Hiệu quả của mifepristone phối hợp misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 12 tuần tuổi thai

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thành công của phác đồ dùng phối hợp

mifepristone và misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển có tuổi

thai ≤ 12 tuần.

Phương pháp nghiên cứu: chúng tôi tiến hành nghiên cứu loạt ca ở

những phụ nữ có thai ≤ 12 tuần bị ngưng tiến triển có chỉ định chấm

dứt thai kỳ tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương từ 20/12/2013 đến

15/5/2014, đủ tiêu chuẩn nhận vào và đồng ý tham gia nghiên cứu. Các

phụ nữ được uống mifepristone 200mg và 24 giờ sau ngậm dưới lưỡi

misoprostol 400μg mỗi 4 giờ, tối đa 6 liều đến khi ra thai.

Kết quả: Tỷ lệ thành công của phác đồ 94% (Khoảng tin cậy 95%:

90,2 – 97,8%). Tác dụng phụ do sử dụng thuốc: nôn: 8,7% (13/149),sốt:

4,7% (7/149), tiêu chảy: 18,1% (27/149). Không có biến chứng truyền

máu hay viêm nội mạc tử cung.

Kết luận: Với kết quả nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ thành công cao và tác

dụng phụ ít, không có biến chứng nghiêm trọng xảy ra, phương pháp

này có thể áp dụng vào điều trị lâm sàng, góp phần là một trong những

lựa chọn cho phương pháp chấm dứt thai ngưng tiến triển

pdf 6 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của mifepristone phối hợp misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 12 tuần tuổi thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của mifepristone phối hợp misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 12 tuần tuổi thai

