Hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non

Giới thiệu: Trong điều trị chuyển dạ sinh non, việc cắt cơn co tử cung

được xem là một biện pháp có thể giúp kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng

48 giờ đầu tiên. Các loại thuốc được cấp phép sử dụng trong giảm cơn co tử

cung hiện nay là các thuốc nhóm ức chế calci và đối vận thụ thể oxytocine,

với Atosiban được đánh giá với ít tác dụng phụ trên mẹ và thai nhi.

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ

trên các thai phụ được chẩn đoán chuyển dạ sinh non.

Phương pháp: Đây là một nghiên cứu loạt ca, hồi cứu. Các hồ sơ

nhập viện vì chuyển dạ sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức, trong thời gian

từ 01/2015 đến 12/2015 và thỏa các tiêu chuẩn (1) tuổi thai từ 24 0/7

tuần đến 33 6/7 tuần, (2) đơn thai hay song thai, (3) sử dụng Atosiban

để cắt cơn co tử cung.

Yếu tố đánh giá kết quả bao gồm tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non

sau 48 giờ và sau 7 ngày cũng như kết cục sản khoa.

Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2015 – 12/2015, có 37 trường hợp

thỏa tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu. Trong quá trình điều trị, không tác

dụng phụ nào được ghi nhận. Tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non sau 48

giờ là 94,6% và trì hoãn chuyển dạ sau 7 ngày là 89,2%. Không có sự

khác biệt về hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non bằng Atosiban ở nhóm

thai phụ đơn thai và song thai. Trong tổng số 61 trẻ sinh sống, có 4 trường

hợp (13,8%) tử vong. Tất cả đều thuộc nhóm thai phụ có tuổi thai 24 0/7

tuần đến 27 6/7 tuần.

