Hiệu quả của dưỡng ẩm da lên độ ẩm và độ mất nước qua thượng bì trên sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Đặt vấn đề: Hàng rào thượng bì (HRTB) có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự mất nước của cơ
thể; tuy nhiên, tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với HRTB ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ.
Mục tiêu: Khảo sát động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL).
So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm; giữa nam và nữ.
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 60 sinh viên Đại học Y
Dược TP. Hồ Chí Minh có làn da khoẻ mạnh. SCH và TEWL được đo đạc và theo dõi trong 180 phút bằng thiết
bị GPSkin Barrier Pro.
Kết quả: Về động học, giá trị SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay.
Vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận SCH cao hơn (p <0,05) và="" tewl="" thấp="" hơn="" (p="">0,05)><0,05) so="" với="" vùng="" da="">0,05)>
dưỡng ẩm. SCH của nam cao hơn SCH của nữ (p <0,05) trong="" khi="" tewl="" không="" có="" sự="" khác="" biệt="" có="" ý="">0,05)>
thống kê giữa hai giới.
Kết luận: Chất dưỡng ẩm có hiệu quả khôi phục HRTB bằng cách làm tăng SCH và giảm TEWL nhanh và
nhiều hơn. Nữ có làn da khô hơn nam, do đó nhu cầu sử dụng chất dưỡng ẩm cao hơn.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của dưỡng ẩm da lên độ ẩm và độ mất nước qua thượng bì trên sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 211 HIỆU QUẢ CỦA DƯỠNG ẨM DA LÊN ĐỘ ẨM VÀ ĐỘ MẤT NƯỚC QUA THƯỢNG BÌ TRÊN SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Kim Hân1, Nguyễn Bùi Trọng Tín1, Huỳnh Trường Thịnh1, Lê Nguyễn Khánh Hoà1, Phạm Lê Duy2 TÓM TẮT Đặt vấn đề: Hàng rào thượng bì (HRTB) có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự mất nước của cơ thể; tuy nhiên, tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với HRTB ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ. Mục tiêu: Khảo sát động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL). So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm; giữa nam và nữ. Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 60 sinh viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh có làn da khoẻ mạnh. SCH và TEWL được đo đạc và theo dõi trong 180 phút bằng thiết bị GPSkin Barrier Pro. Kết quả: Về động học, giá trị SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay. Vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận SCH cao hơn (p <0,05) và TEWL thấp hơn (p <0,05) so với vùng da không dưỡng ẩm. SCH của nam cao hơn SCH của nữ (p <0,05) trong khi TEWL không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới. Kết luận: Chất dưỡng ẩm có hiệu quả khôi phục HRTB bằng cách làm tăng SCH và giảm TEWL nhanh và nhiều hơn. Nữ có làn da khô hơn nam, do đó nhu cầu sử dụng chất dưỡng ẩm cao hơn. Từ khoá: hàng rào thượng bì, dưỡng ẩm, độ ẩm lớp sừng thượng bì, độ mất nước qua thượng bì ABSTRACT EFFECT OF SKIN MOISTURIZING ON STRATUM CORNEUM HYDRATION AND TRANSEPIDERMAL WATER LOSS IN STUDENTS OF UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY AT HO CHI MINH CITY Nguyen Hoang Kim Han, Nguyen Bui Trong Tin, Huynh Truong Thinh, Le Nguyen Khanh Hoa, Pham Le Duy * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 211 - 217 Background: The skin barrier plays an essential role in preventing dehydration of the body. However, the moisturizer's effects on the skin barrier in healthy people are not well understood. Objectives: We examined the kinetic of stratum corneum hydration (SCH) and transepidermal water loss (TEWL) after bathing. Comparing the difference of SCH and TEWL between the moisturized and non- moisturized skins; as well as males and females. Methods: