Hiệu quả của dưỡng ẩm da lên độ ẩm và độ mất nước qua thượng bì trên sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề: Hàng rào thượng bì (HRTB) có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự mất nước của cơ

thể; tuy nhiên, tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với HRTB ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ.

Mục tiêu: Khảo sát động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL).

So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm; giữa nam và nữ.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 60 sinh viên Đại học Y

Dược TP. Hồ Chí Minh có làn da khoẻ mạnh. SCH và TEWL được đo đạc và theo dõi trong 180 phút bằng thiết

bị GPSkin Barrier Pro.

Kết quả: Về động học, giá trị SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay.

Vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận SCH cao hơn (p <0,05) và="" tewl="" thấp="" hơn="" (p=""><0,05) so="" với="" vùng="" da="">

dưỡng ẩm. SCH của nam cao hơn SCH của nữ (p <0,05) trong="" khi="" tewl="" không="" có="" sự="" khác="" biệt="" có="" ý="">

thống kê giữa hai giới.

Kết luận: Chất dưỡng ẩm có hiệu quả khôi phục HRTB bằng cách làm tăng SCH và giảm TEWL nhanh và

nhiều hơn. Nữ có làn da khô hơn nam, do đó nhu cầu sử dụng chất dưỡng ẩm cao hơn.

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của dưỡng ẩm da lên độ ẩm và độ mất nước qua thượng bì trên sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của dưỡng ẩm da lên độ ẩm và độ mất nước qua thượng bì trên sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Hiệu quả của dưỡng ẩm da lên độ ẩm và độ mất nước qua thượng bì trên sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 211 
HIỆU QUẢ CỦA DƯỠNG ẨM DA LÊN ĐỘ ẨM VÀ ĐỘ MẤT NƯỚC 
QUA THƯỢNG BÌ TRÊN SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH 
Nguyễn Hoàng Kim Hân1, Nguyễn Bùi Trọng Tín1, Huỳnh Trường Thịnh1, Lê Nguyễn Khánh Hoà1, 
Phạm Lê Duy2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Hàng rào thượng bì (HRTB) có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự mất nước của cơ 
thể; tuy nhiên, tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với HRTB ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ. 
Mục tiêu: Khảo sát động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL). 
So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm; giữa nam và nữ. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 60 sinh viên Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh có làn da khoẻ mạnh. SCH và TEWL được đo đạc và theo dõi trong 180 phút bằng thiết 
bị GPSkin Barrier Pro. 
Kết quả: Về động học, giá trị SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay. 
Vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận SCH cao hơn (p <0,05) và TEWL thấp hơn (p <0,05) so với vùng da không 
dưỡng ẩm. SCH của nam cao hơn SCH của nữ (p <0,05) trong khi TEWL không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê giữa hai giới. 
Kết luận: Chất dưỡng ẩm có hiệu quả khôi phục HRTB bằng cách làm tăng SCH và giảm TEWL nhanh và 
nhiều hơn. Nữ có làn da khô hơn nam, do đó nhu cầu sử dụng chất dưỡng ẩm cao hơn. 
Từ khoá: hàng rào thượng bì, dưỡng ẩm, độ ẩm lớp sừng thượng bì, độ mất nước qua thượng bì 
ABSTRACT 
EFFECT OF SKIN MOISTURIZING ON STRATUM CORNEUM HYDRATION 
AND TRANSEPIDERMAL WATER LOSS 
IN STUDENTS OF UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY AT HO CHI MINH CITY 
Nguyen Hoang Kim Han, Nguyen Bui Trong Tin, Huynh Truong Thinh, Le Nguyen Khanh Hoa, 
Pham Le Duy * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 211 - 217 
Background: The skin barrier plays an essential role in preventing dehydration of the body. However, the 
moisturizer's effects on the skin barrier in healthy people are not well understood. 
Objectives: We examined the kinetic of stratum corneum hydration (SCH) and transepidermal water loss 
(TEWL) after bathing. Comparing the difference of SCH and TEWL between the moisturized and non-
moisturized skins; as well as males and females. 
