Hiệu quả của hai phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine trong điều trị dọa sinh non

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine trong điều

trị dọa sinh non. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, gồm 114 bệnh nhân được

chẩn đoán và điều trị dọa sinh non tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh

viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 05/2010 – 06/2011. Các đối tượng được phân

ngẫu nhiên thành 2 nhóm, sử dụng magnesium sulfate hoặc nifedipin, đánh giá hiệu quả

và độ an toàn của mỗi phác đồ. Kết quả: tỷ lệ cắt được cơn co tử cung ở nhóm MgSO4 là

91,2%, Nifedipine là 89,5%. Thời gian cắt cơn co tử cung trung bình ở nhóm MgSO4 là 35,8

± 12,4 phút, ở nhóm Nifedipine là 90,58 ± 19,5 phút. Khi CTC mở < 2cm="" thì="" tỷ="" lệ="" thành="">

của MgSO4 là 94,2%, của Nifedipine là 90,1% ; khi CTC mở ≥ 2cm thì tỷ lệ thành công của

MgSO4 là 60% và Nifedipine là 33,3%. Tỷ lệ thành công kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ chủ yếu ở chỉ

số dọa sinh non 2 và 3 điểm, chiếm tỷ lệ lần lượt là 97,7% và 94,2%. Ở nhóm MgSO4: tỷ lệ kéo

dài tuổi thai ≥ 48 giờ là 91,2%, thời gian kéo dài tuổi thai trung bình 26,3 ± 19,5 ngày, ở nhóm

Nifedipine: tỷ lệ kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ là 93%, thời gian kéo dài tuổi thai trung bình là 21,5

± 14,4 ngày. Kết luận: Phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine có hiệu quả cao, an toàn

cho thai phụ và thai nhi trong điều trị dọa sinh non.

pdf 11 trang phuongnguyen 180
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của hai phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine trong điều trị dọa sinh non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của hai phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine trong điều trị dọa sinh non