This is a cross-sectional study with 60 students of University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City. SCH and TEWL levels are measured and monitored for 180 minutes using the GPSkin Barrier Pro® device. Results: SCH levels were increased and TEWL were decreased over time after hand washing. Moisturized skins recorded higher SCH (p <0.05) and lower TEWL (p <0.05) compared to non-moisturized skins. The SCH levels of males were significantly higher than that of females (p <0.05), while TEWL levels were not different 1Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Bộ môn Sinh Lý – Sinh Lý Bệnh Miễn Dịch, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Tác giả liên lạc: TS.BS. Phạm Lê Duy ĐT: 0969-965-278 Email: [email protected] Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 212 between the two genders. Conclusion: Moisturizer should be recommended as a primary skincare step for everyone, including healthy people, to improve SCH and reduce TEWL more effectively. Women's skin was generally drier than men's skin, and moisturizer would help the skin to achieve optimal moisture in both sexes. Keyword: stratum corneum hydration, transepidermal water loss, moisturizing ĐẶT VẤN ĐỀ Da đóng vai trò như một hàng rào ngăn chặn sự mất nước của cơ thể, chủ yếu nhờ vào kết cấu gạch – vữa của lớp thượng bì, trong đó các tế bào sừng là những viên gạch còn lipid liên bào là vữa. Kết cấu này giúp duy trì độ ẩm cần thiết và tính toàn vẹn của da(1). Sự tổn thương hàng rào thượng bì có thể gây tăng độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL), giảm độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và biểu hiện trên lâm sàng là tình trạng khô da, sần sùi, bong tróc(2). Theo khuyến cáo của các tổ chức da liễu và dị ứng trên thế giới, các bệnh nhân viêm da cơ địa và vảy nến nên được bôi dưỡng ẩm thường xuyên như một bước cơ bản trong việc chăm sóc da để điều trị và phòng ngừa các đợt bùng phát(3). Tuy nhiên, kiến thức về tác dụng của chất dưỡng ẩm đối với hàng rào thượng bì ở người khỏe mạnh vẫn chưa được hiểu rõ. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm hiểu rõ hơn về sinh lý cân bằng độ ẩm và độ mất nước qua da, tạo tiền đề để xây dựng phác đồ chăm sóc da phù hợp cho người Việt Nam. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu 60 sinh viên Việt Nam (30 nam, 30 nữ) trong độ tuổi từ 18 đến 25 đang học tại Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh có làn da khỏe mạnh, không có sang thương da ở hai cánh tay tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, chưa từng được chẩn đoán các bệnh da tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ Các đối tượng có tiền sử phản ứng quá mẫn với các loại thuốc hoặc mỹ phẩm bôi tại chỗ; Các đối tượng hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng cà phê hoặc các chất kích thích trong vòng 24 giờ trước khi tiến hành nghiên cứu; Các đối tượng có tắm, rửa tay, bôi dưỡng ẩm, chất chống nắng vùng da cánh tay trong vòng 3 giờ trước khi tiến hành nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Mô tả cắt ngang. Quy trình nghiên cứu Bôi dưỡng ẩm ở ½ dưới cẳng tay phải ngay sau khi rửa tay (dưỡng ẩm sớm), bôi dưỡng ẩm ở ½ trên cẳng tay phải sau rửa tay 30 phút (dưỡng ẩm muộn), không bôi dưỡng ẩm ở cẳng tay trái (Hình 1). Hình 1: Quy trình nghiên cứu Các giá trị SCH và TEWL được đo tại mức nền, ngay trước khi bôi dưỡng ẩm và các thời điểm 30 phút, 60 phút, 120 phút, 180 phút sau khi bôi dưỡng ẩm. Các đối tượng được đo SCH và TEWL tại cùng một địa điểm, trong phòng kín gió, ánh sáng đèn huỳnh quang, có điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát (nhiệt độ 25±2oC, độ ẩm tương đối 50-60%). Mỗi thời điểm và mỗi vị trí được tiến hành đo 3 lần, và các chỉ số TEWL và SCH trung bình của 3 lần đo được sử dụng cho phân tích thống kê sau đó. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 213 Thiết bị đo Thiết bị GPSkin Barrier Pro đo đồng thời hai giá trị SCH và TEWL. SCH sử dụng phương pháp đo điện dung(4), TEWL sử dụng phương pháp đo buồng kín(5). Phương pháp phân tích số liệu Dữ liệu thô được nhập bằng phần mềm Microsoft Excel 2016. Tất cả các phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS, phiên bản 22.0 (SPSS Inc., Chicago, IL, US). Giá trị p <0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê. Đồ thị được vẽ bằng phần mềm Microsoft Excel 2016. Y đức Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP. HCM, số 380/ĐHYD-HĐĐĐ, ngày 02/6/2020. KẾT QUẢ Đặc điểm dịch tễ học của dân số nghiên cứu Trong 60 sinh viên tham gia nghiên cứu có 30 sinh viên nam (chiếm 50%) và 30 sinh viên nữ (chiếm 50%). Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 22,5±1,50, trong đó tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi lớn nhất là 25. Có 5 sinh viên (8,33%) có tiền căn sử dụng rượu bia trong 1 tháng gần đây và không có sinh viên nào hút thuốc lá. Có 4 sinh viên (6,67%) có người thân trực hệ bị viêm da cơ địa. Động học độ ẩm lớp sừng thượng bì (SCH) và độ mất hơi nước qua thượng bì (TEWL) Các giá trị SCH theo thời gian của 3 vùng da không dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn được thể hiện trong Hình 2. Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của SCH là tăng dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay. SCH mức nền và SCH thời điểm ngay trước khi bôi dưỡng ẩm (T0) có giá trị khoảng 20 a.u. Ở vùng da không dưỡng ẩm, SCH tăng dần và đạt đến mức có khác biệt có ý nghĩa thống kê ở thời điểm 60’ (T60). Trong khi đó, các vùng da có dưỡng ẩm ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ngay từ thời điểm 30’ (T30) sau khi bôi dưỡng ẩm. Hình 2: Sự thay đổi của SCH (a.u) tại các vùng da theo thời gian Các giá trị TEWL theo thời gian của 3 vùng da không dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn được thể hiện trong Hình 3. Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của TEWL là giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay. TEWL mức nền và TEWL thời điểm ngay trước khi bôi dưỡng ẩm (T0) có giá trị khoảng 6 (g/m2/giờ), giá trị này giảm dần và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 30’ sau khi bôi dưỡng ẩm. So sánh SCH và TEWL giữa vùng da có dưỡng ẩm và vùng da không dưỡng ẩm Khi so sánh SCH trung bình tại từng thời điểm giữa 3 nhóm không bôi dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn, kết quả kiểm định Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 214 ANOVA cho thấy SCH ở mức nền và ngay trước thời điểm bôi dưỡng ẩm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm. Sau khi bôi dưỡng ẩm, SCH tại vùng da có bôi dưỡng ẩm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng ẩm (p <0,05) (Bảng 2). Khi so sánh TEWL trung bình từng thời điểm giữa 3 nhóm không bôi dưỡng ẩm, dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn, kết quả kiểm định ANOVA cho thấy TEWL của 3 vùng da không khác biệt có ý nghĩa thống kê trước khi bôi dưỡng ẩm. Sau khi bôi dưỡng ẩm, TEWL ở vùng da có bôi dưỡng ẩm sớm và muộn thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng ẩm (p <0,05) (Bảng 3). Hình 3: Sự thay đổi của TEWL (g/m2/giờ) tại các vùng da theo thời gian Bảng 2: So sánh SCH trung bình giữa các vùng da theo thời gian SCH (a.u.) Không dưỡng ẩm Dưỡng ẩm sớm Dưỡng ẩm muộn P Mức nền 19,3 (8,84) 17,4 (9,07) 20,8 (9,99) 0,382 T0 19,5 (7,87) 17,0 (7,02) 21,5 (8,90) 0,177 T30 19,2 (8,83) 49,6 (5,08) 52,1 (5,29) <0,001 T60 21,7 (8,87) 49,1 (5,36) 50,8 (5,84) <0,001 