Methods: This is a cross-sectional study with 60 students of University of Medicine and Pharmacy at Ho 
Chi Minh City. SCH and TEWL levels are measured and monitored for 180 minutes using the GPSkin Barrier 
Pro® device. 
Results: SCH levels were increased and TEWL were decreased over time after hand washing. Moisturized 
skins recorded higher SCH (p <0.05) and lower TEWL (p <0.05) compared to non-moisturized skins. The SCH 
levels of males were significantly higher than that of females (p <0.05), while TEWL levels were not different 
1Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
2Bộ môn Sinh Lý – Sinh Lý Bệnh Miễn Dịch, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: TS.BS. Phạm Lê Duy ĐT: 0969-965-278 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 212 
between the two genders. 
Conclusion: Moisturizer should be recommended as a primary skincare step for everyone, including healthy 
people, to improve SCH and reduce TEWL more effectively. Women's skin was generally drier than men's skin, 
and moisturizer would help the skin to achieve optimal moisture in both sexes. 
Keyword: stratum corneum hydration, transepidermal water loss, moisturizing 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Da đóng vai trò như một hàng rào ngăn chặn 
sự mất nước của cơ thể, chủ yếu nhờ vào kết cấu 
gạch – vữa của lớp thượng bì, trong đó các tế bào 
sừng là những viên gạch còn lipid liên bào là 
vữa. Kết cấu này giúp duy trì độ ẩm cần thiết và 
tính toàn vẹn của da(1). Sự tổn thương hàng rào 
thượng bì có thể gây tăng độ mất hơi nước qua 
thượng bì (TEWL), giảm độ ẩm lớp sừng thượng 
bì (SCH) và biểu hiện trên lâm sàng là tình trạng 
khô da, sần sùi, bong tróc(2). Theo khuyến cáo 
của các tổ chức da liễu và dị ứng trên thế giới, 
các bệnh nhân viêm da cơ địa và vảy nến nên 
được bôi dưỡng ẩm thường xuyên như một 
bước cơ bản trong việc chăm sóc da để điều trị 
và phòng ngừa các đợt bùng phát(3). Tuy nhiên, 
kiến thức về tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với 
hàng rào thượng bì ở người khỏe mạnh vẫn 
chưa được hiểu rõ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu này nhằm hiểu rõ hơn về sinh lý cân 
bằng độ ẩm và độ mất nước qua da, tạo tiền đề 
để xây dựng phác đồ chăm sóc da phù hợp cho 
người Việt Nam. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
60 sinh viên Việt Nam (30 nam, 30 nữ) trong 
độ tuổi từ 18 đến 25 đang học tại Đại học Y Dược 
TP. Hồ Chí Minh có làn da khỏe mạnh, không có 
sang thương da ở hai cánh tay tại thời điểm thực 
hiện nghiên cứu, chưa từng được chẩn đoán các 
bệnh da tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Các đối tượng có tiền sử phản ứng quá mẫn 
với các loại thuốc hoặc mỹ phẩm bôi tại chỗ; 
Các đối tượng hút thuốc lá, uống rượu bia, 
sử dụng cà phê hoặc các chất kích thích trong 
vòng 24 giờ trước khi tiến hành nghiên cứu; 
Các đối tượng có tắm, rửa tay, bôi dưỡng 
ẩm, chất chống nắng vùng da cánh tay trong 
vòng 3 giờ trước khi tiến hành nghiên cứu. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Mô tả cắt ngang. 
Quy trình nghiên cứu 
Bôi dưỡng ẩm ở ½ dưới cẳng tay phải ngay 
sau khi rửa tay (dưỡng ẩm sớm), bôi dưỡng ẩm 
ở ½ trên cẳng tay phải sau rửa tay 30 phút 
(dưỡng ẩm muộn), không bôi dưỡng ẩm ở cẳng 
tay trái (Hình 1). 
