Hiệu quả của hút dịch ứ đọng buồng tử cung sớm ở bệnh nhân chuyển phôi trữ có khuyết tại vết mổ lấy thai cũ

Đặt vấn đề: Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) được thực hiện đầu

tiên tại Việt nam vào năm 1998. Cho đến nay, Việt nam đã có 26 trung

tâm hỗ trợ sinh sản trong cả nước với hơn 2000 trẻ ra đời hàng năm

từ chương trình TTTON. Đa số các trường hợp TTTON chấm dứt thai

kỳ bằng mổ lấy thai. Khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ gây khó khăn

cho lần mang thai sau đăc biệt những trường hợp phải chuyển phôi trữ

đông vì tình trạng ứ dịch buồng tử cung đồng thời nội mạc tử cung kém

phát triển.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ hủy chu kỳ

chuẩn bị nội mạc tử cung ở bệnh nhân có khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai

cũ có chuyển phôi trữ đông.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca, trong thời gian

từ 01/2016 đến 01/2019, 36 trường hợp có khuyết tại vị trí vết mổ lấy

thai cũ chuẩn bị chuyển phôi đông tại bệnh viện Hùng vương thỏa tiêu

chí nhận mẫu.

Kết quả: 36 trường hợp tham gia nghiên cứu với tuổi trung bình 37±2

tuổi, 30,5% sống tại thành phố Hồ Chí Minh. 15/36 (41,7%) có tiền căn

mổ lấy thai trước đó ở các bệnh viện ngoài thành phố Hồ Chí Minh,

33/36 (91,7%) có tiền căn mổ lấy thai vì thai thụ tinh trong ống nghiệm.

Tất cả 36 trường hợp đều được hút dịch sớm từ ngày thứ 7 của chuẩn

bị nội mạc tử cung, có 22/36 (61,1%) hút dịch lần thứ hai vào ngày 14

của chuẩn bị nội mạc tử cung và 5/36 (13,9%) hút dịch lần 3 vào ngày

21 của chuẩn bị nội mạc tử cung. Trong 36 trường hợp tham gia nghiên

cứu, có 05 trường hợp không thỏa tiêu chí chuyển phôi nên hủy chu kỳ,

với tỉ lệ hủy chu kỳ là 5/36 (13,8%) thấp hơn nhiều so với can thiệp trước

đây chỉ dùng kháng sinh và kháng viêm (40%). Tỉ lệ có thai đạt 16/31

(51,6%) và tỉ lệ thai lâm sàng đạt 14/31 (45,2%) tương đương tỉ lệ thai

và thai lâm sàng chung của chuyển phôi trữ tại khoa Hiếm muộn bệnh

viện Hùng vương

pdf 5 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của hút dịch ứ đọng buồng tử cung sớm ở bệnh nhân chuyển phôi trữ có khuyết tại vết mổ lấy thai cũ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của hút dịch ứ đọng buồng tử cung sớm ở bệnh nhân chuyển phôi trữ có khuyết tại vết mổ lấy thai cũ