T120 21,4 (8,93) 48,3 (5,73) 49,3 (6,42) <0,001 T180 22,0 (9,37) 47,8 (5,35) 49,4 (6,75) <0,001 Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn) Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm one-way ANOVA Bảng 3: So sánh TEWL trung bình giữa các vùng da theo thời gian TEWL (g/m2/giờ) Không dưỡng ẩm Dưỡng ẩm sớm Dưỡng ẩm muộn P Mức nền 6,21 (2,47) 6,74 (3,25) 6,28 (3,17) 0,081 T0 6,35 (2,30) 6,92 (2,66) 6,62 (2,72) 0,565 T30 5,16 (1,97) 3,91 (1,92) 3,75 (1,80) <0,001 T60 5,21 (2,44) 3,66 (1,73) 3,56 (1,55) <0,001 T120 4,62 (1,73) 3,43 (1,61) 3,57 (1,84) <0,001 T180 4,78 (1,84) 3,57 (1,74) 3,44 (1,57) <0,001 Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn) Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm one-way ANOVA Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 215 So sánh SCH và TEWL giữa nam và nữ ở vùng da không dưỡng ẩm Ở vùng da không bôi dưỡng ẩm, SCH tại tất cả các thời điểm ở nam giới cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ giới (p <0,05). TEWL nhìn chung không có sự khác biệt giữa nam và nữ (Bảng 4). Bảng 4: So sánh TEWL và SCH giữa nam và nữ ở vùng da không dưỡng ẩm TEWL (g/m2/giờ) SCH (a.u.) Nam (n = 30) Nữ (n = 30) P Nam (n = 30) Nữ (n = 30) P Mức nền 6,87 (2,96) 6,06 (2,84) 0,284 21,9 (9,38) 16,6 (7,49) 0,019 T0 6,89 (2,46) 5,80 (2,01) 0,065 22,0 (8,84) 17,0 (5,93) 0,013 T30 5,70 (1,79) 4,62 (2,02) 0,032 21,9 (9,91) 16,4 (6,70) 0,015 T60 5,32 (2,18) 5,10 (2,71) 0,730 24,6 (9,19) 18,7 (7,61) 0,009 T120 5,16 (1,83) 4,08 (1,45) 0,014 24,5 (8,88) 18,4 (8,01) 0,007 T180 4,88 (1,77) 4,68 (1,94) 0,678 25,5 (8,70) 18,5 (8,80) 0,003 Số liệu trong bảng được mô tả dưới dạng: Trung bình (độ lệch chuẩn) Giá trị P được so sánh bằng phép kiểm Student’s t test BÀN LUẬN Động học SCH và tác động của chất dưỡng ẩm lên SCH Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của SCH là tăng dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay đến hết 180 phút của quá trình nghiên cứu. Khi lấy vùng da không bôi dưỡng ẩm làm nhóm chứng, SCH trung bình của vùng da bôi dưỡng ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn cao hơn có ý nghĩa thống kê so với vùng da không bôi dưỡng ẩm (p <0,05). Như vậy, mặc dù SCH đều tăng ở cả 3 nhóm, mức độ tăng của nhóm có bôi dưỡng ẩm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không bôi dưỡng ẩm. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, chứng minh rằng chất dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc gia tăng độ ẩm lớp sừng thượng bì, từ đó cải thiện hàng rào bảo vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da(6). Vùng da có bôi dưỡng ẩm có tốc độ tăng SCH nhanh hơn so với vùng da không bôi dưỡng ẩm, thời điểm đầu tiên ghi nhận SCH cao hơn có ý nghĩa thống kê so với SCH mức nền là 30 phút (p <0,05), trong khi vùng da không bôi dưỡng ẩm cần đến 60 phút để đạt được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Sự khác biệt này xuất phát từ việc các chất dưỡng ẩm nhân tạo có hiệu quả ngay tức thì sau khi bôi, giúp lấp đầy các khoảng trống giữa các tế bào sừng, tạo nên một lớp màng bảo vệ trên da, giúp tăng độ ẩm lớp sừng thượng bì và giảm sự mất nước qua thượng bì(7). Ngược lại, vùng da không được bôi dưỡng ẩm cần thời gian dài hơn để các cơ chế làm ẩm tự nhiên phục hồi lại độ ẩm của da(2). Tốc độ tăng nhanh của SCH ở vùng da có bôi dưỡng ẩm phù hợp với kết quả nghiên cứu của Spada F(8), ghi nhận SCH tăng nhanh nhất và đạt đỉnh trong 2 giờ đầu sau khi bôi dưỡng ẩm, giữ mức SCH ổn định trong 4 giờ tiếp theo, sau đó SCH giảm dần cho tới thời điểm 24 giờ, nhưng vẫn cao hơn đáng kể về mặt thống kê so với mức nền được đo ban đầu. Mức độ gia tăng SCH ở vùng da có bôi dưỡng ẩm cao hơn so với vùng da không bôi dưỡng ẩm, từ mức