Hình 1: Quy trình nghiên cứu 
Các giá trị SCH và TEWL được đo tại mức 
nền, ngay trước khi bôi dưỡng ẩm và các thời 
điểm 30 phút, 60 phút, 120 phút, 180 phút sau 
khi bôi dưỡng ẩm. Các đối tượng được đo 
SCH và TEWL tại cùng một địa điểm, trong 
phòng kín gió, ánh sáng đèn huỳnh quang, có 
điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát 
(nhiệt độ 25±2oC, độ ẩm tương đối 50-60%). 
Mỗi thời điểm và mỗi vị trí được tiến hành đo 
3 lần, và các chỉ số TEWL và SCH trung bình 
của 3 lần đo được sử dụng cho phân tích thống 
kê sau đó. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 213 
Thiết bị đo 
Thiết bị GPSkin Barrier Pro đo đồng thời hai 
giá trị SCH và TEWL. SCH sử dụng phương 
pháp đo điện dung(4), TEWL sử dụng phương 
pháp đo buồng kín(5). 
Phương pháp phân tích số liệu 
Dữ liệu thô được nhập bằng phần mềm 
Microsoft Excel 2016. Tất cả các phân tích thống 
kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS, phiên 
bản 22.0 (SPSS Inc., Chicago, IL, US). 
Giá trị p <0,05 được coi là có ý nghĩa thống 
kê. Đồ thị được vẽ bằng phần mềm Microsoft 
Excel 2016. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 380/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 02/6/2020. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu 
Trong 60 sinh viên tham gia nghiên cứu có 
30 sinh viên nam (chiếm 50%) và 30 sinh viên 
nữ (chiếm 50%). Tuổi trung bình của dân số 
nghiên cứu là 22,5±1,50, trong đó tuổi nhỏ nhất 
là 18, tuổi lớn nhất là 25. Có 5 sinh viên (8,33%) 
có tiền căn sử dụng rượu bia trong 1 tháng gần 
đây và không có sinh viên nào hút thuốc lá. Có 
4 sinh viên (6,67%) có người thân trực hệ bị 
viêm da cơ địa. 
Động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và 
độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL) 
Các giá trị SCH theo thời gian của 3 vùng da 
không dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm 
muộn được thể hiện trong Hình 2. Chúng tôi 
nhận thấy xu hướng chung của SCH là tăng dần 
theo thời gian kể từ sau khi rửa tay. SCH mức 
nền và SCH thời điểm ngay trước khi bôi dưỡng 
ẩm (T0) có giá trị khoảng 20 a.u. Ở vùng da 
không dưỡng ẩm, SCH tăng dần và đạt đến mức 
có khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thời điểm 60’ 
(T60). Trong khi đó, các vùng da có dưỡng ẩm 
ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ngay 
từ thời điểm 30’ (T30) sau khi bôi dưỡng ẩm. 
Hình 2: Sự thay đổi của SCH (a.u) tại các vùng da theo thời gian 
Các giá trị TEWL theo thời gian của 3 vùng 
da không dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng 
ẩm muộn được thể hiện trong Hình 3. Chúng tôi 
nhận thấy xu hướng chung của TEWL là giảm 
dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay. TEWL 
mức nền và TEWL thời điểm ngay trước khi bôi 
dưỡng ẩm (T0) có giá trị khoảng 6 (g/m2/giờ), giá 
trị này giảm dần và có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê từ thời điểm 30’ sau khi bôi dưỡng ẩm. 
So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng 
ẩm và vùng da không dưỡng ẩm 
Khi so sánh SCH trung bình tại từng thời 
điểm giữa 3 nhóm không bôi dưỡng ẩm, dưỡng 
ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn, kết quả kiểm định 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 214 
ANOVA cho thấy SCH ở mức nền và ngay trước 
thời điểm bôi dưỡng ẩm không có sự khác biệt 
có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm. Sau khi bôi 
dưỡng ẩm, SCH tại vùng da có bôi dưỡng ẩm 
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với vùng da 
không bôi dưỡng ẩm (p <0,05) (Bảng 2). 
