lâm sàng của 
những bệnh nhân RIF đạt được là 36,6%. Như đã 
trình bày ở trên, việc thiếu hụt GM – CSF trong 
Tập 11, số 01
Tháng 3-2013
Tạp chí Phụ Sản 
93
Tạp Chí phụ sảN - 11(1), 88-93, 2013
tăng số lượng tế bào trong khối tế bào mầm 
(ICM) [9] bằng cách kích thích sự vận chuyển 
và hấp thụ glucose trong quá trình chuyển hóa, 
cũng như ngăn quá trình chết của tế bào ở phôi 
[13]. Với lý do này mà môi trường nuôi cấy có 
bổ sung GM – CSF phát huy được tác dụng làm 
tăng tỉ lệ thai lâm sàng ở đối tượng bệnh nhân 
RIF ngay cả khi được chuyển phôi ở giai đoạn 
phân chia (ngày 2). Ngoài ra, do tỉ lệ phôi tốt 
đối với từng trường hợp không cao, chúng tôi 
tiến hành chuyển nhiều phôi hơn so với những 
trường hợp điều trị TTTON từ các chỉ định khác. 
Đây là nguyên nhân khiến cho tỉ lệ làm tổ của 
phôi thấp hơn so với tỉ lệ hiện có tại trung tâm 
của chúng tôi, chỉ đạt 13,3%.
Kết luận
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam 
nhằm cải thiện tỉ lệ thành công trên những đối 
tượng bệnh nhân thất bại làm tổ liên tiếp. Mặc 
dù, có nhiều nguyên nhân gây ra RIF nhưng kết 
quả nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng môi 
trường có bổ sung GM – CSF khi nuôi cấy phôi 
ở giai đoạn phân chia có thể giúp làm tăng tỉ lệ 
thai lâm sàng ở những đối tượng này. 
Tài liệu Tham khảo
1. Macklon NS, Geraedts JPM, Fauser BCJM. 
Conception to ongoing pregnancy: the ‘black box’ 
of early pregnancy loss. Human Reproduction 
Update. 2002; 8: 333 – 343.
2. Tan BK, Vandekerckhove P, Kennedy R, 
Keay SD. Investigation and current management 
of recurrent IVF treatment failure in the UK. 
BJOG. 2005; 112(6): 773 – 780. 
3. Margalioth EJ, Ben-Chetrit A, Gal M, Eldar-
Geva T. Investigation and treatment of repeated 
implantation failure following IVF – ET. Hum 
Reprod. 2006; 21: 3036 – 3043.
4. Das M, Holzer H. Recurrent implantation 
failure: gamete and embryo factors. Fertil Steril. 
2012; 97(5): 1021 – 1027.
5. Robertson SA. GM – CSF Regulation of 
Embryo Development and Pregnancy. Cytokine 
Growth Factor Reviews. 2007; 18: 287 – 298.
6. Robertson SA, Sjoblom C, Jasper 
MJ, Norman RJ, Seamark RF. Granulocyte-
macrophage colony-stimulating factor promotes 
glucose transport and blastomere viability in 
murine preimplantation embryos. Biol Reprod. 
2001; 64: 1206 – 1215.
7. Giacomini G, Tabibzadeh SS, Satyaswaroop 
PG, Bonsi L, Vitale L, Bagnara GP, Strippoli P, 
Jasonni VM. Epithelial cells are the major source 
of biologically active granulocyte macrophage 
colony-stimulating factor in human endometrium. 
Hum Reprod. 1995; 10(12): 3259 – 3263.
8. Zhao Y, Rong H, Chegini N. Expression 
and selective cellular localization of 
granulocyte-macrophage colony-stimulating 
factor (GM – CSF) and GM – CSF alpha and 
beta-receptor messenger ribonucleic acid and 
protein in human ovarian tissue. Biol. Reprod. 
1995; 53: 923 – 930.
9. Sjoblom C, Roberts CT, Wikland M, 
Robertson SA. Granulocyte-Macrophage 
Colony-Stimulating Factor Alleviates Adverse 
Consequences of Embryo Culture on Fetal 
Growth Trajectory and Placental Morphogenesis. 
Endocrinol. 2005; 146(5): 2142 – 2153.
10. Chin PY, Macpherson AM, Thompson 
JG, Lane M, Robertson SA. Stress response 
genes are suppressed in mouse preimplantation 
embryos by granulocyte-macrophage colony-
stimulating factor (GM - CSF). Hum Reprod. 2009; 
24: 2997 – 3009.
11. Shapiro S, Richter KS, Daneshmand 
ST, Quinn P, Behr B. Granulocyte-
macrophage colony-stimulating factor 
enhances human embryo development to the 
blastocyst stage: a randomized study. Fertil 
Steril. 2003; 79: 15 – 16.
12. Kim D, Kim M, Kang, Lee H, Park W, 
Kwon H. The supplementation of granulocyte-
macrophage colony-stimulating factor (GM – 
CSF) in culture medium improves the pregnancy 
rate in human ART programs. Fertil Steril. 2001; 
76(3): S6.
13. Papayannis M. Effect of granulocyte-
macrophage colony stimulating factor on 
growth, resistance to freezing and thawing and 
re-expansion of murine blastocysts. RBM Online. 
2006; 14 (1): 96 – 101.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_moi_truong_nuoi_cay_phoi_co_bo_sung_gm_csf_o_nh.pdf