Hiệu quả của hai phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine trong điều trị dọa sinh non
90 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
HIỆU QUẢ CỦA HAI PHÁC ĐỒ MAGNESIUM SULPHATE
VÀ NIFEDIPINE TRONG ĐIỀU TRỊ DỌA SINH NON
Hồ Thuyên (*),Nguyễn Vũ Quốc Huy (**)
Tóm tắt 
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của hai phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine trong điều 
trị dọa sinh non. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, gồm 114 bệnh nhân được 
chẩn đoán và điều trị dọa sinh non tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh 
viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 05/2010 – 06/2011. Các đối tượng được phân 
ngẫu nhiên thành 2 nhóm, sử dụng magnesium sulfate hoặc nifedipin, đánh giá hiệu quả 
và độ an toàn của mỗi phác đồ. Kết quả: tỷ lệ cắt được cơn co tử cung ở nhóm MgSO4 là 
91,2%, Nifedipine là 89,5%. Thời gian cắt cơn co tử cung trung bình ở nhóm MgSO4 là 35,8 
± 12,4 phút, ở nhóm Nifedipine là 90,58 ± 19,5 phút. Khi CTC mở < 2cm thì tỷ lệ thành công 
của MgSO4 là 94,2%, của Nifedipine là 90,1% ; khi CTC mở ≥ 2cm thì tỷ lệ thành công của 
MgSO4 là 60% và Nifedipine là 33,3%. Tỷ lệ thành công kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ chủ yếu ở chỉ 
số dọa sinh non 2 và 3 điểm, chiếm tỷ lệ lần lượt là 97,7% và 94,2%. Ở nhóm MgSO4: tỷ lệ kéo 
dài tuổi thai ≥ 48 giờ là 91,2%, thời gian kéo dài tuổi thai trung bình 26,3 ± 19,5 ngày, ở nhóm 
Nifedipine: tỷ lệ kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ là 93%, thời gian kéo dài tuổi thai trung bình là 21,5 
± 14,4 ngày. Kết luận: Phác đồ Magnesium sulphate và Nifedipine có hiệu quả cao, an toàn 
cho thai phụ và thai nhi trong điều trị dọa sinh non.
Abstract
Effectiveness of Nifedipine and Magnesium sulfate in preterm labor treatment
Objectives: To assess the effectiveness, side effects of two regimens using Nifedipine or 
Magnesium sulfate in the treatment of preterm labor. Materials and methods: prospective 
study included 114 patients diagnosed and treated for preterm labor in Department of 
Obstetrics and Gynecology, Hue Central Hospital and University Hospital of Medicine and 
Pharmacy Hue from May 2010 to June 2011. After diagnosis, patients have been randomly 
assigned into 2 groups receiving magnesium sulfate or nifedipine; assessment of efficacy 
and safety of each treatment regimen. Results: The rate of tocolysis in the Magnesium sulfate 
group was 91.2% and Nifedipine group was 89.5%. Tocolysis time in the Magnesium sulfate 
group was 12.4 ± 35.8 minutes, in group Nifedipine was 90.58 ± 19.5 minutes. When cervical 
dilatation < 2 cm, the success rate of Magnesium sulfate was 94.2%, those of Nifedipine was 
90.1%. When cervical dilatation ≥ 2cm, the success rate of Magnesium sulfate was 60% and 
those of Nifedipine was 33.3%. The success rate of prolonged gestation ≥ 48 hours seen mainly 
TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3) 90-100, 2012
Hồ Thuyên/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 91
in preterm labor with tocolysis index of 2 or 3 points, 97.7% and 94.2%, respectively. In the 
Magnesium sulfate group, prolonged gestation ≥ 48 hours obtained in 91.2% of cases, mean 
prolongation of gestation 26.3 ± 19.5 day; in the Nifedipine group: prolonged gestation ≥ 48 
hours obtained in 93% of cases, mean prolongation of gestation 21.5 ± 14.4 day. Conclusion: 
Magnesium sulfate and Nifedipine regimen yielded high efficiency and safety for pregnant 
women and fetuses in the treatment of preterm labor.
(*): Khoa Sản Bệnh viện Việt Nam - Cuba Đồng Hới, (ThS. BS), (**) PGS. TS, Bộ môn Phụ Sản 
Trường Đại học Y Dược Huế (PGS. TS)
Đặt vấn đề
Sinh non là một trong những vấn đề cấp 
thiết đang được quan tâm hiện nay ở nước 
ta cũng như trên thế giới. Theo Johnson ở 
Anh sinh non chiếm 9%. Tại Bệnh viện Phụ 
Sản Trung ương từ năm 1998 đến năm 2000 
tỷ lệ sinh non là 20%. Chăm sóc và điều trị 
trẻ sinh non thường tốn kém nhiều hơn về 
kinh tế và thời gian so với trẻ đủ tháng. Có 
rất nhiều yếu tố dẫn đến sinh non: các bệnh lý 
cấp tính và mạn tính của mẹ như tăng huyết 
áp, đái tháo đường, Basedow, các bệnh lý 
nhiễm trùng... Có nhiều loại thuốc khác nhau 
có tác dụng khống chế được cơn co tử cung 