Khi so sánh TEWL trung bình từng thời 
điểm giữa 3 nhóm không bôi dưỡng ẩm, dưỡng 
ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn, kết quả kiểm định 
ANOVA cho thấy TEWL của 3 vùng da không 
khác biệt có ý nghĩa thống kê trước khi bôi 
dưỡng ẩm. Sau khi bôi dưỡng ẩm, TEWL ở vùng 
da có bôi dưỡng ẩm sớm và muộn thấp hơn có ý 
nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng 
ẩm (p <0,05) (Bảng 3). 
Hình 3: Sự thay đổi của TEWL (g/m2/giờ) tại các vùng da theo thời gian 
Bảng 2: So sánh SCH trung bình giữa các vùng da theo thời gian 
SCH (a.u.) Không dưỡng ẩm Dưỡng ẩm sớm Dưỡng ẩm muộn P 
Mức nền 19,3 (8,84) 17,4 (9,07) 20,8 (9,99) 0,382 
T0 19,5 (7,87) 17,0 (7,02) 21,5 (8,90) 0,177 
T30 19,2 (8,83) 49,6 (5,08) 52,1 (5,29) <0,001 
T60 21,7 (8,87) 49,1 (5,36) 50,8 (5,84) <0,001 
T120 21,4 (8,93) 48,3 (5,73) 49,3 (6,42) <0,001 
T180 22,0 (9,37) 47,8 (5,35) 49,4 (6,75) <0,001 
Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn) 
Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm one-way ANOVA 
Bảng 3: So sánh TEWL trung bình giữa các vùng da theo thời gian 
TEWL (g/m2/giờ) Không dưỡng ẩm Dưỡng ẩm sớm Dưỡng ẩm muộn P 
Mức nền 6,21 (2,47) 6,74 (3,25) 6,28 (3,17) 0,081 
T0 6,35 (2,30) 6,92 (2,66) 6,62 (2,72) 0,565 
T30 5,16 (1,97) 3,91 (1,92) 3,75 (1,80) <0,001 
T60 5,21 (2,44) 3,66 (1,73) 3,56 (1,55) <0,001 
T120 4,62 (1,73) 3,43 (1,61) 3,57 (1,84) <0,001 
T180 4,78 (1,84) 3,57 (1,74) 3,44 (1,57) <0,001 
Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn) 
Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm one-way ANOVA 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 215 
So sánh SCH và TEWL giữa nam và nữ ở vùng 
da không dưỡng ẩm 
Ở vùng da không bôi dưỡng ẩm, SCH tại tất 
cả các thời điểm ở nam giới cao hơn có ý nghĩa 
thống kê so với nữ giới (p <0,05). TEWL nhìn 
chung không có sự khác biệt giữa nam và nữ 
(Bảng 4). 
Bảng 4: So sánh TEWL và SCH giữa nam và nữ ở vùng da không dưỡng ẩm 
TEWL (g/m2/giờ) SCH (a.u.) 
Nam (n = 30) Nữ (n = 30) P Nam (n = 30) Nữ (n = 30) P 
Mức nền 6,87 (2,96) 6,06 (2,84) 0,284 21,9 (9,38) 16,6 (7,49) 0,019 
T0 6,89 (2,46) 5,80 (2,01) 0,065 22,0 (8,84) 17,0 (5,93) 0,013 
T30 5,70 (1,79) 4,62 (2,02) 0,032 21,9 (9,91) 16,4 (6,70) 0,015 
T60 5,32 (2,18) 5,10 (2,71) 0,730 24,6 (9,19) 18,7 (7,61) 0,009 
T120 5,16 (1,83) 4,08 (1,45) 0,014 24,5 (8,88) 18,4 (8,01) 0,007 
T180 4,88 (1,77) 4,68 (1,94) 0,678 25,5 (8,70) 18,5 (8,80) 0,003 
Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn) 
Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm Student’s t test 
BÀN LUẬN 
Động học SCH và tác động của chất dưỡng ẩm 
lên SCH 
Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của 
SCH là tăng dần theo thời gian kể từ sau khi rửa 
tay đến hết 180 phút của quá trình nghiên cứu. 