Hiệu quả của hút dịch ứ đọng buồng tử cung sớm ở bệnh nhân chuyển phôi trữ có khuyết tại vết mổ lấy thai cũ
HOÀNG THỊ DIỄM TUYẾT
130
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
Hoàng Thị Diễm Tuyết 
Bệnh viện Hùng Vương, Tp. Hồ Chí Minh
HIỆU QUẢ CỦA HÚT DỊCH Ứ ĐỌNG
BUỒNG TỬ CUNG SỚM Ở BỆNH NHÂN
CHUYỂN PHÔI TRỮ CÓ KHUYẾT
TẠI VẾT MỔ LẤY THAI CŨ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Thị Diễm Tuyết,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: Khuyết tại vị trí có vết 
mỗ lấy thai cũ, hút dịch buồng 
tử cung.
Keywords: C section scar 
deficiency, intrauterine fluid 
aspiration.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) được thực hiện đầu 
tiên tại Việt nam vào năm 1998. Cho đến nay, Việt nam đã có 26 trung 
tâm hỗ trợ sinh sản trong cả nước với hơn 2000 trẻ ra đời hàng năm 
từ chương trình TTTON. Đa số các trường hợp TTTON chấm dứt thai 
kỳ bằng mổ lấy thai. Khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ gây khó khăn 
cho lần mang thai sau đăc biệt những trường hợp phải chuyển phôi trữ 
đông vì tình trạng ứ dịch buồng tử cung đồng thời nội mạc tử cung kém 
phát triển. 
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ hủy chu kỳ 
chuẩn bị nội mạc tử cung ở bệnh nhân có khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai 
cũ có chuyển phôi trữ đông. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca, trong thời gian 
từ 01/2016 đến 01/2019, 36 trường hợp có khuyết tại vị trí vết mổ lấy 
thai cũ chuẩn bị chuyển phôi đông tại bệnh viện Hùng vương thỏa tiêu 
chí nhận mẫu. 
Kết quả: 36 trường hợp tham gia nghiên cứu với tuổi trung bình 37±2 
tuổi, 30,5% sống tại thành phố Hồ Chí Minh. 15/36 (41,7%) có tiền căn 
mổ lấy thai trước đó ở các bệnh viện ngoài thành phố Hồ Chí Minh, 
33/36 (91,7%) có tiền căn mổ lấy thai vì thai thụ tinh trong ống nghiệm. 
Tất cả 36 trường hợp đều được hút dịch sớm từ ngày thứ 7 của chuẩn 
bị nội mạc tử cung, có 22/36 (61,1%) hút dịch lần thứ hai vào ngày 14 
của chuẩn bị nội mạc tử cung và 5/36 (13,9%) hút dịch lần 3 vào ngày 
21 của chuẩn bị nội mạc tử cung. Trong 36 trường hợp tham gia nghiên 
cứu, có 05 trường hợp không thỏa tiêu chí chuyển phôi nên hủy chu kỳ, 
với tỉ lệ hủy chu kỳ là 5/36 (13,8%) thấp hơn nhiều so với can thiệp trước 
đây chỉ dùng kháng sinh và kháng viêm (40%). Tỉ lệ có thai đạt 16/31 
(51,6%) và tỉ lệ thai lâm sàng đạt 14/31 (45,2%) tương đương tỉ lệ thai 
và thai lâm sàng chung của chuyển phôi trữ tại khoa Hiếm muộn bệnh 
viện Hùng vương.
Kết luận: Hút dịch buồng tử cung sớm trong chuẩn bị nội mạc tử cung 
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
131
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 130 - 134, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
1. Đặt vấn đề
Việt Nam hiện nay không chỉ đối diện với mức 
sinh thấp là 1,86 mà còn có tỉ lệ hiếm muộn trong 
dân số ở tuổi sinh sản là 7,7%. Điều trị hiếm muộn 
bằng thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt nam được 
thực hiện vào năm 1997 tại bệnh viện Từ Dũ, đã 
đánh dấu một bước tiến mới của lãnh vực sản phụ 
khoa Việt nam. Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) 
đã giúp cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn thực 