Hiệu quả của mifepristone phối hợp misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 12 tuần tuổi thai
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 91 - 96, 2016
91
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Nguyễn Ngọc Dung
Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương
HIỆU QUẢ CỦA MIFEPRISTONE
PHỐI HỢP MISOPROSTOL TRONG CHẤM DỨT THAI
NGƯNG TIẾN TRIỂN ≤ 12 TUẦN TUỔI THAI
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thành công của phác đồ dùng phối hợp 
mifepristone và misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển có tuổi 
thai ≤ 12 tuần.
Phương pháp nghiên cứu: chúng tôi tiến hành nghiên cứu loạt ca ở 
những phụ nữ có thai ≤ 12 tuần bị ngưng tiến triển có chỉ định chấm 
dứt thai kỳ tại Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương từ 20/12/2013 đến 
15/5/2014, đủ tiêu chuẩn nhận vào và đồng ý tham gia nghiên cứu. Các 
phụ nữ được uống mifepristone 200mg và 24 giờ sau ngậm dưới lưỡi 
misoprostol 400μg mỗi 4 giờ, tối đa 6 liều đến khi ra thai.
Kết quả: Tỷ lệ thành công của phác đồ 94% (Khoảng tin cậy 95%: 
90,2 – 97,8%). Tác dụng phụ do sử dụng thuốc: nôn: 8,7% (13/149),sốt: 
4,7% (7/149), tiêu chảy: 18,1% (27/149). Không có biến chứng truyền 
máu hay viêm nội mạc tử cung.
Kết luận: Với kết quả nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ thành công cao và tác 
dụng phụ ít, không có biến chứng nghiêm trọng xảy ra, phương pháp 
này có thể áp dụng vào điều trị lâm sàng, góp phần là một trong những 
lựa chọn cho phương pháp chấm dứt thai ngưng tiến triển.
Từ khóa: thai ngưng tiến triển, misoprostol.
Abstract 
EFFICACY OF MIFEPRISTONE AND MISOPROSTOL 
IN TERMINATION OF EARLY PREGNANCY FAILURE ≤ 
12 WEEKS GESTATIONS
Objective: To determine success rate of mifepristone and misoprostol 
regimen for magnagement of early pregnancy failure.
Subjects and Methods: Case series. The women with early pregnancy 
failure ≤ 12 weeks of gestation were indicated medical treatment and 
agreed to take part in research at Binh Duong Obtetrics & Gynecology 
and Pediatrics hospital from 20/12/2013 to 15/5/2014 . These women 
received 200mg of mifepristone orally, 24 hours later received 400μg 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Ngọc Dung,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Thai ngưng tiến triển, 
misoprostol. 
Keywords: Early pregnancy 
failure, misoprostol.
cung, phóng thích prostaglandin nội sinh và tăng 
nhạy cảm của cơ tử cung với tác dụng co cơ của 
prostaglandin. Như vậy, ngoài tác dụng làm thai 
ngưng tiến triển, bong tróc túi thai, mifepristone 
còn có tác dụng hiệp đồng với prostaglandin trong 
việc tống xuất thai ra khỏi buồng tử cung. Hiện nay, 
mifepristone đã được sử dụng ở nhiều quốc gia trên 
thế giới để kết thúc những thai kỳ ngoài ý muốn. 
Tại Việt Nam, phương pháp phá thai bằng thuốc 
cũng đã được đưa vào hướng dẫn quốc gia. Có 2 
phác đồ điều trị nội khoa trong phá thai là sử dụng 
misoprostol đơn thuần hoặc phối hợp mifepristone 
với misoprostol. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh 
phác đồ phối hợp mifepristone và misoprostol hiệu 
quả hơn sử dụng misoprostol đơn thuần [1-2]. Đối 
với thai ngưng tiến triển cũng có một số nghiên 
cứu sử dụng phác đồ phối hợp mifepristone với 
misoprostol, tuy nhiên kết quả rất khác nhau.
Bệnh viện Phụ Sản Nhi Bình Dương đã áp dụng 
phác đồ đặt dưới lưỡi misoprostol 400μg mỗi 6 giờ 
trong vòng 48 giờ để chấm dứt thai kỳ ngưng tiến triển. 