Khi lấy vùng da không bôi dưỡng ẩm làm nhóm 
chứng, SCH trung bình của vùng da bôi dưỡng 
ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn cao hơn có ý 
nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng 
ẩm (p <0,05). Như vậy, mặc dù SCH đều tăng ở 
cả 3 nhóm, mức độ tăng của nhóm có bôi dưỡng 
ẩm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm 
không bôi dưỡng ẩm. Kết quả này phù hợp với 
các nghiên cứu trước đây, chứng minh rằng chất 
dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc gia tăng độ ẩm 
lớp sừng thượng bì, từ đó cải thiện hàng rào bảo 
vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da(6). 
Vùng da có bôi dưỡng ẩm có tốc độ tăng 
SCH nhanh hơn so với vùng da không bôi 
dưỡng ẩm, thời điểm đầu tiên ghi nhận SCH cao 
hơn có ý nghĩa thống kê so với SCH mức nền là 
30 phút (p <0,05), trong khi vùng da không bôi 
dưỡng ẩm cần đến 60 phút để đạt được sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê. Sự khác biệt này xuất 
phát từ việc các chất dưỡng ẩm nhân tạo có hiệu 
quả ngay tức thì sau khi bôi, giúp lấp đầy các 
khoảng trống giữa các tế bào sừng, tạo nên một 
lớp màng bảo vệ trên da, giúp tăng độ ẩm lớp 
sừng thượng bì và giảm sự mất nước qua 
thượng bì(7). Ngược lại, vùng da không được bôi 
dưỡng ẩm cần thời gian dài hơn để các cơ chế 
làm ẩm tự nhiên phục hồi lại độ ẩm của da(2). Tốc 
độ tăng nhanh của SCH ở vùng da có bôi dưỡng 
ẩm phù hợp với kết quả nghiên cứu của Spada 
F(8), ghi nhận SCH tăng nhanh nhất và đạt đỉnh 
trong 2 giờ đầu sau khi bôi dưỡng ẩm, giữ mức 
SCH ổn định trong 4 giờ tiếp theo, sau đó SCH 
giảm dần cho tới thời điểm 24 giờ, nhưng vẫn 
cao hơn đáng kể về mặt thống kê so với mức nền 
được đo ban đầu. 
Mức độ gia tăng SCH ở vùng da có bôi 
dưỡng ẩm cao hơn so với vùng da không bôi 
dưỡng ẩm, từ mức SCH nền tương đương nhau 
ở cả 3 vùng da, sau 180 phút, SCH tăng hơn 
300% ở vùng da bôi dưỡng ẩm sớm và bôi 
dưỡng ẩm muộn, nhưng chỉ tăng 115% ở vùng 
da không bôi dưỡng ẩm. Kết quả này phù hợp 
với một nghiên cứu về động học độ ẩm da theo 
thời gian(6). Tuy nhiên, nghiên cứu này ghi nhận 
một đỉnh SCH ngắn hạn ở thời điểm 5 phút ngay 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 216 
sau khi dưỡng ẩm và SCH tại vùng da dưỡng 
ẩm tăng dưới 200% so với mức nền. Sự khác biệt 
này có khả năng là do phép đo SCH có thể bị 
nhiễu bởi các ion trong nước hoặc các chất làm 
mềm còn lại trên bề mặt da khi tiến hành đo 
ngay sau khi bôi dưỡng ẩm. Điều này được giảm 
thiểu trong nghiên cứu của chúng tôi bằng cách 
lau khô sau khi rửa tay và đợi 30 phút để chất 
dưỡng ẩm có thời gian được hấp thu trước khi 
tiến hành đo(6). 