như: nhóm ức chế calci, nhóm kích thích β, 
nhóm ức chế thụ thể oxytocin, tuy nhiên 
do có ít tác dụng phụ, rẻ tiền, có hiệu quả 
cao nên Magnesium sulphate và Nifedipine 
được sử dụng khá phổ biến và thường 
xuyên. Cho đến nay các nghiên cứu ở trong 
nước về so sánh hiệu quả, tác dụng phụ của 
hai loại thuốc này trong điều trị dọa sinh 
non còn hạn chế, vì vậy chúng tôi tiến hành 
đề tài nghiên cứu “Hiệu quả của hai phác 
đồ Magnesium sulphat và Nifedipine trong 
điều trị dọa sinh non” nhằm mục tiêu đánh 
giá hiệu quả của hai phác đồ Magnesium 
sulphate và Nifedipine trong điều trị dọa 
sinh non.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 114 sản phụ được chẩn đoán và 
điều trị dọa sinh non tại Khoa Phụ Sản 
Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện 
Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2010 đến 
tháng 6/2011.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tuổi thai từ 22 đến 37 tuần tính theo 
ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng hoặc siêu 
âm 3 tháng đầu
- Một thai, thai sống
- Cơn co tử cung đều đặn và có từ 1 - 2 
cơn co trong 10 phút và có thể kèm theo một 
hoặc nhiều dấu chứng sau: 
+ Có sự xóa, mở cổ tử cung
+ Ra máu âm đạo ít hoặc ra nhầy hồng 
âm đạo
- Chỉ số dọa sinh non ≤ 6 điểm
- Có điện tâm đồ bình thường
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh lý ở cơ tử cung: Tử cung dị dạng, 
tử cung đôi, tử cung hai sừng, u xơ tử cung, 
dọa vỡ tử cung...
- Bệnh lý thai: Thai chết lưu, dị tật bẩm 
sinh, thai chậm phát triển trong tử cung, suy 
thai, tiền sản giật, sản giật... 
- Bất thường về rau: Rau bong non, rau 
tiền đạo chảy máu nhiều. Bất thường về ối: 
Đa ối, rỉ ối hoặc ối đã vỡ hoàn toàn và có 
biểu hiện nhiễm trùng ối... 
- Mẹ có các bệnh lý nội khoa: Bệnh 
tim, cao huyết áp, suy gan, hen phế quản, 
Basedow 
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu
Tiến hành nghiên cứu
Bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh 
được chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp 
bốc thăm một trong hai phác đồ Magnesium 
92 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
sulphate hay Nifedipine để điều trị.
Phác đồ Magnesium sulphate
+ Liều tấn công: 4gram Magnesium 
sulphate truyền tĩnh mạch trong 20 phút 
qua bơm tiêm điện (80ml/giờ).
+ Liều duy trì: 1gram Magnesium 
sulphate/giờ (8ml/giờ). Sau một giờ nếu trên 
CTG cường độ và tần số cơn co không giảm 
thì tăng thêm 0,5g/giờ.
Phác đồ Nifedipine 
+ Liều tấn công:
Bắt đầu 1 viên Nifedipine 10mg đục lỗ 
ngậm dưới lưỡi
Sau 20 phút nếu còn cơn co tử cung: tiếp 
tục Nifedipine 10mg ngậm dưới lưỡi, tối đa 
4 liều cách nhau mỗi 20 phút.
Nếu sau 3 giờ cơn co vẫn không giảm 
hoặc tăng lên, xem như thất bại.
+ Liều duy trì:
Được sử dụng 3 giờ sau liều dưới lưỡi 
cuối cùng. Viên Nifedipine 20mg uống 
cách nhau mỗi 6 - 8 giờ, sau khi không còn 
cơn co tử cung 2 ngày thì ngưng thuốc, 
liều tối đa 180mg/ngày. Trong quá trình 
điều trị duy trì nếu cơn co xuất hiện trở lại 
thì tiếp tục liều tấn công như ban đầu (tối 
đa là 3 lần).
Kết quả 
Phân bố theo tuổi
Tuổi mẹ cao nhất là 42 tuổi, thấp nhất là 16 tuổi. Tuổi trung bình 26,7 ± 0,5 tuổi. 
Hiệu quả của thuốc
Hiệu quả của thuốc trên cơn co tử cung
Tác dụng của thuốc
MgSO4 Nifedipine p
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Cắt được cơn co tử cung 52 91,2 51 89,5
p >0,05
Không cắt được cơn co tử cung 5 8,8 6 10,5
Tổng cộng 57 100,0 57 100,0
Tỷ lệ cắt được cơn co tử cung ở nhóm sử dụng MgSO4 là 91,2%, ở nhóm sử dụng Nifedipine 
là 89,5%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm dùng hai thuốc khác nhau (p < 0,05).
Hiệu quả cắt cơn co tử cung theo thời gian 
Phác đồ
Thời điểm
MgSO 4 Nifedipine
n(%) cộng dồn n(%) cộng dồn
20 phút 33(63,5) 33(63,5) 5(9,8) 5(9,8)
Hồ Thuyên/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 93
40 phút 12(23,1) 45(86,6) 11(21,6) 16(31,4)
60 phút 6(11,5) 51(98,1) 19(37,3) 35(68,6)
80 phút 1(1,9) 52(100,0) 12(23,5) 47(92,2)
3 giờ 0(0,0) 52(100,0) 3(5,9) 50(98)
1 ngày 0(0,0) 1(2,0)
Tổng 52(100,0) 51(100,0)
X ± SD 35,8 ± 12,4 90,6 ± 19,5
 Ở nhóm MgSO4 cắt được cơn co tử cung sau 20 phút chiếm 63,5%, sau 60 phút cắt được 
cơn co chiếm 98,1%. Ở nhóm Nifedipine cắt được cơn co sau 20 phút chiếm 9,8%, sau 60 phút 