hiện được thiên chức làm cha, làm mẹ góp phần 
mang lại hạnh phúc cho rất nhiều gia đình đồng thời 
giảm đáng kể tỉ lệ ly hôn trong xã hội [1]. Hơn 20 
năm triển khai kỹ thuật TTTON tại Việt nam, đến nay 
TTTON đã gặt hái nhiều thành quả, từ việc cải thiện 
ở bệnh nhân chuyển phôi đông có khuyết tại vị trí có vết mổ lấy thai cũ giúp giảm tỉ lệ hủy chu kỳ 
và tăng tỉ lệ có thai và thai lâm sàng ở nhóm bệnh nhân này nhưng cũng cần nghiên cứu mạnh hơn 
trong tương lai. 
Từ khóa: Khuyết tại vị trí có vết mỗ lấy thai cũ, hút dịch buồng tử cung. 
Abstract 
EARLY FLUID ASPIRATION AMONG C SECTION SCAR DEFICIENCY 
REDUCES CANCELLATION RATE AND INCREASES THE CLINICAL 
PREGNANCY RATE AMONG PATIENTS UNDERGOING FROZEN EMBRYO 
TRANSFER
Background: IVF (Invitrofertility) has been set up in Vietnam since 1998. There are 26 centers of IVF with 
more than 2000 babies per year in Vietnam until now. Almost all IVF pregnancies have been terminated by 
Cesarean sections (C section) in Vietnam. Deficient C section scars might have a negative effect on frozen 
embryo transfer cycles cause of both endometrium development and the fluid inside the uterus cavity. 
Objectives: Determines whether early fluid aspiration among C section scar deficiency reduces cancellation 
rate and increases the clinical pregnancy rate among patients undergoing frozen embryo transfer. 
Methodology: Case series report. 36 cases with C section scar impair followed endometrium preparation 
before frozen embryo transfer at Hung vuong hospital, from January 2016 to January 2019. 
Results: The average age of participants is 37± 2 years. 30,5% patients are living in Ho Chi Minh city. 
15/36 (41,7%) participants have had C section before going through IVF. 15/36 (41,7%) patients have 
C section from the other provinces. All 36 cases were aspirated early from the 7th day of endometrial 
preparation, 22/36 (61.1%) were second-hand suction on day 14 of uterine endometriosis and 5/36 (13.9%) 
were aspirated the third time on the 21st day of endometrial preparation. In 36 cases participating in the 
study, there were 05 cases that did not meet the criteria of embryo transfer, so the cycle was canceled, 
with the rate of cancellation of 5/36 (13.8%) which was much lower than that of the previous cycles using 
Antibiotics and anti-inflammatory (40%). The pregnancy rate is 16/31 (51.6%) and the clinical pregnancy 
rate is 14/31 (45.2%), which is equivalent to the general pregnancy and clinical pregnancy rate of embryo 
transfer at Infertility department of Hung vuong Hospital. 
Conclusion: Early intrauterine fluid aspiration during endometrial preparation in frozen embryo transfer 
patients with C section scar failure reduced the cancellation rate and increased pregnancy and clinical 
pregnancy rate but more researchs were needed in the future for having a conclusion.
Keywords: C section scar deficiency, intrauterine fluid aspiration
HOÀNG THỊ DIỄM TUYẾT
132
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
một cách đáng kể tỉ lệ thành công đến thực hiện hầu 
hết các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Theo báo cáo 