Động học TEWL và tác động của chất dưỡng 
ẩm lên TEWL 
Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của 
TEWL là giảm dần theo thời gian kể từ sau khi 
rửa tay đến hết 180 phút của quá trình nghiên 
cứu. Khi lấy vùng da không bôi dưỡng ẩm làm 
nhóm chứng, TEWL từng thời điểm từ 30 phút 
kéo dài đến hết 180 phút của nhóm bôi dưỡng 
ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn thấp hơn có ý 
nghĩa thống kê so với nhóm không bôi dưỡng 
ẩm (p <0,05). Như vậy, mặc dù TEWL đều giảm 
ở cả 3 nhóm, mức độ giảm của nhóm có bôi 
dưỡng ẩm là nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so 
với nhóm không bôi dưỡng ẩm. Kết quả tương 
tự cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của 
Santoro F(9) thực hiện năm 2018 trên 20 người 
khỏe mạnh, cho thấy TEWL giảm nhiều hơn ở 
vùng da có dưỡng ẩm so với không dưỡng ẩm 
(p <0,05) 
Tốc độ giảm TEWL ở cả 3 nhóm là tương 
đương nhau, thời điểm đầu tiên ghi nhận TEWL 
cao hơn có ý nghĩa thống kê (p <0,05) so với 
TEWL mức nền là 30 phút ở cả 3 nhóm. Tốc độ 
giảm nhanh của TEWL ở vùng da có bôi dưỡng 
ẩm phù hợp với kết quả nghiên cứu của 
Lueangarun S(10) cho thấy TEWL giảm nhanh 
nhất trong 2 giờ đầu sau khi bôi dưỡng ẩm, duy 
trì trong 6 giờ tiếp theo và tăng dần từ thời điểm 
8 giờ sau khi bôi dưỡng ẩm. Xét riêng nhóm 
không bôi dưỡng ẩm, trong khi SCH cần 60 phút 
sau khi rửa tay để gia tăng có ý nghĩa thống kê 
so với SCH mức mền, TEWL chỉ cần 30 phút để 
giảm xuống có ý nghĩa thống kê so với TEWL 
nền. Điều này gợi ý rằng trong quá trình phục 
hồi độ ẩm tự nhiên của da, TEWL là chỉ số thay 
đổi sớm hơn SCH, có thể lý giải do sự gia tăng 
các chất giữ ẩm tự nhiên của da làm giảm lượng 
hơi nước thoát ra qua lớp thượng bì, kéo theo sự 
gia tăng độ ẩm lớp sừng da(2). 
Mức độ giảm của TEWL ở vùng da có bôi 
dưỡng ẩm nhiều hơn so với vùng da không bôi 
dưỡng ẩm. Từ mức TEWL nền tương đương 
nhau ở cả 3 vùng da, sau 180 phút, TEWL ở 
vùng da dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn 
giảm 40% so với TEWL nền, trong khi đó, TEWL 
ở vùng da không dưỡng ẩm giảm 20% so với 
TEWL nền. Kết quả này phù hợp với các nghiên 
cứu trước đây, chứng minh rằng chất dưỡng ẩm 
có hiệu quả trong việc giảm độ mất nước qua 
thượng bì (TEWL), từ đó cải thiện hàng rào bảo 
vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da(6,10). 
So sánh SCH và TEWL giữa nam và nữ ở vùng 
da không dưỡng ẩm 
Nghiên cứu của Luebberding S. và cộng sự(11) 
thực hiện tại Đức, trên 300 người khỏe mạnh, 
cho thấy SCH luôn cao hơn ở nam giới khi so 
sánh với nữ giới cùng độ tuổi cho đến 40 tuổi, từ 
40 tuổi trở đi, SCU của nam giảm theo tuổi tác, 
trong khi đó SCH ở nữ vẫn ổn định hoặc thậm 
chí gia tăng . Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
với dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 
22,5 1,50, ghi nhận SCH của nam cao hơn SCH 
của nữ tại tất cả các thời điểm ở vùng da không 
dưỡng ẩm (p <0,05). 
TEWL nhìn chung không có sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ. Nhiều nghiên 
cứu khác cũng không quan sát thấy nhiều sự 
khác biệt về TEWL giữa các giới tính(12,13). Trong 
khi đó một số nghiên cứu chỉ ra TEWL có sự 
khác biệt giữa nam và nữ (11,14). Như vậy, mối liên 
quan giữa TEWL và giới tính là không rõ ràng. 