đã cắt được cơn co chiếm 68,6%. Thời gian cắt cơn co trung bình ở nhóm MgSO4 là 35,8 ± 12,4 
phút, ở nhóm Nifedipine là 90,6 ± 19,5 phút.
Hiệu quả của thuốc theo tần số cơn co tử cung 
 Tần số 
CCTC 
(cm)
Hiệu quả 
< 3 ≥ 3
pMgSO4 Nifedipine MgSO4 Nifedipine
n (%) n (%) n (%) n (%)
Thành công 33(94,3) 36(100,0) 19(86,4) 15(71,4) *: 0,58
 **: 0,003Thất bại 2(5,7) 0(0,0) 3(13,6) 6(28,6)
Tổng cộng 35 36 22 21
(*: giá trị p của nhóm MgSO4; **:giá trị p của nhóm Nifedipine)
Với tần số cơn co tử cung < 3 tỷ lệ thành công của MgSO 4 là 94,3%, ở nhóm Nifedipine là 
100%. Với tần số cơn co tử cung ≥ 3 tỷ lệ thành công của MgSO4 là 86,4%, ở nhóm Nifedipine 
là 71,4%. 
Hiệu quả của thuốc theo độ mở cổ tử cung
 Độ mở 
CTC (cm)
Hiệu quả 
< 2 ≥ 2
p
MgSO4 Nifedipine MgSO4 Nifedipine
n (%) n (%) n (%) n (%)
Thành công 49(94,2) 50(90,9) 3(60,0) 1(50,0)
0,0159
Thất bại 3(5,8) 5(9,1) 2(40,0) 1(50,0)
Tổng cộng 52 55 5 2 114
Tỷ lệ thành công của nhóm MgSO4 với độ mở CTC < 2cm là 94,2%, ở nhóm Nifedipine là 
90,9%. CTC mở ≥ 2cm thì tỷ lệ thành công của MgSO4 là 60%, ở nhóm Nifedipine là 50%. 
Thời gian kéo dài tuổi thai sau khi dùng thuốc
Thời gian kéo dài 
tuổi thai
MgSO4 Nifedipine
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
94 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
< 48 giờ 5 8,8 4 7,0
2 - 7 ngày 6 10,5 6 10,5
8 - 14 ngày 5 8,8 8 14,0
15 - 21 ngày 10 17,5 10 1,5
22 - 28 ngày 12 21,1 14 24,6
> 28 ngày 19 33,3 15 26,3
Đủ tháng 15 26,3 17 29,8
Tổng cộng 57 100,0 57 100,0
± SD 26,8 ± 19,3 21,5 ± 14,4
Ở nhóm MgSO4: thời gian kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ và trên một tuần chiếm tỷ lệ lần lượt: 
91,2% và 80,7%. Trung bình 26,8 ± 19,3 ngày. Ở nhóm Nifedipine: thời gian kéo dài tuổi thai 
≥ 48 giờ và trên một tuần chiếm tỷ lệ lần lượt: 93% và 82,5%. Trung bình 21,5 ± 14,4 ngày. 
Tần số cơn co tử cung lúc vào và thời gian kéo dài tuổi thai 
Tần số 
CCTC
Thời gian
Tần số < 3 cơn Tần số ≥ 3 cơn
pMgSO4 Nifedipine MgSO4 Nifedipine
n (%) n (%) n (%) n (%)
< 48 giờ 2(5,7) 0(0,0) 3(13,6) 4(19,1)
*:0,0692 - 7 ngày 5(14,3) 5(13,9) 1(4,5) 1(4,8)
8 - 14 ngày 2(5,7) 5(13,9) 3(13,6) 3(14,3)
15 - 21 ngày 9(25,7) 6(16,7) 1(4,5) 4(19,1)
**:0,0422 - 28 ngày 7(20,0) 10(27,8) 5(22,7) 4(19,1)
> 28 ngày 10(28,6) 10(27,8) 9(40,9) 5(23,8)
Đủ tháng 10(17,5) 12(21,1) 5(8,8) 5(8,8)
Tổng cộng 35 36 22 21 114
(*: giá trị p của nhóm MgSO4; **: giá trị p của nhóm Nifedipine)
Tần số cơn co tử cung < 3 cơn: Thì thời gian kéo dài tuổi thai trên một tuần ở nhóm MgSO4 là 
80%, ở nhóm Nifedipine là 86,1%. Tần số cơn co tử cung ≥ 3 cơn: Thì thời gian kéo dài tuổi thai 
trên một tuần ở nhóm MgSO4 là 81,9%, ở nhóm Nifedipine là 76,1%.
Độ mở cổ tử cung lúc vào và thời gian kéo dài tuổi thai 
Độ mở CTC 
(cm)
Thời gian
CTC mở < 2 CTC mở ≥ 2
p MgSO4 Nifedipine MgSO4 Nifedipine
n (%) n (%) n (%) n (%)
Hồ Thuyên/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 95
< 48 giờ 3(5,8) 3(5,5) 2(40,0) 1(50,0)
0,02
2 - 7 ngày 4(7,8) 6(10,9) 0(0,0) 0(0,0)
8 - 14 ngày 4(7,8) 8(14,5) 0(0,0) 0(0,0)
15 - 21 ngày 10(19,2) 10(18,2) 0(0,0) 0(0,0)
0,0222 - 28 ngày 11(21,2) 14(25,5) 2(40,0) 0(0,0)
> 28 ngày 20(38,5) 14(25,5) 1(20,0) 1(50,0)
Đủ tháng 13(22,8) 17(29,8) 2(3,5) 0(0,0)
Tổng cộng 52 55 5 2 114
Độ mở CTC < 2cm thì thời gian kéo dài tuổi thai trên một tuần ở nhóm MgSO4 là 86,4%, 
ở nhóm Nifedipine là 83,6%. Độ mở CTC ≥ 2cm thời gian kéo dài tuổi thai trên một tuần ở 
nhóm MgSO4 là 60%. 
Hiệu quả theo chỉ số dọa sinh non
Điểm
Thời gian
Thành công Thất bại
MgSO4
n (%)
Nifedipine
n (%)
MgSO4
n (%)
Nifedipine
n (%)
2 điểm 22(100,0) 21(100,0) 0(0,0) 0(0,0)
3 điểm 25(96,2) 24(92,3) 1(3,8) 2(8,7)
4 điểm 4(66,7) 5(62,5) 2(33,3) 3(37,5)
5 điểm 1(50,0) 1(50,0) 1(50,0) 1(50,0)
6 điểm 0(0,0) 0(0,0) 1(100,0) 0(0,0)
Tổng 52(91,2) 51(89,5) 5(8,8) 6(10,5)
p *: 0,02 **: 0,0001
Khi chỉ số dọa sinh non là 2 điểm: Thành 
công ở nhóm MgSO4 và Nifedipine là 100%. 
Chỉ số dọa sinh non là 3 điểm: Thành công ở 
nhóm MgSO4 là 96,2%, Nifedipine là 92,3%. 
Tác dụng phụ của Magnesium sulphate
Tác dụng phụ
Số sản 
phụ
(n = 57)
Tỷ lệ 
%
Giảm phản xạ gân 
xương bánh chè
0 0,0
Buồn ngủ (không 
dùng thuốc an thần)
3 5,3
Líu lưỡi 0 0,0
Khó thở 2 3,5
Chóng mặt 23 40,4
Buồn nôn 19 33,3
Nôn 5 8,8
- Tác dụng phụ chủ yếu của Magnesium 
sulphate là chóng mặt chiếm 40,4% và buồn 