Bộ y tế, Việt nam hiện đã có 25 trung tâm hỗ trợ sinh 
sản trong cả nước bao gồm cả hệ thống công lập và 
tư nhân. Tại Việt nam đa phần TTTON được kết thúc 
thai kỳ bằng mổ lấy thai. Do đó, số lượng bệnh nhân 
quay lại trung tâm hỗ trợ sinh sản để mang thai lần 
hai với vết mổ lấy thai cũ khá thường xuyên. 
Khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ (VMC) hiện 
nay vẫn chưa rõ cơ chế với nhiều giả thuyết khác 
nhau như: kỹ thuật may phục hồi cơ tử cung không 
chuẩn mực, không lấy đầy đủ các lớp của cơ tử 
cung, cơ chế ảnh hưởng quá trình lành sẹo của vết 
mổ, cơ chế dính vết mổ vào thành bụng gây nên 
tình trạng giảm tưới máu nuôi cơ tử cung trong quá 
trình lành sẹo [6].
Các trường hợp khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai 
cũ đều dẫn đến tình trạng ứ dịch buồng tử cung và 
ảnh hưởng trực tiếp lên sự phát triển niêm mạc tử 
cung thuận lợi cho phôi làm tổ. Do đó, các trường 
hợp khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ cần chuẩn bị 
nội mạc để chuyển phôi trữ thường rất khó khăn vì 
phải đối diện với tình trạng niêm mạc tử cung kém 
phát triển và ứ dịch buồng tử cung từ đó góp phần 
làm tăng tỉ lệ hủy chu kỳ và giảm tỉ lệ có thai sau 
chuyển phôi [5].
Các can thiệp để xử lý tình trạng khuyết tại 
vị trí vết mổ lấy thai cũ hiện nay cũng còn nhiều 
bàn luận do hiệu quả các phương pháp điều trị 
chưa thật sự tỏ ra hiệu quả tuyệt đối. Thông thường 
khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ được can thiệp 
bằng phẫu thuật tạo hình lại vết mổ bằng việc mở 
bụng hở hay phẫu thuật nội soi. Tuy nhiên tỉ lệ vết 
mổ lành tốt và không còn hở sau phẫu thuật chỉ đạt 
được 50-70% [2,3]. Một số quan điểm khác trong 
điều trị chuẩn bị nội mạc ở bệnh nhân có khuyết tại 
vị trí vết mổ lấy thai cũ là sử dụng estrogen ngoại 
sinh chuẩn bị nội mạc tử cung cho đến khi đạt tiêu 
chuẩn chuyển phôi kết hợp sử dụng kháng sinh và 
kháng viêm. Tuy nhiên, phương cách này có tỉ lệ 
hủy chu kỳ rất cao gây nên việc tăng chi phí điều 
trị đồng thời tăng áp lực tâm lý cho người bệnh. 
Vì vậy câu hỏi nghiên cứu được đặt ra: Hút dịch 
buồng tử cung sớm kết hợp chuẩn bị nội mạc tử 
cung bằng estrogen ngoại sinh có mang lại hiệu 
quả trong chuyển phôi trữ ở bệnh nhân có khuyết 
tại vị trí vết mổ cũ không?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả hút dịch 
buồng tử cung sớm kết hợp chuẩn bị nội mạc tử 
cung bằng estrogen ngoại sinh trong chuyển phôi 
trữ ở bệnh nhân có khuyết tại vị trí vết mổ cũ. 
Mục tiêu chuyên biệt
1. Xác định tỉ lệ thai lâm sàng
2. Xác định tỉ lệ hủy chu kỳ chuẩn bị nội mạc 
tử cung
2. Đối tượng- phương pháp 
nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Báo cáo loạt ca
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân chuẩn 
bị chuyển phôi trữ có khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai 
cũ tại bệnh viện Hùng Vương thoả mãn các tiêu 
chuẩn chọn mẫu nghiên cứu.
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân thực hiện 
TTTON với chuyển phôi trữ đông. Đã từng mổ lấy 
thai trước đó. Được chẩn đoán khuyết tại vị trí vết 
mổ lấy thai cũ bằng siêu âm đầu dò âm đạo bởi 
hai bác sĩ siêu âm độc lập. Đồng ý tham gia nghiên 
cứu. Có địa chỉ liên lạc cụ thể và đầy đủ.