Do đó, cần có thêm nghiên cứu tiếp theo với cỡ 
mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và khảo 
sát chi tiết hơn về TEWL giữa nam và nữ để 
khẳng định lại kết quả này. 
KẾT LUẬN 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy động học 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 217 
SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian 
từ sau khi rửa tay đến hết 180' của nghiên cứu. 
Chất dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc tăng độ 
ẩm lớp thượng bì (SCH) và giảm độ mất nước 
qua thượng bì (TEWL), từ đó cải thiện hàng rào 
bảo vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da. SCH ở 
nam cao hơn nữ, trong khi TEWL không có sự 
khác biệt giữa hai giới. Dựa trên các kết luận 
trên, chúng tôi đề nghị chất dưỡng ẩm nên được 
sử dụng ngay cả cho người có làn da khỏe mạnh, 
đặc biệt là nữ giới. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Dimitriades VR, Wisner E (2015). Treating pediatric atopic 
dermatitis: current perspectives. Pediatr Health Med Ther, 6:93–
99. 
2. Verdier-Sévrain S, Bonté F (2007). Skin hydration: a review on 
its molecular mechanisms. J Cosmet Dermatol, 6(2):75–82. 
3. Sethi A, Kaur T, Malhotra S, et al (2016). Moisturizers: The 
slippery road. Indian J Dermatol, 61(3):279. 
4. Darlenski R, Sassning S, Tsankov N, et al (2009). Non-invasive 
in vivo methods for investigation of the skin barrier physical 
properties. Eur J Pharm Biopharm, 72(2):295–303. 
5. Mündlein M, Valentin B, Chabicovsky R, et al (2008). 
Comparison of transepidermal water loss (TEWL) 
measurements with two novel sensors based on different 
sensing principles. Sens Actuators Phys, 142(1):67–72. 
6. Chiang C, Eichenfield LF (2009). Quantitative assessment of 
combination bathing and moisturizing regimens on skin 
hydration in atopic dermatitis. Pediatr Dermatol, 26(3):273–278. 
7. Lynde CW (2001). Moisturizers: what they are and how they 
work. Skin Ther Lett, 6(13):3–5. 
8. Spada F, Lui AH, Barnes TM (2019). Use of formulations for 
sensitive skin improves the visible signs of aging, including 
wrinkle size and elasticity. Clin Cosmet Investig Dermatol, 12:415–
425. 
9. Santoro F, Teissedre S (2018). A Novel Night Moisturizer 
Enhances Cutaneous Barrier Function in Dry Skin and 
Improves Dermatological Outcomes in Rosacea-prone Skin. J 
Clin Aesthetic Dermatol, 11(12):11–17. 
10. Lueangarun S, Tragulplaingam P, Sugkraroek S, et al (2019). 
The 24-hr, 28-day, and 7-day post-moisturizing efficacy of 
ceramides 1, 3, 6-II containing moisturizing cream compared 
with hydrophilic cream on skin dryness and barrier disruption 
in senile xerosis treatment. Dermatol Ther, 32(6):e13090. 
11. Luebberding S, Krueger N, Kerscher M (2013). Skin physiology 
in men and women: in vivo evaluation of 300 people including 
TEWL, SC hydration, sebum content and skin surface pH. Int J 
Cosmet Sci, 35(5):477–483. 
12. Firooz A, Sadr B, Babakoohi S, et al (2012). Variation of 
Biophysical Parameters of the Skin with Age, Gender, and Body 
Region. Sci World J, 2012:1–5. 
13. Chilcott RP, Farrar R (2000). Biophysical measurements of 
human forearm skin in vivo: effects of site, gender, chirality and 
time: Biophysical measurements of forearm skin. Skin Res 
Technol, 6(2):64–69. 
14. Mehta HH, Nikam VV, Jaiswal CR, et al (2018). A cross-
sectional study of variations in the biophysical parameters of 
skin among healthy volunteers. Indian J Dermatol Venereol Leprol, 
84(4):521. 
Ngày nhận bài báo: 11/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_duong_am_da_len_do_am_va_do_mat_nuoc_qua_thuong.pdf