nôn chiếm 33,3%. Có một sản phụ có ba triệu 
chứng kết hợp đến mức không chịu được 
nên phải ngưng Magnesium sulphate và 
chuyển phác đồ điều trị.
Tác dụng phụ của Nifedipine
Tác dụng phụ
Số sản phụ
(n = 57)
Tỷ lệ %
Nhức đầu 6 10,5
Đỏ phừng mặt 4 7,0
Hồi hộp, mệt 3 5,3
96 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
Buồn nôn, nôn 5 8,8
Tác dụng phụ chủ yếu là triệu chứng 
nhức đầu chiếm 10,5%, buồn nôn và nôn 
chiếm 8,8%. Có 10/57 sản phụ xuất hiện tác 
dụng phụ khi sử dụng Nifedipine trong giai 
đoạn tấn công chiếm 17,5%.
Bàn luận 
Tuổi
Tuổi trung bình theo nghiên cứu của 
chúng tôi là 26,7 ± 0,5 tuổi, lứa tuổi hay gặp 
20 - 29 tuổi chiếm 89%, đây là độ tuổi sinh đẻ 
nên chiếm đa số, tuổi cao nhất là 42 tuổi, thấp 
nhất là 16 tuổi.
Theo nghiên cứu của các tác giả Huỳnh 
Thị Mỹ Liên là 27,6 ± 6,28 tuổi [2], Nguyễn 
Thị Thu Phương là 27,55 ± 5,58 tuổi, [4], 
theo nghiên cứu của Phạm Thanh Hiền trên 
135 sản phụ tại Bệnh viện Phụ Sản Trung 
Ương trong 2 năm 1994 - 1995 thì lứa tuổi từ 
20 đến 29 chiếm 52%, theo nghiên cứu của 
Papatsonis thì tuổi trung bình là 28,7 ± 5,8 
tuổi. Tuy nhiên tỷ lệ này chỉ nói lên đặc điểm 
của đối tượng nghiên cứu mà không nói lên 
mối liên quan giữa tuổi và tỷ lệ dọa sinh non.
Hiệu quả của thuốc trên cơn co tử cung
Đối với Magnesium sulphate:
Theo tác giả Nguyễn Vĩnh Phúc, tỷ lệ 
cắt được cơn co tử cung là 88,2% và khi 
CTC mở < 2 cm thì tỷ lệ thành công là 
93,3% (p < 0,05) [3].
Trong nghiên cứu của Floyd thì 91% cắt 
được cơn co tử cung khi kéo dài tuổi thai 
trên 48 giờ với cổ tử cung mở dưới 2cm.
Còn trong nghiên cứu của Hollander thì 
Magnesium sulphate cắt được cơn co thành 
công là 88% [8].
Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi tương tự với các tác giả nói trên.
Đối với Nifedipine:
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Phương, 
Nifedipine cắt được cơn co chiếm 92,5%, kết 
quả kéo dài thai kỳ trên 48 giờ là 92,5% và 
trên 36 tuần là 82,8%, số ngày kéo dài thai 
kỳ trung bình 39,6 ± 26,8 ngày [4]. Theo tác 
giả Đỗ Thị Hoài Thu thì khả năng cắt được 
cơn co của Nifedipine là 87,5% [5].
Kết quả nghiên cứu của Ferguson, tỷ 
lệ cắt được cơn co chiếm 84%. Các kết quả 
này tương tự với kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi.
Theo nghiên cứu của tác giả Lyell năm 
2007 trong 192 bệnh nhân đã nhận thấy hiệu 
quả trong cắt cơn co tử cung của Magnesium 
sulphate là 87% cao hơn của Nifedipine 
(72%) (p = 0,01) [10].
Hiệu quả của thuốc theo tần số cơn co 
tử cung 
Với cơn co tử cung < 3 cơn thì cắt được 
cơn co tử cung ở nhóm Magnesium sulphate 
chiếm 94,3%, ở nhóm Nifedipine là 100%. 
Cơn co tử cung ≥ 3 cơn tỷ lệ thành công 
ở nhóm Magnesium sulphate là 86,4%, ở 
nhóm Nifedipine là 71,4%.
Như vậy, tần số cơn co tử cung nhiều hay 
ít có sự khác biệt trong hiệu quả cắt cơn co 
tử cung và ảnh hưởng đến thời gian cắt cơn 
co (p < 0,05). Tần số cơn co càng dày thì hiệu 
quả cắt cơn co càng thấp, thời gian cắt được 
cơn co càng dài, thời gian điều trị càng cao. 
Điều này có thể giải thích như sau: với các 
trường hợp có tần số cơn co ít, hay gặp ở 
những sản phụ đến sớm hoặc tác nhân kích 
thích cơ tử cung còn ở mức độ vừa phải, cơn 
co tử cung còn thưa và nhẹ nên khi dùng 
thuốc ức chế cơn co thì có tác dụng nhanh. 
Đối với các trường hợp có tần số cơn co tử 
cung lớn, co tử cung đã bị co giãn nhiều nên 
thời gian để cắt cơn co cũng dài hơn, khả 
năng cắt được cơn co cũng thấp hơn [12].
Hollander cũng đã nhận thấy rằng nếu 
tần số cơn co tử cung dưới 3 thì tỷ lệ cắt 
được cơn co cũng tăng lên nhiều (thành 
công là 90,8%) so với tần số cơn co ≥ 3 cơn 
khả năng thành công là 84,6% [8].
Hiệu quả của thuốc theo độ mở cổ tử cung 
Thành công của điều trị cũng phụ thuộc 
vào độ xóa, mở cổ tử cung. Cổ tử cung xóa 
Hồ Thuyên/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 97
mở nhiều hay ít, ở mức độ nào đều liên 
quan đến tiên lượng thuốc có hay ít có tác 
dụng, cuộc chuyển dạ sẽ diễn ra hay không. 
Chưa có nhiều tài liệu đề cập đến vấn đề 
này nhưng đa số có nói lên mối liên quan 
chung là cổ tử cung xóa mở càng nhiều thì 
hiệu quả điều trị càng thấp.
Khi cổ tử cung mở < 2cm thì tỷ lệ thành 
công ở nhóm Magnesium sulphate là 
94,2%, ở nhóm Nifedipine chiếm 90,9%. 
Khi cổ tử cung mở ≥ 2cm thì tỷ lệ thành 