Kết luận: Atosiban có thể được sử dụng một cách an toàn và hiệu quả,

trong trì hoãn chuyển dạ sinh non, kể cả các thai kỳ đơn thai và song thai

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non

Hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non
PHAN HÀ MINH HẠNH, VŨ NHẬT KHANG, HÊ THANH NHÃ YẾN, HỒ NGỌC ANH VŨ, NGUYỄN KHÁNH LINH, ĐẶNG QUANG VINH
16
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Phan Hà Minh Hạnh(1), Vũ Nhật Khang(1), Hê Thanh Nhã Yến(1), Hồ Ngọc Anh Vũ(1), Nguyễn Khánh Linh(1), Đặng Quang Vinh(1,2) 
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM
HIỆU QUẢ CỦA ATOSIBAN
TRONG TRÌ HOÃN CHUYỂN DẠ SINH NON
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phan Hà Minh Hạnh, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/10/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
23/10/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/12/2016
Tóm tắt
Giới thiệu: Trong điều trị chuyển dạ sinh non, việc cắt cơn co tử cung 
được xem là một biện pháp có thể giúp kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng 
48 giờ đầu tiên. Các loại thuốc được cấp phép sử dụng trong giảm cơn co tử 
cung hiện nay là các thuốc nhóm ức chế calci và đối vận thụ thể oxytocine, 
với Atosiban được đánh giá với ít tác dụng phụ trên mẹ và thai nhi.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ 
trên các thai phụ được chẩn đoán chuyển dạ sinh non.
Phương pháp: Đây là một nghiên cứu loạt ca, hồi cứu. Các hồ sơ 
nhập viện vì chuyển dạ sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức, trong thời gian 
từ 01/2015 đến 12/2015 và thỏa các tiêu chuẩn (1) tuổi thai từ 24 0/7 
tuần đến 33 6/7 tuần, (2) đơn thai hay song thai, (3) sử dụng Atosiban 
để cắt cơn co tử cung. 
Yếu tố đánh giá kết quả bao gồm tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non 
sau 48 giờ và sau 7 ngày cũng như kết cục sản khoa.
Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2015 – 12/2015, có 37 trường hợp 
thỏa tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu. Trong quá trình điều trị, không tác 
dụng phụ nào được ghi nhận. Tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non sau 48 
giờ là 94,6% và trì hoãn chuyển dạ sau 7 ngày là 89,2%. Không có sự 
khác biệt về hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non bằng Atosiban ở nhóm 
thai phụ đơn thai và song thai. Trong tổng số 61 trẻ sinh sống, có 4 trường 
hợp (13,8%) tử vong. Tất cả đều thuộc nhóm thai phụ có tuổi thai 24 0/7 
tuần đến 27 6/7 tuần.
Kết luận: Atosiban có thể được sử dụng một cách an toàn và hiệu quả, 
trong trì hoãn chuyển dạ sinh non, kể cả các thai kỳ đơn thai và song thai.
Abstract 
EFFECTIVENESS OF ATOSIBAN IN THE 
TREATMENT OF PRETERM LABOR
Introduction: The purpose of tocolytic drug administration in preterm 
labor is to postpone threatening preterm delivery for 48 hours. Nifedipine 
Theo các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng, 
thuốc chẹn kênh calci và chất đối kháng Receptor 
Oxytocin hiện nay được xem là lựa chọn đầu tay 
đối với các nhà lâm sàng trong điều trị chuyển 
dạ sinh non [5], [6]. Chất đối kháng Receptor 
Oxytocin vẫn ưu tiên lựa chọn đầu tay vì tính hiệu 
quả và an toàn khi sử dụng kéo dài đối với sản phụ 
và thai nhi, đặc biệt trên các trường hợp song thai 
[6], [7], [8].
Atosiban đã được sử dụng thường quy tại bệnh 
viện Mỹ Đức trong điều trị chuyển dạ sinh non 
từ năm 2013. Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều 
nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng Atosiban 
trong cắt cơn co tử cung để trì hoãn chuyển dạ 
sinh non. 
2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu loạt ca, 
hồi cứu.
Đối tượng nghiên cứu
Các sản phụ được khám và điều trị chuyển dạ 
sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 1/2015 
đến tháng 12/2015.
a) Tiêu chuẩn nhận bệnh của nghiên cứu:
• Sản phụ từ 18 tuổi
• Song thai hoặc đơn thai
• Tuổi thai từ 24 0/7 tuần – 33 6/7 tuần
• Được chẩn đoán chuyển dạ sinh non với tiêu 