Tiêu chuẩn loại trừ: Thay đổi phương cách điều 
trị, bị tác dụng phụ trầm trọng của thuốc, không đủ 
thông tin trong quá trình phân tích.
Thu thập dữ liệu: Các biến số được ghi nhận: 
tuổi bệnh nhân, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ 
học vấn, nơi thực hiện mổ lấy thai trước đây, thời 
điểm thực hiện hút buồng tử cung trong quá trình 
chuẩn bị nội mạc, thời gian chuẩn bị nội mạc tử 
cung bằng estrogen ngoại sinh, tác dụng phụ, đặc 
điểm NMTC khi quyết định chuyển phôi như độ 
dày, việc phân lớp NMTC, thời gian chuyển phôi, 
số phôi chuyển, kết quả có thai, diễn tiến thai sinh 
hóa hay thai lâm sàng, số trường hợp hủy chu kỳ, 
lý do hủy chu kỳ.
Quá trình nghiên cứu: Tất cả các đối tượng 
tham gia nghiên cứu đều được chẩn đoán khuyết 
tại vị trí vết mổ lấy thai cũ bằng siêu âm đầu dò âm 
đạo bởi 2 bác sĩ đọc kết quả độc lập.
Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu 
được chuẩn bị nội mạc tử cung bằng estrogen 
ngoại sinh (Progynova 2 mg) bắt đầu từ ngày 2 
của chu kỳ kinh nguyệt. Bệnh nhân được hướng 
dẫn dùng thuốc đều đặn mỗi ngày với liều tối 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
133
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
đa 8mg tùy theo đáp ứng nội mạc tử cung với 
thuốc. Nội mạc tử cung được gọi là đạt tiêu 
chuẩn chuyển phôi trữ là khi độ dày NMTC đo 
trên siêu âm đầu dò âm đạo đạt trên 8mm (đo 
ngoài-ngoài), có phân lớp hình ảnh chiếc lá và 
không có ứ dịch buồng tử cung [3]. Nhằm giảm 
thiểu các sai số trong đo đạc và chuyển phôi nên 
tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều 
được một bác sĩ lâm sàng theo dõi nội mạc tử 
cung và thực hiện chuyển phôi cho bệnh nhân. 
Thời gian chuẩn bị nội mạc tử cung trung bình 
ở nhóm nghiên cứu này là 20±2 ngày. Tất cả 
các bệnh nhân sau chuyển phôi trữ đều sử dụng 
chung phác đồ hỗ trợ hoàng thể sau chuyển phôi 
bằng progesterone bơm âm đạo (Crinon 8%: 02 
ống/ ngày)
Trong quá trình theo dõi niêm mạc tử cung 
(NMTC), chúng tôi chủ động dùng catherter bơm 
tinh trùng vào buồng tử cung để hút dịch sớm vào 
ngày 7 của quá trình chuẩn bị NMTC, sau đó tùy 
trường hợp có ứ dịch hay không sẽ quyết định hút 
dịch hay không vào các ngày 14 và 21 của quá 
trình chuẩn bị NMTC.
Phương pháp thống kê: Các biến số, dữ liệu 
được nhập vào phần mềm Microsoft Excel 2010 
và xử lý phân tích thống kê bằng phần mềm 
STATA13.0. Các biến số định tính được ước tính 
bằng n (%), và các biến số định lượng bằng trung 
bình ± độ lệch chuẩn (SD)
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 130 - 134, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
Hình 1. Hình khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ qua siêu âm [3]
Hình 2. Catheter bơm tinh trùng vào buồng tử cung dùng để hút dịch sớm buồng tử cung
3. Kết quả
Trong thời gian từ 01/2016 đến 01/2019, chúng 
tôi tiến hành thu thập được 36 trường hợp khuyết tại 
vị trí vết mổ lấy thai cũ chuẩn bị chuyển phôi đông tại 
bệnh viện Hùng Vương thỏa tiêu chí nhận mẫu.
Như vậy chúng tôi thực hiện chuyển phôi trữ cho 
31 trường hợp trên tổng số 36 trường hợp nghiên 
cứu. Tỉ lệ có thai đạt 16/31 (51,6%). Có 5 (13,9%) 
trường hợp phải hủy chu kỳ do không đủ điều kiện 