công ở nhóm Magnesium sulphate là 60%, 
ở nhóm Nifedipine là 50%, điều này cho 
thấy khi cổ tử cung mở càng nhiều thì khả 
năng thành công trong cắt cơn co càng 
giảm (p < 0,05).
Theo tác giả Huỳnh Thị Mỹ Liên cho 
rằng tình trạng cổ tử cung ảnh hưởng 
mạnh đến hiệu quả điều trị. Tác giả cho 
rằng khi cổ tử cung mở thêm 1cm thì khả 
năng thất bại tăng lên 26 lần và thất bại sẽ 
tăng lên 8 lần nếu cổ tử cung xóa từ 80% 
trở lên [2].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu 
Phương, khi cổ tử cung mở < 2cm tỷ lệ thành 
công là 100%, các trường hợp thất bại đều có 
cổ tử cung mở 2cm và xóa ≥ 50%. Tỷ lệ thành 
công của nhóm có độ mở cổ tử cung < 2cm 
lớn gấp 2 lần ở nhóm có độ mở cổ tử cung 
2cm (p = 0,004) [4].
Nghiên cứu cũng cho thấy rằng khả 
năng thành công sẽ giảm khi mức độ xóa cổ 
tử cung càng nhiều.
Thời gian kéo dài tuổi thai sau khi dùng 
thuốc
Khả năng kéo dài tuổi thai tùy thuộc vào 
cách lựa chọn tiêu chuẩn khi nghiên cứu do 
đó kết quả ở mỗi tác giả sẽ có sự khác nhau.
Tiêu chuẩn thành công của chúng tôi 
là kéo dài tuổi thai từ 48 giờ trở lên. Tiêu 
chuẩn thành công của một số tác giả Huỳnh 
Thị Mỹ Liên và Nguyễn Thị Thu Phương 
gọi là thành công khi kéo dài thai kỳ trên 
48 giờ [2].
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành 
công khi kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ là 92,1% 
trong đó ở nhóm Magnesium sulphate 
chiếm 91,2%, đủ tháng chiếm 26,3%, ở nhóm 
Nifedipine chiếm 93%, đủ tháng chiếm 
29,8%. Thời gian kéo dài tuổi thai trung bình 
ở nhóm Magnesium sulphate là 26,8 ± 19,3 
ngày, ở nhóm Nifedipine là 21,5 ± 14,4 ngày. 
Trong 11 trường hợp thất bại thì ở nhóm 
Magnesium sulphate có 5 trường hợp chiếm 
8,8%, ở nhóm Nifedipine có 6 trường hợp 
chiếm 10,5%. Trong 11 trường hợp thất bại 
có 9 trường hợp sinh non trong thời gian 
từ 6 đến 12 giờ, 2 trường hợp còn lại phải 
chuyển phác đồ điều trị.
Theo tác giả Huỳnh Thị Mỹ Liên và 
Nguyễn Thị Thu Phương tỷ lệ kéo dài thai 
kỳ trên 48 giờ ở các thai phụ dọa sinh non 
được điều trị bằng Nifedipine lần lượt là 
92,7% và 92,5% [2], [4].
Trong nghiên cứu của Hollender thì thời 
gian kéo dài tuổi thai trên một tuần ở các 
thai phụ được điều trị bằng Magnesium 
sulphate là 50%, đủ tháng là 39,8% (trong 
nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ kéo dài tuổi 
thai trên một tuần ở nhóm MgSO4 chiếm 
81%, đủ tháng là 26,3%) [8]. 
Theo tác giả El-Sayed (1999) thì thời gian 
kéo dài tuổi thai trên một tuần chiếm 78,6%, 
đủ tháng chiếm 61,2%.
Theo Lyell (2007) đã nhận thấy trong 192 
bệnh nhân nghiên cứu thì thời gian kéo dài 
thai kỳ trong vòng 48 giờ là tương tự nhau 
giữa hai nhóm Magnesium sulphate và 
Nifedipine [10].
Như vậy theo kết quả thu được từ 
Nifedipine tương tự với các tác giả kể trên 
(p < 0,05), riêng đối với Magnesium sulphate 
có cao hơn, có thể trong nghiên cứu của 
Hollender không loại trừ các trường hợp ối 
vỡ non; ối vỡ sớm, còn trong nghiên cứu của 
chúng tôi có những trường hợp rỉ ối.
Tần số cơn co tử cung lúc vào và thời 
gian kéo dài tuổi thai 
Khi tần số cơn co tử cung < 3 cơn thì thời 
gian kéo dài tuổi thai trên một tuần chiếm 
98 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
tỷ lệ 80% ở nhóm Magnesium sulphate và 
86,1% ở nhóm Nifedipine, có 21 trường 
hợp kéo dài đến đủ tháng trong đó ở nhóm 
Magnesium sulphate chiếm 26,3%, ở nhóm 
Nifedipine chiếm 28%. Khi tần số cơn co 
tử cung ≥ 3 thì thời gian kéo dài tuổi thai 
trên một tuần chiếm tỷ lệ 81,9% ở nhóm 
Magnesium sulphate và 76,1% ở nhóm 
Nifedipine.
Như vậy khi tần số cơn co tử cung càng 
thấp thì khả năng thành công để kéo dài 
tuổi thai càng cao. Sự khác biệt kể trên 
không có ý nghĩa thống kê ở nhóm MgSO4 
(p > 0,05) nhưng có ý nghĩa thống kê ở nhóm 
Nifedipine (p < 0,05) 
Theo tác giả Nguyễn Vĩnh Phúc khi tần 
số cơn co tử cung < 3 thời gian kéo dài tuổi 
thai trên một tuần là 84,6%, đến đủ tháng 
là 69,2%. Còn trong các trường hợp cơn co 
tử cung ≥ 3 thì thời gian kéo dài tuổi thai 
trên một tuần là 57,1% và đến đủ tháng là 
42,9% [3].
Theo Crowther (2002) khi tần số cơn co tử 
cung dưới 3 thì thời gian kéo dài tuổi thai trên 
một tuần là 73,2%, tần số cơn co tử cung ≥ 3 
chiếm 51,2%.
Độ mở cổ tử cung lúc vào và thời gian 
kéo dài tuổi thai
Độ mở CTC < 2cm thì thời gian kéo dài 