Hiện chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính an 
toàn của phương pháp điều trị nội khoa thai ngưng tiến 
triển ≤ 12 tuần tại bệnh viện. Theo thống kê năm 2012 
của bệnh viện, tỉ lệ thai ngưng tiến triển ≤ 12 tuần là 
352/7998 tổng số sanh (chiếm 4,4%). Tỉ lệ không ra 
thai phải hút thai sau điều trị misoprostol là 15%. Với 
mong muốn áp dụng một phác đồ có thể có tỉ lệ thành 
công cao hơn để hạn chế những trường hợp phải hút 
nạo buồng tử cung do thất bại, dựa vào kết quả thành 
công của phác đồ sử dụng phối hợp mifepristone và 
misoprostol trong phá thai nội khoa, chúng tôi tiến 
hành nghiên cứu “Hiệu quả của mifepristone phối hợp 
misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 12 
NGUYỄN NGỌC DUNG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
92
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Thai ngưng tiến triển chiếm tỉ lệ 15 - 20% trong 
tổng số các thai kỳ và đa số xảy ra trong 3 tháng 
đầu. Như vậy, có một tỉ lệ khá cao các thai kỳ cần 
chấm dứt bằng một phương pháp hiệu quả, ít để 
lại biến chứng và quan trọng nhất là không ảnh 
hưởng đến tương lai sản khoa.
Chấm dứt thai kỳ các trường hợp thai ngưng tiến 
triển dưới 12 tuần bằng phương pháp nong và nạo 
buồng tử cung đã được áp dụng trong nhiều năm 
qua. Nong và nạo buồng tử cung là kỹ thuật triệt 
để và nhanh chóng để làm sạch buồng tử cung cho 
chỉ định chấm dứt thai kỳ. Tuy nhiên, đây là một thủ 
thuật xâm lấn, có thể xảy ra nhiều biến chứng trong 
lúc làm thủ thuật như thủng tử cung, nhiễm trùng hay 
di chứng lâu dài về sau gồm dính buồng tử cung, vô 
sinh. Hơn nữa, việc nạo hút này ảnh hưởng không 
nhỏ đến tâm lý của người phụ nữ, người mà vốn đã 
bị tổn thương tinh thần do thai ngưng tiến triển. 
Để giảm thiểu những biến chứng trên, những 
năm gần đây prostaglandin đã được đưa vào sử 
dụng để chấm dứt thai kỳ ngưng tiến triển và bước 
đầu cho thấy có hiệu quả. Tuy vậy, chưa có phác 
đồ thống nhất và tối ưu được đưa ra. Tỉ lệ thành 
công thay đổi tùy vào liều lượng, đường dùng và 
tiêu chuẩn đánh giá. Một trong những đồng vận của 
prostaglandin là misoprostol thường được sử dụng 
nhất vì rẻ tiền, dễ bảo quản và ít tác dụng phụ.
Một dược chất có tác dụng làm bong 
tróc và tống xuất nhau thai ra khỏi buồng tử 
cung là mifepristone, nhất là khi phối hợp với 
prostaglandin. Mifepristone là một chất đối kháng 
thụ thể progesterone ở niêm mạc và cơ tử cung 
gây thoái hóa màng rụng, làm mềm và dãn cổ tử 
of misoprotol sublingually every 4 hours until the products of conception were expelled, maximum 6 
doses of misoprostol.
Results: The overall success rate of the treatment was 94% (95% CI=90,2 – 97.8%). The adversed 
effects included: nause: 8.7% (13/149), fever: 4.7% (7/149), diarrhea: 18.1% (27/149). No case of 
endometritis or severe bleeding necessitating blood transfusion occurred.
Conlusions: With hight success and low adversed effect rate, this regimen can apply into clinical 
treatment, is a choice for early pregnancy failure management.
Keywords: early pregnancy failure, misoprostol.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 91 - 96, 2016
93
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
3.2. Hiệu quả của phác đồ 
Với phác đồ điều trị kết hợp giữa mifepristone 
và misoprostol trong chấm dứt thai kỳ ngưng tiến 
triển ≤ 12 tuần tuổi, có 140 trường hợp ra thai trọn 
sau 2 tuần theo dõi chiếm tỉ lệ 94%. Có 9 trường 
hợp thất bại, chiếm tỉ lệ 6% (Bảng 3).
Có 14,8% trường hợp ra thai sau uống 