chuyển phôi trữ, trong đó 3 trường hợp (60%) do ứ 
dịch quá nhiều trong buồng tử cung và 02 trường 
hợp (40%) niêm mạc tử cung không phát triển đủ 
điều kiện chuyển phôi trữ: hoặc nội mạc tử cung 
quá mỏng hoặc không phân lớp dù đã dùng thuốc 
đến 21 ngày. Trong 16 trường hợp có thai vào 14 
ngày sau chuyển phôi với kết quả beta hCG (+), 
Đặc điểm Tần sốN=36 %
Tuổi trung bình 37± 2
Nơi cư trú
Tại Tp.HCM 11 30,5
Ngoài Tp.HCM 25 69,5
Nghề nghiệp
Công nhân viên 15 41,7
Nội trợ 8 22,2
Buôn bán 6 16,7
Khác 7 19,4
Trình độ học vấn
Tốt nghiệp PTCS 6 16,7
Tốt nghiệp PTTH 18 49,9
Cao đẳng, ĐH, sau ĐH 12 33,4
Thực hiện mổ lấy thai trước đây
Tại Tp.HCM 15 41,7
Tại các tỉnh 21 58,3
Tiền căn MLT sau TTTON
Có 33 91,7
Không 03 8,3
Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ
Đặc điểm Tần sốN=36 %
Hút dịch lần 1 vào ngày thứ 7 của chuẩn bị NMTC 36 100
Hút dịch lần 2 vào ngày thứ 14 của chuẩn bị NMTC 22 61.1
Hút dịch lần 3 5 13.9
Huỷ chu kỳ 5 13.9
Bảng 2. Đặc điểm hút dịch sớm buồng tử cung trong thời gian chuẩn bị nội mạc tử cung để 
chuyển phôi trữ
Tần số Tỉ lệ
Có thai
Thai sinh hoá 16/31 51,6
Thai lâm sàng 14/31 45,2
Không có thai 15/31 48,4
Bảng 3. Kết quả điều trị
HOÀNG THỊ DIỄM TUYẾT
134
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
có 2/16 (12,5%) bị thai sinh hóa và 14/16 trường 
hợp diễn tiến thai lâm sàng. 
3. Bàn luận
Việc chẩn đoán khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai 
tương đối dễ dàng qua siêu âm đầu dò âm đạo. Hầu 
hết các tác giả siêu âm đều đồng thuận chẩn đoán 
khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai khi bệnh nhân có tiền 
sử mổ lấy thai và siêu âm vùng vết mổ thấy cơ tử cung 
khuyết hình chữ V với đáy chữ V xoay vào cơ tử cung 
và miệng chữ V xoay vào buồng tử cung [5]. Việc 
chẩn đoán này trở nên dễ dàng hơn khi vết khuyết 
có tụ dịch, khi đó chữ V sẽ hiện rõ nét với hình ảnh 
echo trống [4]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng 
dùng siêu âm đầu dò âm đạo để chẩn đoán xác định 
khuyết tại vị trí vết mổ cũ. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ xác 
định chẩn đoán khi có 2 kết quả siêu âm với 2 bác sĩ 
siêu âm độc lập đều kết luận khuyết tại vị trí vết mổ.
Hút dịch sớm buồng tử cung trong quá trình chuẩn 
bị nội mạc tử cung với estrogen ngoại sinh cho đạt 
điều kiện chuyển phôi trữ giúp giảm đáng kể việc hủy 
chu kỳ. Thật vậy, trước đây chúng tôi xử lý các trường 
hợp hở vết mổ cũ có ứ dịch buồng tử cung bằng kháng 
sinh, kháng viêm thì tỉ lệ hủy chu kỳ lên đến 40-50%.
Hút dịch buồng tử cung sớm và chuẩn bị NMTC 
đến khi đạt tiêu chuẩn chuyển phôi đó là: (i) Độ dày 
NMTC trên siêu âm đạt trên 8mm; (ii) NMTC có phân 
lớp hình ảnh chiếc lá và (iii) Không ứ dịch buồng tử 
cung [1,2]. Khi đó bác sĩ sẽ quyết định ngày chuyển 
phôi. Phôi được rã đông vào ngày chuyển phôi. Đa 
số phôi chuyển là phôi ngày 3 (28/31 trường hợp) 
và số ít phôi ngày 5 (3/31). Việc chuyển phôi cũng 
được 1 bác sĩ chuyển cho 31 trường hợp nhằm giảm 
bớt các yếu tố gây nhiễu do thủ thuật. Tỉ lệ có thai 
cũng tương đương với tỉ lệ có thai chung ở nhóm 
chuyển phôi trữ tại khoa hiếm muộn bệnh viện Hùng 
Vương là 45-52%. Ngoài ra tỉ lệ thai lâm sàng cũng 