chuẩn sau: 
o Cơn co 2 cơn / 10 phút, cường độ 30 mmHg
o Cổ tử cung xóa trên 50%, mở dưới 3 cm
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 16 - 21, 2017
17
and atosiban, which are the approved medications for tocolysis, have comparable effectiveness in 
delaying birth for up to seven days.
Objective: To access the effectiveness of Atosiban in the treatment of preterm labor.
Methods: This was a retrospective study conducted in My Duc Hospital from the January 2015 to 
the December 2015. Patients with symptoms of preterm labor and using Atosiban were recruited.
Results: Thirty seven patients have been recruited in the study. Delaying delivery for 48 hours 
and 7 days were reported in 94,6% and 89,2% women treated with Atosiban. Maternal side effect 
was not reported in any case. There were no significant differences in the effect of Atosiban between 
singleton and twin pregnancies. There were 61 live births born with 4 infant deaths from the group 
between 24 0/7 and 27 6/7 weeks of gestation. 
Conclusion: Atosiban was effective in delaying preterm labor, in singletons and twin pregnancies.
1. Đặt vấn đề 
Sinh non là vấn đề quan tâm của gia đình, xã 
hội, của các cơ quan y tế tại các nước phát triển và 
đặc biệt đang phát triển. Theo nghiên cứu của tổ chức 
Y Tế thế giới, 50% tử vong sơ sinh do non tháng, 
70% tổn thương di chứng thần kinh do non tháng [1]. 
Cũng theo tác giả Monika – 2010, sinh non không 
những để lại hậu quả khá trầm trọng về hậu vận cho 
trẻ mà còn là một vấn đề tốn kém cho việc chăm sóc 
đặc biệt một trẻ sơ sinh non tháng [1]. Trẻ sinh non 
đối diện với các bênh lý nghiêm trọng như hội chứng 
suy hô hấp, xuất huyết não thất, viêm ruột hoại tử, 
chậm phát triển tâm thần kinh, bại não, bệnh lý phổi 
mạn tính, các rối loạn bệnh lý dạ dày ruột, thị lực và 
điếc bẩm sinh[2]. Việc phát hiện, điều trị chuyển dạ 
sinh non nhằm giảm tỉ lệ tử suất, bệnh suất ở trẻ sơ 
sinh, giảm gánh nặng cho cả gia đình và xã hội [3].
Tại Việt Nam, tỉ lệ sinh non gia tăng nhanh 
trong nhiều năm trở lại đây. Theo báo cáo của Bộ 
Y tế, năm 2011, tỉ lệ trẻ sinh non/nhẹ cân chiếm 
19% trong mô hình bệnh tật của trẻ sơ sinh; tỉ lệ tử 
vong sơ sinh chiếm 59% số tử vong trẻ dưới 5 tuổi 
và 70,4% tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi, theo Hội Phụ 
Sản Việt Nam 2016. 
Trong điều trị chuyển dạ sinh non, việc cắt cơn 
co tử cung được xem là một biện pháp có thể giúp 
kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng 48 giờ đầu tiên 
[2]. Mục tiêu là có đủ thời gian cho mũi tiêm hỗ trợ 
trưởng thành phổi có tác dụng hay/và có đủ thời 
gian để chuyển thai phụ đến các cơ sở y tế có các 
phương tiện hồi sức sơ sinh chuyên sâu [3], [4].
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
PHAN HÀ MINH HẠNH, VŨ NHẬT KHANG, HÊ THANH NHÃ YẾN, HỒ NGỌC ANH VŨ, NGUYỄN KHÁNH LINH, ĐẶNG QUANG VINH
18
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
• Được tư vấn và điều trị bằng Atosiban duy trì 
chuyển dạ sinh non.
b) Tiêu chuẩn loại bệnh của nghiên cứu
• Các trường hợp chẩn đoán vỡ ối có nguy cơ 
nhiễm trùng ối.
• Các trường hợp thai kỳ cần chấm dứt chuyển 
dạ (thai suy, nhau bong non, tiền sản giật có triệu 
chứng nặng). 
• Thai nhi có dị tật bẩm sinh. 
Cách tiến hành nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu các hồ sơ bệnh án của bệnh 
nhân, thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh như đã nêu 
trong thời gian 01/01/2015 đến 31/12/2015 tại 
bệnh viện Mỹ Đức.
Lựa chọn các đối tượng nghiên cứu phù hợp sau 
khi đánh giá các tiêu chẩn nhận và loại bệnh nhân 
theo tiêu chuẩn chọn mẫu.
Bệnh nhân được điều trị dựa vào phác đồ 
Atosiban điều trị chuyển dạ sinh non tại bệnh viện 
Mỹ Đức như sau:
• Liều tấn công: bolus 0,9 mg trong 1 phút. 
• Sau đó truyền tấn công 24 ml/h trong 3h: Pha 
4,1 ml trong 37 ml Ringer Lactat truyền TM 24 ml/h 
• Lọ thứ 2: 37,5 mg/5ml pha trong 45ml Ringer 
Lactat: truyền TM 24ml/h với 31 ml dịch pha. 