mifepristone mà chưa sử dụng misoprostol. 
Đa số trường hợp (91,9%) đã ra thai sau 2 liều 
misoprostol, chỉ 7,5% trường hợp còn lại ra thai 
sau liều thứ 3 đến thứ 6 (Bảng 4).
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
về tỉ lệ thành công giữa nhóm tuổi thai < 9 tuần 
và nhóm 9 - ≤ 12 tuần với p = 0,72; cũng không 
có sự khác biệt về tỉ lệ thành công hay thất bại 
giữa 2 loại thai ngưng tiến triển với p = 0,28 
(Bảng 5).
3.3. Các tác dụng không mong muốn 
và biến chứng
Tác dụng không mong muốn gặp nhiều nhất là 
tiêu chảy chiếm tỷ lệ 18,1%, kế đến là nôn (8,7%) 
và tác dụng phụ ít gặp nhất là sốt (4,7%). Không 
có trường hợp nào ra huyết nhiều phải truyền máu 
và cũng không có nhiễm trùng tử cung trong mẫu 
nghiên cứu (Bảng 6).
4. Bàn luận
Với mục tiêu xác định tỉ lệ thành công của phác 
đồ điều trị phối hợp mifepristone và misoprostol 
trong chấm dứt thai ngưng tiến triển và tỉ lệ các tác 
dụng không mong muốn cũng như biến chứng do 
điều trị (nếu có) nên chúng tôi chọn phương pháp 
báo cáo loạt ca. 
Do là báo cáo loạt ca nên mẫu có thể không 
đủ để xác định tỉ lệ thực những biến chứng hay 
tác dụng không mong muốn cũng như khẳng định 
được các mối liên quan (nếu có).
tuần tuổi thai” nhằm xác định tính an toàn và hiệu quả 
của phác đồ, giúp có thêm một lựa chọn khác trong xử 
trí thai ngưng tiến triển. Câu hỏi nghiên cứu của chúng 
tôi là: Tỉ lệ thành công của phác đồ mifepristone phối 
hợp misoprostol trong chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 
12 tuần là bao nhiêu?
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Báo cáo loạt ca
Những phụ nữ có thai ≤ 12 tuần bị ngưng 
tiến triển có chỉ định chấm dứt thai kỳ tại Bệnh 
viện Phụ Sản Nhi Bình Dương từ 20/12/2013 
đến 15/5/2014, đủ tiêu chuẩn nhận vào và 
đồng ý tham gia nghiên cứu được điều trị theo 
phác đồ: 
− Ngày 1: uống 1 viên mifepristone 200mg.
− Ngày 2: đặt dưới lưỡi (ĐDL) misoprostol 
400μg mỗi 4 giờ, tối đa 6 liều đến khi ra thai.
− Khám và siêu âm đánh giá sau điều trị 48 
giờ, 7 ngày, 14 ngày.
Tiêu chuẩn thành công 
Sẩy thai trọn trong vòng 14 ngày, không cần 
can thiệp ngoại khoa. Sẩy thai trọn khi trên lâm 
sàng hết ra huyết hoặc ra ít, siêu âm buồng tử cung 
trống hoặc ít dịch (≤ 5mm).
Tiêu chuẩn thất bại 
Có một trong các trường hợp sau:
− Thai không sẩy sau 48 giờ điều trị.
− Ra huyết nhiều phải hút buồng tử cung cầm máu.
− Tái khám ngày 14 vẫn còn hình ảnh khối 
phản âm hỗn hợp trong buồng tử cung.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm của dân số nghiên cứu.
Đặc điểm Tần suất (n) Tỉ lệ (%)
Số lần mang thai 
 Thai lần 1
 Thai ≥ 2 lần
64
85
42,9
57,1
Số lần sanh 
 Chưa sanh lần nào
 Sanh ≥ 1 lần
75
74
50,3
49,7
Tiền căn hút nạo thai
 Chưa 
 ≥ 1 lần
130
19
87,2
12,8
Tiền căn phá thai nội khoa
 Chưa 
 ≥ 1 lần
126
23
84,6
15,4
Bảng 1. Đặc điểm về tiền căn của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm Tần suất (n) Tỉ lệ (%)
Tuổi thai (TB± ĐLC)
 < 9 tuần
 9 - ≤ 12 tuần
8,0 ± 1,4
97
52
65,1
34,9
Loại thai ngưng tiến triển
 Phôi / thai chết 
 Túi thai không phôi
97
52
65,1
34,9
Tình trạng ra huyết trước điều trị
 Có 
 Không 
59
90
39,6
60,4
Bảng 2. Đặc điểm về thai kỳ hiện tại của đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn xác định thành công trong nghiên 
cứu của chúng tôi là thai sẩy trọn, không phải can 
thiệp ngoại khoa bất cứ lí do nào trong thời gian 
14 ngày từ khi bắt đầu sử dụng thuốc. Thời gian 
theo dõi khác nhau ở mỗi nghiên cứu cũng có ảnh 
hưởng đến kết quả thành công của nghiên cứu 