tuổi thai trên một tuần ở nhóm MgSO4 
chiếm tỷ lệ 86,4%, đủ tháng chiếm 25%, ở 
nhóm Nifedipine là 83,6%, đủ tháng chiếm 
30,9%. Độ mở CTC ≥ 2cm thì thời gian kéo 
dài tuổi thai trên một tuần ở nhóm MgSO4 
chiếm 60%, đủ tháng có 2 trường hợp, ở 
nhóm Nifedipine là 50%. 
Như vậy khi CTC mở càng ít thì thời gian 
kéo dài tuổi thai càng cao, sự khác biệt này 
là có ý nghĩa với p < 0,05.
Trong nghiên cứu của Lewis (1995) thời 
gian kéo dài tuổi thai trên một tuần khi 
điều trị bằng MgSO4 là 75% với CTC mở 
< 2cm và 33,3% khi CTC mở ≥ 2cm [11]. 
Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu 
của chúng tôi ở trường hợp CTC mở < 2cm, 
bởi vì các trường hợp CTC mở < 2cm trong 
nghiên cứu của chúng tôi chiếm đa số các 
trường hợp CTC mở 3cm hoặc 4cm với chỉ 
số dọa sinh non cao nên đều thất bại (thời 
gian kéo dài tuổi thai dưới 48 giờ).
 Hiệu quả theo chỉ số dọa sinh non
Chỉ số dọa sinh non được đánh giá thông 
qua các triệu chứng lâm sàng là chủ yếu 
gồm: ra máu âm đạo, ối vỡ, cơn co tử cung, 
độ mở cổ tử cung. Trong đó độ mở cổ tử 
cung ảnh hưởng khá lớn đến điểm số này.
Chỉ số dọa sinh non là 2 điểm: Thành 
công ở nhóm MgSO4 là 100%, ở nhóm 
Nifedipine là 100%. Khi chỉ số dọa sinh 
non là 3 điểm: Thành công ở nhóm MgSO4 
là 96,2%, ở nhóm Nifedipine là 92,3%. Chỉ 
số dọa sinh non là 4 điểm: Thành công ở 
nhóm MgSO4 là 66,7%, ở nhóm Nifedipine 
là 62,5%. 
Như vậy chỉ số dọa sinh non càng cao 
thì khả năng thành công để kéo dài tuổi thai 
càng thấp và ngược lại, sự khác biệt này là có 
ý nghĩa với p < 0,05.
Theo tác giả Đỗ Thị Hoài Thu khi sử 
dụng phác đồ Nifedipine với chỉ số dọa 
sinh non 2 hoặc 3 điểm tỷ lệ thành công là 
100%, chỉ số dọa sinh non 4 điểm, 5 điểm 
chiếm tỷ lệ lần lượt là 87,5%, 66,7% [5]. 
Kết quả này tương tự với nghiên cứu của 
chúng tôi.
Tác giả Dương Thị Cương nghiên cứu 
cho thấy tỷ lệ thành công khi kéo dài tuổi 
thai trên một tuần với điểm số dọa sinh 
non 2, 3, 4 và 5 điểm là 90%, 84%, 38% và 
11% [1] . 
Tác dụng phụ của Magnesium sulphate
Ngoài tác dụng cắt cơn co tử cung hiệu 
quả mà Magnesium sulphate đưa lại khi 
sử dụng đường truyền tĩnh mạch thì chất 
lượng thuốc cũng được đánh giá qua 
tác dụng không mong muốn của nó, tác 
dụng phụ của Magnesium sulphate mà 
người sử dụng đáng lo ngại là bí tiểu và 
ngưng tim.
Một sản phụ có thể có các triệu chứng 
Hồ Thuyên/Nguyễn Vũ Quốc Huy l 99
đi kèm, các triệu chứng này xảy ra chủ yếu 
khi dùng liều tấn công trong 20 - 30 phút 
đầu tiên trong đó có một sản phụ có ba 
triệu chứng kết hợp đến mức không chịu 
được nên bắt buộc phải ngưng Magnesium 
sulphate để chuyển phác đồ điều trị.
Theo Cowles khi nồng độ ion Mg++ > 
8mg/dl lúc đó sẽ xuất hiện các triệu chứng 
ngộ độc, biểu hiện là giảm phản xạ gân 
xương bánh chè hoặc cảm giác chóng mặt, 
buồn ngủ, nói líu lưỡi có thể sẽ dẫn tới 
triệu chứng nặng hơn như liệt cơ, khó thở, 
ngưng tim.
Triệu chứng chóng mặt chiếm 40,4% 
và buồn nôn chiếm 33,3%, các triệu 
chứng này xuất hiện chủ yếu khi dùng 
Magnesium sulphate để điều trị trong 
giai đoạn tấn công.
Các tác dụng phụ xuất hiện chủ yếu ở 
giai đoạn tấn công, các triệu chứng này 
giảm dần và mất hẳn trong giai đoạn duy 
trì. Nếu tình trạng nặng lên với các tác 
dụng phụ thì chỉ cần giảm liều là có tác 
dụng, không cần phải ngưng điều trị.
Tác giả Nguyễn Vĩnh Phúc khi dùng 
đường tiêm bắp, tác dụng phụ của 
Magnesium sulphate là buồn nôn chiếm 
67,6%, có 35,5% nôn trong vòng 30 phút sau 
khi dùng thuốc, chóng mặt chiếm 47% [3].
Theo tác giả Cowles trong giai đoạn tấn 
công khi dùng Magnesium sulphate truyền 
tĩnh mạch để cắt cơn co tử cung hay gặp 
các tác dụng phụ như buồn nôn và nôn, khi 
dùng liều duy trì tác dụng này sẽ giảm đi 
sau một giờ.
Theo nghiên cứu của Glock tỷ lệ ngưng 
điều trị của Magnesium sulphate là 10%, 
trong nghiên cứu của chúng tôi số sản 
phụ có những biểu hiện tác dụng phụ do 
Magnesium sulphate đưa tới là thấp hơn, 
có thể đường dùng của chúng tôi là chuyền 
qua bơm tiêm điện đưa vào lượng thuốc với 
tốc độ đã cài đặt qua máy, có thể thay đổi 
liều lượng và khống chế được liều đưa vào 
mà vẫn đảm bảo được hàm lượng truyền 
thay vì phải bơm một lần liều lượng lớn 
qua đường tiêm bắp, với những ưu thế và 
thuận lợi riêng cùng những tiến bộ trong 
chất lượng thuốc nên tác dụng phụ mà nó 