SCH nền tương đương nhau ở cả 3 vùng da, sau 180 phút, SCH tăng hơn 300% ở vùng da bôi dưỡng ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn, nhưng chỉ tăng 115% ở vùng da không bôi dưỡng ẩm. Kết quả này phù hợp với một nghiên cứu về động học độ ẩm da theo thời gian(6). Tuy nhiên, nghiên cứu này ghi nhận một đỉnh SCH ngắn hạn ở thời điểm 5 phút ngay Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 216 sau khi dưỡng ẩm và SCH tại vùng da dưỡng ẩm tăng dưới 200% so với mức nền. Sự khác biệt này có khả năng là do phép đo SCH có thể bị nhiễu bởi các ion trong nước hoặc các chất làm mềm còn lại trên bề mặt da khi tiến hành đo ngay sau khi bôi dưỡng ẩm. Điều này được giảm thiểu trong nghiên cứu của chúng tôi bằng cách lau khô sau khi rửa tay và đợi 30 phút để chất dưỡng ẩm có thời gian được hấp thu trước khi tiến hành đo(6). Động học TEWL và tác động của chất dưỡng ẩm lên TEWL Chúng tôi nhận thấy xu hướng chung của TEWL là giảm dần theo thời gian kể từ sau khi rửa tay đến hết 180 phút của quá trình nghiên cứu. Khi lấy vùng da không bôi dưỡng ẩm làm nhóm chứng, TEWL từng thời điểm từ 30 phút kéo dài đến hết 180 phút của nhóm bôi dưỡng ẩm sớm và bôi dưỡng ẩm muộn thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không bôi dưỡng ẩm (p <0,05). Như vậy, mặc dù TEWL đều giảm ở cả 3 nhóm, mức độ giảm của nhóm có bôi dưỡng ẩm là nhiều hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không bôi dưỡng ẩm. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Santoro F(9) thực hiện năm 2018 trên 20 người khỏe mạnh, cho thấy TEWL giảm nhiều hơn ở vùng da có dưỡng ẩm so với không dưỡng ẩm (p <0,05) Tốc độ giảm TEWL ở cả 3 nhóm là tương đương nhau, thời điểm đầu tiên ghi nhận TEWL cao hơn có ý nghĩa thống kê (p <0,05) so với TEWL mức nền là 30 phút ở cả 3 nhóm. Tốc độ giảm nhanh của TEWL ở vùng da có bôi dưỡng ẩm phù hợp với kết quả nghiên cứu của Lueangarun S(10) cho thấy TEWL giảm nhanh nhất trong 2 giờ đầu sau khi bôi dưỡng ẩm, duy trì trong 6 giờ tiếp theo và tăng dần từ thời điểm 8 giờ sau khi bôi dưỡng ẩm. Xét riêng nhóm không bôi dưỡng ẩm, trong khi SCH cần 60 phút sau khi rửa tay để gia tăng có ý nghĩa thống kê so với SCH mức mền, TEWL chỉ cần 30 phút để giảm xuống có ý nghĩa thống kê so với TEWL nền. Điều này gợi ý rằng trong quá trình phục hồi độ ẩm tự nhiên của da, TEWL là chỉ số thay đổi sớm hơn SCH, có thể lý giải do sự gia tăng các chất giữ ẩm tự nhiên của da làm giảm lượng hơi nước thoát ra qua lớp thượng bì, kéo theo sự gia tăng độ ẩm lớp sừng da(2). Mức độ giảm của TEWL ở vùng da có bôi dưỡng ẩm nhiều hơn so với vùng da không bôi dưỡng ẩm. Từ mức TEWL nền tương đương nhau ở cả 3 vùng da, sau 180 phút, TEWL ở vùng da dưỡng ẩm sớm và dưỡng ẩm muộn giảm 40% so với TEWL nền, trong khi đó, TEWL ở vùng da không dưỡng ẩm giảm 20% so với TEWL nền. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, chứng minh rằng chất dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc giảm độ mất nước qua thượng bì (TEWL), từ đó cải thiện hàng rào bảo vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da(6,10). So sánh SCH và TEWL giữa nam và nữ ở vùng da không dưỡng ẩm Nghiên cứu của Luebberding S. và cộng sự(11) thực hiện tại Đức, trên 300 người khỏe mạnh, cho thấy SCH luôn cao hơn ở nam giới khi so sánh với nữ giới cùng độ tuổi cho đến 40 tuổi, từ 40 tuổi trở đi, SCU của nam giảm theo tuổi tác, trong khi đó SCH ở nữ vẫn ổn định hoặc thậm chí gia tăng . Trong nghiên cứu của chúng tôi, với dân số nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 22,5 1,50, ghi nhận SCH của nam cao hơn SCH của nữ tại tất cả các thời điểm ở vùng da không dưỡng ẩm (p <0,05). TEWL nhìn chung không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ. Nhiều nghiên cứu