đó. Thời điểm đánh giá thành công có thể 24 giờ, 
3 ngày, 7 ngày, 14 ngày, 30 ngày sau sử dụng 
misoprostol hoặc đến chu kỳ kinh sau. Chúng tôi 
chọn thời điểm 14 ngày nếu những trường hợp đã 
ra thai trong vòng 48 giờ nhưng còn khối echo hỗn 
hợp trong buồng tử cung và lâm sàng ra huyết ít vì 
thực tế những đối tượng nghiên cứu chọn phương 
pháp nội khoa rất mong muốn không phải can 
thiệp thủ thuật khi chưa cần thiết. Bên cạnh đó, 
NGUYỄN NGỌC DUNG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
94
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Hiệu quả Tần suất (n) Tỉ lệ (%) KTC 95%
Thành công
Thất bại
Tổng 
140
9
149
94.0
6.0
100.0
90,2 – 97,8
Bảng 3. Hiệu quả thành công chung của phác đồ
Liều thuốc
Đã ra thai
Tần suất Tỷ lệ (%) Tỷ lệ dồn (%)
Mife
Liều Miso 1
Liều Miso 2
Liều Miso 3
Liều Miso 4
Liều Miso 5
Liều Miso 6
Liều Miso 6 không ra thai
22
47
68
5
5
0
1
1
14,8
31,5
45,6
3,4
3,4
0,0
0,7
0,7
14,8
46,3
91,9
95,3
98,7
98,7
99,4
Tổng 149 100
Bảng 4. Tỷ lệ ra thai theo liều thuốc
Số trường 
hợp
Thành công 
(tần số, tỉ lệ %)
Thất bại (tần 
số, tỉ lệ %) P*
Tuổi thai
< 9 tuần
9 - ≤ 12 tuần
97
52
92(94,8%)
48 (92,3%)
5 (5,2%)
4 (7,7%)
0,72
Loại thai
Phôi / thai chết
Túi thai không phôi
97
52
93 (95,9%)
47 (90,4%)
4 (4,1%)
5 (9,6%)
0,28
(*): Phép kiểm Fisher’s exact
Bảng 5. Tỉ lệ thành công theo nhóm tuổi thai và loại thai ngưng tiến triển
Tác dụng Tần suất (n) Tỉ lệ (%)
Tác dụng không mong muốn
Nôn
Tiêu chảy
Sốt
Biến chứng
Ra huyết nhiều phải truyền máu
Nhiễm trùng tử cung
13
27
7
0
0
8,7
18,1
4,7
0,0
0,0
Bảng 6. Các tác dụng không mong muốn và biến chứng
tiêu chuẩn để chẩn đoán sót nhau là dựa vào siêu 
âm mà lại không có một tiêu chuẩn siêu âm nào 
thống nhất và dương tính giả cũng khá cao[3, 
4]. Vì vậy theo dõi thêm một thời gian để loại trừ 
những trường hợp ứ máu mà chẩn đoán nhầm với 
sót nhau. Chúng tôi cũng sẽ xem xét liệu có những 
trường hợp nào nhiễm trùng hay chảy máu nhiều 
ảnh hưởng đến tổng trạng đối tượng nghiên cứu 
trong thời gian theo dõi 14 ngày đó.
Tỉ lệ thành công trong nghiên cứu của chúng 
tôi là 94%. Khi so hiệu quả với các nghiên cứu sử 
dụng phối hợp mifepristone và misoprostol trong 
thai ngưng tiến triển chúng tôi nhận thấy có sự 
khác nhau theo từng nghiên cứu. Tỉ lệ thành công 
của chúng tôi tương đương với nghiên cứu của 
Schreiber (2006) [5] với kết quả sẩy thai hoàn 
toàn là 93%, nghiên cứu của Kushwah (2009)[6] 
trong nhóm uống mifepristone và đặt dưới lưỡi 
misoprostol 600μg lập lại mỗi 3 giờ tối đa 3 liều đạt 
tỉ lệ thành công 92%, tuy nhiên so với nhóm uống 
mifepristone và uống misoprostol thì tỉ lệ thành 
công của chúng tôi cao hơn với p = 0,03. Còn so 
với nghiên cứu của Wagaarachchi (2001) [7] sử 
dụng mifepristone uống kết hợp 800μg misoprostol 
đặt âm đạo lập lại 2 liều 400μg mỗi 3 giờ với hiệu 
quả tống xuất thai hoàn toàn 84,1% nhận thấy tỉ 
lệ thành công trong nghiên cứu của chúng tôi cao 
hơn có ý nghĩa thống kê với p = 0,004. Nghiên 
cứu của Kollitz (2011) [8] với 200mg mifepristone 
và 800μg misoprostol đặt âm đạo sau 24 giờ, có 
thể lập lại liều misoprostol thứ hai sau một tuần có 
tỉ lệ thành công 83% cũng thấp hơn nghiên cứu 
của chúng tôi, nhưng trong nghiên cứu đó tỉ lệ đối 
tượng chọn hút buồng tử cung do thai sẩy chưa 
trọn sau liều 1chiếm tỉ lệ cao (chỉ 17% những người 
không ra thai sau liều 1 tiếp tục liều 2).
So với thống kê của bệnh viện năm 2012 sử 
dụng phác đồ misoprostol 400μg đặt dưới lưỡi 
mỗi 6 giờ trong vòng 48 giờ đến khi ra thai có tỉ 