đưa lại giảm đi đáng kể [7].
Tác dụng phụ của Nifedipine
Tác dụng phụ hay gặp của Nifedipine 
là buồn nôn, nôn và chóng mặt, các triệu 
chứng này có thể xuất hiện đồng thời trên 
một bệnh nhân, theo nghiên cứu của một số 
tác giả thì tỷ lệ tác dụng phụ mà Nifedipine 
tạo ra là thấp hơn nhiều so với Ridtodrin và 
Magnesium sulphate và không có trường 
hợp nào phải ngưng điều trị. Cũng như 
Magnesium sulphate tác dụng phụ của 
Nifedipine chủ yếu xuất hiện trong giai 
đoạn tấn công, giảm dần và mất hẳn trong 
giai đoạn duy trì.
Tác dụng phụ của Nifedipine theo 
nghiên cứu của Huỳnh Thị Mỹ Liên là 
11,54%[3], Nguyễn Thị Thu Phương là 25% 
[4], Đỗ Thị Hoài Thu là 18,8% và của chúng 
tôi là 17,5% [5]. Như vậy nghiên cứu của 
chúng tôi tương tự với các tác giả nói trên.
Tác giả Papatsonis cho rằng tỷ lệ phải 
ngưng điều trị là 13,3%. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi không có trường hợp nào 
phải ngưng điều trị.
Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu với 114 bệnh 
nhân trong đó 57 bệnh nhân điều trị bằng 
phác đồ Magnesium sulphate và 57 bệnh 
nhân điều trị bằng phác đồ Nifedipine, 
chúng tôi rút ra một số kết luận sau.
- Tỷ lệ cắt được cơn co tử cung ở nhóm 
MgSO4 là 91,2%, Nifedipine là 89,5%.
- Thời gian cắt cơn co tử cung trung bình 
ở nhóm MgSO4 là 35,8 ± 12,4 phút, ở nhóm 
Nifedipine là 90,58 ± 19,5 phút.
- Khi CTC mở < 2cm thì tỷ lệ thành công 
của MgSO4 là 94,2%, Nifedipine là 90,1%. 
- Tỷ lệ thành công khi kéo dài tuổi thai ≥ 
48 giờ chủ yếu ở điểm số 2 và 3 điểm chiếm 
tỷ lệ lần lượt là 97,7% và 94,2%.
100 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập10, Số 03, Tháng 7- 2012
- Ở nhóm MgSO4: thời gian kéo dài tuổi thai ≥ 48 giờ là 91,2%, thời gian kéo dài 
tuổi thai trung bình 26,3 ± 19,5 ngày, ở 
nhóm Nifedipine: thời gian kéo dài tuổi 
thai ≥ 48 giờ là 93%, thời gian kéo dài tuổi 
thai trung bình là 21,5 ± 14,4 ngày, tháng 
chiếm 29,8%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Thị Cương, Nguyễn Đức Hinh 
(1997), “Chẩn đoán và xử trí dọa đẻ non”, 
Bài giảng sản phụ khoa cho thầy thuốc thực 
hành, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 219 - 226.
2. Huỳnh Thị Mỹ Liên, Phạm Thành Đức, 
Nguyễn Ngọc Thoa (2001) “Hiệu năng 
của Nifedipine trong điều trị dọa sinh 
non”, Tạp chí phụ sản, Hội Phụ Sản Việt 
Nam, tr. 5 - 10.
3. Nguyễn Vĩnh Phúc (2003), Đánh giá hiệu 
quả của Magnesium sulphate trong điều trị 
dọa sinh non tại khoa Phụ sản Bệnh viện 
Trung ương Huế, Luận văn Thạc sỹ y học 
của Bác sỹ nội trú bệnh viện, Chuyên 
ngành Sản Phụ khoa, Trường Đại học Y 
Dược Huế.
4. Nguyễn Thị Thu Phương, Nguyễn 
Đức Hinh, (2004), “Bước đầu nghiên 
cứu tác dụng giảm cơn co tử cung của 
Nifedipine trong điều trị dọa đẻ non”, 
Nội san Sản Phụ khoa, Hội Phụ Sản Việt 
Nam, tr. 49 - 54.
5. Đỗ Thị Hoài Thu (2005), Đánh giá hiệu 
quả điều trị dọa sinh non bằng Nifedipine tại 
khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế, 
Luận văn Thạc sỹ Y học của Bác sỹ nội 
trú bệnh viện, Chuyên ngành Sản Phụ 
khoa, Trường Đại học Y Dược Huế.
6. Cunningham, Levono, Bloom, Hauth, 
Rouse, Spong (2009), “Preterm Birth”, 
Williams Obstetrics, 7(36). 
7. Glock J.L. et al. (1993), “Efficacy and safety 
of nifedipine versus magnesium sulfate 
in the management of preterm labor: a 
randomized study”, American Journal of 
Obtetrics and Gynencology, 169(4), pp. 960 - 
964.
8. Hollander M. et al (2007), “Prolonged use 
of atosiban and grade IV intraventricular 
haemorrhage in an infant born at 29 weeks 
and 4 days”, Obstetrics and Gynecology, 
110(1), pp. 61 - 67.
9. Lams J.D. (2000), “Preterm birth”, 
Current therapy Obtetrics and 
Gynecology, 5, pp. 329 – 334.
10. Lyell et al. (2007), “Magnesium 
Sulfate Compared With Nifedipine for 
Acute Tocolysis of Preterm Labor: A 
Randomized Controlled Trial”, Obstetrics 
& Gynecology, 110(1), pp. 61 - 67. 
11. Lewis D.F. el al. (1997), “Successful 
magnesium sulfate tocolysis: is “weaning” 
the drug necessary ?”, American journal of 
Obtetrics and Gynecology, 177(4), pp. 742 - 
745.
12. United Health care Services. (2010), 
“Preterm labor: identiffication and 
treatment” Medical policy, pp. 1 - 8.

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_hai_phac_do_magnesium_sulphate_va_nifedipine_tr.pdf