đáng khích lệ, đó là 14/31(45,2%) cũng tương 
đương với nhóm chuyển phôi trữ không khuyết tại vị 
trí vết mổ cũ tại bệnh viện Hùng vương. 
Trong các trường hợp hủy chu kỳ, 05 trường hợp 
đều rơi vào nhóm có số lần hút dịch nhiều nhất (3 
lần). Trong 05 trường hợp hút dịch 3 lần, chúng tôi 
ghi nhân có 03 trường hợp dịch tái lập và tồn động 
trong buồng tử cung khá nhanh và nhiều, ngay cả 
đến ngày thứ 21 của thời gian dùng estrogen ngoại 
sinh chuẩn bị nội mạc tử cung. Ngoài ra, có 02 trong 
05 trường hợp hủy chu kỳ vì nội mạc tử cung phát 
triển rất kém bên cạnh việc hút dịch buồng tử cung 
nhiều lần cả về độ dày và sự phân lớp nội mạc tử 
cung để bác sĩ ra quyết định chuyển phôi. 
Tất cả các trường hợp chuyển phôi đề được hỗ 
trợ hoàng thể cùng phác đồ hỗ trợ hoàng thể hiện 
đang sử dụng trên thế giới [2]. Tỉ lệ thai sinh hóa 
trong nghiên cứu này; 2/16( 12,6%) cũng không 
cao hơn tỉ lệ thai sinh hóa chung của khoa Híêm 
muộn bệnh viện Hùng vương. 
Nghiên cứu được thực hiện với phương pháp 
nghiên cứu báo cáo loạt ca nên mức độ tin cậy 
không cao đồng thời không có nhóm tương đồng 
để so sánh mà phải dùng các số liệu chung của 
khoa để so sánh nên tính thuyết phục của nghiên 
cứu chưa cao. Song kết quả nghiên cứu cũng đưa ra 
thêm một hướng mới trong can thiệp bệnh nhân có 
khuyết tại vị trí vết mổ lấy thai cũ cần chuyển phôi 
đông lạnh, tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu 
với thiết kế đủ mạnh hơn trong tương lai. 
4. Kết luận
Nghiên cứu tuy còn những mặt hạn chế song kết 
quả nghiên cứu cho thấy việc can thiệp bằng hút dịch 
buồng tử cung sớm trong giai đoạn chuẩn bị nội mạc 
tử cung góp phần giảm đáng kể tỉ lệ hủy chu kỳ điều 
trị và cải thiện đáng kể tỉ lệ có thai và thai lâm sàng. 
Tài liệu tham khảo
1. Cổ Phí Thị Ý Nhi, Võ Minh Tuấn (2014). “Khảo sát đặc điểm tử cung 
ở những trường hợp chuyển phôi- Thụ tinh trong ống nghiệm” Tập san y 
học thành phố Hồ Chí Minh 18, nhà suất bản y học, pp. 28-33
2. Casper R.F, Yanushpolsy E.H (2016)” Optimal endometrial preparation 
for frozen embryo transfer cycles: Window implantation and progesterone 
support” Fertility and Sterility, 105 (4), 867-872
3. Florio P, Filippeschi M, Moncini I et al. Hysteroscopy treatment of the 
cesarean- induced isthmocele in restoring infertility. Curr Opin Obstet 
Gynol, 2012;24:180-6
4. Marotta Ml, Donnez J, Squifflet J et al. Laporoscopy repair of post 
cesarean section uterine scar defects diagnosed in nonpregnant women. 
J Minim Invasive Gynecol. 2013;20: 386-91
5. Roberge S. Et al (2016) “Impact of uterine closureon residual 
myometrial thickness after cesarean section randomized control trial. Am 
J Obstet Gynecol, 2016; 214: 502-506
6. Tower AM, Frishman GN. Cesarean scar defects: an underrecognized 
cause of abnormal uterine bleeding and other gynecologic complications. 
J Mimin Invasive gynecol, 2013; 20: 562-72
7. Van der Voet LF, Vervoot Ạ, Veersema S, et al. Minimally invasive 
therapy for gynecological symtoms related to a niche in the cesarean scar: 
a systematic review. BJOC. 2014; 121: 145-56

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_hut_dich_u_dong_buong_tu_cung_som_o_benh_nhan_c.pdf