lệ không ra thai phải hút buồng tử cung là 15%, 
nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ ra thai trong 
24 giờ sau misoprotol là 99,4%, chỉ có 1 trường 
hợp không ra thai. Hay nói một cách khác, sau 2 
liều misoprostol tỉ lệ ra thai cộng dồn đã đạt đến 
91,9%. Từ đó cho thấy có thể chỉ cần sử dụng đến 
2 liều misoprostol 400μg sau uống mifepristone là 
đã đạt được tỉ lệ ra thai cao.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 91 - 96, 2016
95
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Chẩn đoán còn sót sản phẩm thụ thai chủ yếu 
dựa vào siêu âm và không có một tiêu chuẩn thống 
nhất, một số tác giả lấy mốc là bề dầy trước sau 
của lớp nội mạc tử cung >30mm, một số tác giả 
khác lấy mốc là > 15 mm. Tác giả Sadan (2004)
[4] chọn tiêu chuẩn còn sót sản phẩm thụ thai khi 
có khối tăng âm hoặc giảm âm trong buồng tử 
cung hoặc bề dầy trước sau lớp nội mạc tử cung > 
8mm và ranh giới không đều giữa lớp nội mạc và 
lớp cơ tử cung, so với giải phẫu bệnh sau hút nạo 
buồng tử cung thì tỉ lệ dương tính giả là 28,9% 
trong các trường hợp sau sẩy thai. 
Hơn nữa, một phân tích các nghiên cứu cũng 
chỉ ra một mối liên hệ rõ ràng giữa tỉ lệ thành 
công và thời điểm siêu âm thực hiện sau điều 
trị, cho thấy theo dõi từ 7 đến 14 ngày cho tỉ lệ 
ra thai trọn khá cao[9]. Điều này cũng phù hợp 
với khuyến cáo từ một tổng quan các nghiên cứu 
về xử trí thai ngưng tiến triển bằng thuốc là nên 
đánh giá sau điều trị ít nhất 1 đến 2 tuần[10].
Trên thực tế lâm sàng có những trường hợp 
siêu âm còn khối phản âm sáng nhỏ trong buồng 
tử cung nhưng vẫn còn ra huyết rỉ rả kéo dài và 
nạo buồng tử cung gửi giải phẫu bệnh lý với kết 
quả là lông nhau, nhưng cũng có một số trường 
hợp chẩn đoán là sót nhau nhưng kết quả sau 
nạo chỉ là máu cục. Do vậy, cần có sự cân nhắc 
trong chẩn đoán dựa vào biểu hiện lâm sàng, 
kết quả siêu âm và thời gian theo dõi để tránh 
trường hợp can thiệp không cần thiết. Cũng từ 
những kết quả qua thực tế lâm sàng mà nghiên 
cứu của chúng tôi chọn thời điểm đánh giá là 
14 ngày sau điều trị cũng như chọn tiêu chuẩn 
đánh giá là khi có hình ảnh phản âm hỗn hợp 
trong buồng tử cung trên siêu âm và lâm sàng 
vẫn còn ra huyết.
Khi đánh giá liên quan với tuổi thai, trong 
nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ thành công ở 
nhóm tuổi thai < 9 tuần là 94,2% và ở nhóm tuổi 
thai 9 – ≤ 12 tuần là 92,3%, không có sự khác 
biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,83.
Về phân loại thai ngưng tiến triển thì trong 
nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ thành 
công ở nhóm túi thai không phôi là 90,4% thấp 
hơn so với nhóm có phôi hoặc thai chết là 95,9% 
nhưng có sự khác biệt này không có ý nghĩa 
thống kê với p = 0,28 > 0,05. Creinin (2006) 
báo cáo kết quả trong phân tích đa biến cũng 
nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê về tỉ lệ thành công trong nhóm túi thai 
không phôi, nhóm có phôi hoặc thai chết và 
nhóm sẩy thai không hoàn toàn với OR = 1,66 
(KTC 95%: 0,43 – 6,31; p= 0,46) khi so nhóm 
túi thai không phôi với nhóm sẩy thai không 
hoàn toàn, OR = 0,85 (KTC 95%: 0,22 – 3,26; 
p = 0,808) khi so nhóm túi thai không phôi với 
nhóm sẩy thai không hoàn toàn[11].
Các tác dụng phụ của thuốc trong nghiên 
cứu của chúng tôi ghi nhận không cao, chiếm 
tỉ lệ cao nhất là tiêu chảy 18,1%, ít gặp nhất 
là các trường hợp sốt 4,7%, buồn nôn và nôn 
cũng chiếm tỉ lệ tương đối thấp: 12,1% và 8,7% 
tương ứng.
5. Kết luận