khác cũng không quan sát thấy nhiều sự khác biệt về TEWL giữa các giới tính(12,13). Trong khi đó một số nghiên cứu chỉ ra TEWL có sự khác biệt giữa nam và nữ (11,14). Như vậy, mối liên quan giữa TEWL và giới tính là không rõ ràng. Do đó, cần có thêm nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và khảo sát chi tiết hơn về TEWL giữa nam và nữ để khẳng định lại kết quả này. KẾT LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy động học Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 217 SCH tăng dần và TEWL giảm dần theo thời gian từ sau khi rửa tay đến hết 180' của nghiên cứu. Chất dưỡng ẩm có hiệu quả trong việc tăng độ ẩm lớp thượng bì (SCH) và giảm độ mất nước qua thượng bì (TEWL), từ đó cải thiện hàng rào bảo vệ da và duy trì sự toàn vẹn của da. SCH ở nam cao hơn nữ, trong khi TEWL không có sự khác biệt giữa hai giới. Dựa trên các kết luận trên, chúng tôi đề nghị chất dưỡng ẩm nên được sử dụng ngay cả cho người có làn da khỏe mạnh, đặc biệt là nữ giới. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Dimitriades VR, Wisner E (2015). Treating pediatric atopic dermatitis: current perspectives. Pediatr Health Med Ther, 6:93– 99. 2. Verdier-Sévrain S, Bonté F (2007). Skin hydration: a review on its molecular mechanisms. J Cosmet Dermatol, 6(2):75–82. 3. Sethi A, Kaur T, Malhotra S, et al (2016). Moisturizers: The slippery road. Indian J Dermatol, 61(3):279. 4. Darlenski R, Sassning S, Tsankov N, et al (2009). Non-invasive in vivo methods for investigation of the skin barrier physical properties. Eur J Pharm Biopharm, 72(2):295–303. 5. Mündlein M, Valentin B, Chabicovsky R, et al (2008). Comparison of transepidermal water loss (TEWL) measurements with two novel sensors based on different sensing principles. Sens Actuators Phys, 142(1):67–72. 6. Chiang C, Eichenfield LF (2009). Quantitative assessment of combination bathing and moisturizing regimens on skin hydration in atopic dermatitis. Pediatr Dermatol, 26(3):273–278. 7. Lynde CW (2001). Moisturizers: what they are and how they work. Skin Ther Lett, 6(13):3–5. 8. Spada F, Lui AH, Barnes TM (2019). Use of formulations for sensitive skin improves the visible signs of aging, including wrinkle size and elasticity. Clin Cosmet Investig Dermatol, 12:415– 425. 9. Santoro F, Teissedre S (2018). A Novel Night Moisturizer Enhances Cutaneous Barrier Function in Dry Skin and Improves Dermatological Outcomes in Rosacea-prone Skin. J Clin Aesthetic Dermatol, 11(12):11–17. 10. Lueangarun S, Tragulplaingam P, Sugkraroek S, et al (2019). The 24-hr, 28-day, and 7-day post-moisturizing efficacy of ceramides 1, 3, 6-II containing moisturizing cream compared with hydrophilic cream on skin dryness and barrier disruption in senile xerosis treatment. Dermatol Ther, 32(6):e13090. 11. Luebberding S, Krueger N, Kerscher M (2013). Skin physiology in men and women: in vivo evaluation of 300 people including TEWL, SC hydration, sebum content and skin surface pH. Int J Cosmet Sci, 35(5):477–483. 12. Firooz A, Sadr B, Babakoohi S, et al (2012). Variation of Biophysical Parameters of the Skin with Age, Gender, and Body Region. Sci World J, 2012:1–5. 13. Chilcott RP, Farrar R (2000). Biophysical measurements of human forearm skin in vivo: effects of site, gender, chirality and time: Biophysical measurements of forearm skin. Skin Res Technol, 6(2):64–69. 14. Mehta HH, Nikam VV, Jaiswal CR, et al (2018). A cross- sectional study of variations in the biophysical parameters of skin among healthy volunteers. Indian J Dermatol Venereol Leprol, 84(4):521. Ngày nhận bài báo: 11/12/2020 Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021
File đính kèm:
hieu_qua_cua_duong_am_da_len_do_am_va_do_mat_nuoc_qua_thuong.pdf