Tỷ lệ thành công của phác đồ phối hợp 
mifepritone và misoprostol khá cao. Tác dụng 
phụ do sử dụng thuốc thấp, thường gặp nhất là 
tiêu chảy, tự hết khi ngưng thuốc. Không có biến 
chứng nặng như ra huyết nhiều phải truyền máu 
hay nhiễm trùng nội mạc tử cung.
Từ kết quả nghiên cứu nhận thấy phác đồ sử 
dụng phối hợp mifepristone và misoprostol trong 
chấm dứt thai ngưng tiến triển ≤ 12 tuần hiệu 
quả cao và an toàn với tác dụng phụ ít và không 
có biến chứng nghiêm trọng.
Tài liệu tham khảo
1. Blum J, Raghavan S, Dabash R, Ngoc N, Chelli H, Hajri S, Conkling 
K, Winikoff B (2012) “Comparison of misoprostol-only and combined 
mifepristone-misoprostol regimens for home-based early medical 
abortion in Tunisia and Vietnam”. International journal of gynaecology and 
obstetrics: the official organ of the International Federation of Gynaecology 
and Obstetrics, 118 (2), 166-71.
2. Ngoc NT, Blum J, Raghavan S, Nga NT, Dabash R, Diop A, 
Winikoff B (2011) “Comparing two early medical abortion regimens: 
mifepristone+misoprostol vs. misoprostol alone”. Contraception, 83 
(5), 410-7.
NGUYỄN NGỌC DUNG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
96
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
3. Bar-Hava I, Aschkenazi S, Orvieto R, Perri T, Shalev J, Dicker D, 
Ben-Rafael Z, Dekel A (2001) “Spectrum of normal intrauterine cavity 
sonographic findings after first-trimester abortion”. Journal of ultrasound 
in medicine : official journal of the American Institute of Ultrasound in 
Medicine, 20 (12), 1277-81.
4. Sadan O, Golan A, Girtler O, Lurie S, Debby A, Sagiv R, Evron S, 
Glezerman M (2004) “Role of sonography in the diagnosis of retained 
products of conception”. Journal of ultrasound in medicine : official 
journal of the American Institute of Ultrasound in Medicine, 23 (3), 
371-4.
5. C. A. Schreiber, M. D. Creinin, M. F. Reeves, B. J. Harwood (2006) 
“Mifepristone and misoprostol for the treatment of early pregnancy failure: 
a pilot clinical trial”. Contraception, 74 (6), 458-62.
6. B. Kushwah, A. Singh (2009) “Sublingual versus oral misoprostol for 
uterine evacuation following early pregnancy failure”. International journal 
of gynaecology and obstetrics: the official organ of the International 
Federation of Gynaecology and Obstetrics, 106 (1), 43-5.
7. P. T. Wagaarachchi, P. W. Ashok, N. Narvekar, N. C. Smith, A. 
Templeton (2001) “Medical management of early fetal demise using a 
combination of mifepristone and misoprostol”. Human reproduction, 16 
(9), 1849-53.
8. K. M. Kollitz, L. A. Meyn, P. A. Lohr, M. D. Creinin (2011) “Mifepristone 
and misoprostol for early pregnancy failure: a cohort analysis”. American 
journal of obstetrics and gynecology, 204 (5), 386 e1-6.
9. Weeks A, Alia G (2001) “Ultrasonography may have role in assessing 
spontaneous miscarriage”. BMJ, 323 (7314), 694.
10. Gemzell-Danielsson K, Ho PC, Gomez Ponce De Leon R, Weeks 
A, Winikoff B (2007) “Misoprostol to treat missed abortion in the first 
trimester”. International journal of gynaecology and obstetrics: the official 
organ of the International Federation of Gynaecology and Obstetrics, 99 
Suppl 2, S182-5.
11. Creinin MD, Huang X, Westhoff C, Barnhart K, Gilles JM, Zhang 
J (2006) “Factors related to successful misoprostol treatment for early 
pregnancy failure”. Obstetrics and gynecology, 107 (4), 901-7.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_mifepristone_phoi_hop_misoprostol_trong_cham_du.pdf