Còn 19 ml sẽ truyền TM 8 ml/h
• Liều duy trì: Từ lọ thứ 4 đến lọ thứ 9: 37,5 
mg/5ml pha trong 45 ml Ringer Lactat truyền 
TM 8ml/h.
Ngưng Atosiban sau điều trị theo phác đồ 48 giờ.
Lặp lại điều trị Atosiban nếu xuất hiện cơn co 
tử cung theo tiêu chuẩn chuyển dạ sinh non sau 48 
tiếng điều trị.
Hình 1: Phác đồ sử dụng Atosiban tại Bệnh viện Mỹ Đức
Không lặp lại quá 4 đợt điều trị Atosiban trong 
một thai kỳ.
Yếu tố đánh giá kết quả
Yếu tố đánh giá kết quả chính là tỷ lệ trì hoãn 
chuyển dạ sinh non trong 48 tiếng. Các tỷ lệ trì 
hoãn chuyển da sinh non trong 7 ngày, số ngày trì 
hoãn chuyển dạ sinh non và kết cục sản khoa được 
sử dụng làm yếu tố đánh giá kết quả phụ.
Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, dựa vào 
bảng câu hỏi có sẵn. Các biến số được nhập và 
quản lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả được 
trình bày dưới dạng số trung bình, phần trăm. Chi 
bình phương được sử dụng nhằm kiểm định sự khác 
biệt giữa các tỷ lệ. Kiểm định t được sử dụng nhằm 
kiểm định sự khác biệt giữa các số trung bình. Hồi 
quy logistics đơn biến được sử dụng để xác định ảnh 
hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc (thời 
gian trì hoãn chuyển dạ sinh non). Các yếu tố tiên 
lượng có giá trị p < 0,25 được đưa vào phân tích 
đa biến. Ngưỡng có ý nghĩa thống kê là p < 0,05.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu 
Trong thời gian từ tháng 1/ 2015 đến tháng 
12/ 2015 có 37 sản phụ phù hợp với tiêu chuẩn 
nhận loại bệnh được đưa vào nghiên cứu. Các đặc 
điểm của mẫu nghiên cứu được trình bày trong 
bảng 1. Trong đó trường hợp song thai trong mẫu 
nghiên cứu chiếm 64,9%.
Tuổi thai trung bình khi bắt đầu điều trị: nhóm 
24 0/7 tuần – 27 6/7 tuần chiếm 48,6%. Số đợt 
Tuổi vợ (năm) 29,9 ± 3,8
< 30 21 (56,8%)
30 – 35 13 (35,1%)
> 36 3 (8,1%)
Tiền thai
Sinh lần 1 28 (75,7%)
Sinh lần 2 7 (18,9%)
Sinh lần 3 2 (5,4%)
Tiền căn sinh non/sảy thai to
Có 5 (13,5%)
Không 32 (86,5%)
Số thai
Đơn thai 13 (35,1%)
Song thai 24 (64,9%)
Bệnh lý nội khoa kèm
Tiền sản giật 2 (5,4%)
Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 16 - 21, 2017
19
sử dụng Atosiban trung bình là 1,9 ± 1,1. Không 
có trường hợp nào có tác dụng phụ được ghi nhận 
trong quá trình điều trị.
3.2 Hiệu quả điều trị
Tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ khi sử dụng Atosiban sau 
48 tiếng và sau 07 ngày lần lượt là 94,6% và 89,2%. 
Trong đó, nhóm thai phụ < 28 tuần có thời gian trì 
hoãn chuyển dạ trung bình là 40 ngày (hình 3).
Không có sự khác biệt trong hiệu quả trì hoãn 
chuyển dạ sinh non của Atosiban giữa nhóm song 
thai hay đơn thai (p>0,05).
Khi phân tích hồi quy đa biến, chúng tôi thấy 
rằng không có sự liên quan giữa các yếu tố tuổi mẹ, 
N= 37 Khoảng
Tuổi thai khi điều trị (tuần)
24 0/7 – 27 6/7 tuần 18 (48,6%)
28 0/7 – 31 6/7 tuần 15 (40,5%)
32 0/7 – 34 0/7 tuần 4 (10,9%)
Số đợt điều trị trung bình 1,9 (1,1) 1-4
1 đợt 20 (54,1%)
2 đợt 8 (21,6%)
3 đợt 3 (8,1%)
4 đợt 6 (16,2%)
Tác dụng phụ ghi nhận 0 (0%)
Bảng 2: Tuổi thai bắt đầu điều trị, số đợt điều trị trung bình và tác dụng phụ của Atosiban
Hình 2: Số đợt điều trị Atosiban theo nhóm tuổi thai
Hình 3: Số ngày trì hoãn chuyển dạ sinh non trung bình theo nhóm tuổi thai
Hình 4: Thời gian trì hoãn chuyển dạ của Atosiban theo số lượng thai.
tiền căn sinh non, sẩy thai hay các biện pháp dự 
phòng sinh non hay tuổi thai lúc bắt đầu điều trị đến 
khả năng trì hoãn chuyển dạ sinh non của Atosiban.
3.3 Kết cục sản khoa
Kết cục sản khoa được trình bày trong bảng 
3. Có 61 trẻ sinh sống, trong đó, 4 trường hợp tử 
vong trong 24 giờ đầu sau sinh ở nhóm sản phụ có 
tuổi thai < 28 tuần.
4. Bàn luận
Chuyển dạ sinh non được khởi phát khi có 
sự thay đổi của CTC, màng ối và quan trọng là 
sự xuất hiện của cơn co tử cung. Kết quả của 
một tổng quan hệ thống gần đây nhất cho thấy 
các loại thuốc cắt cơn co tử cung không có hiệu 
quả trong giảm tỷ lệ sinh non [9]. Tuy nhiên, trì 
hoãn cuộc chuyển dạ giúp có đủ thời gian để 
liều corticosteroids có tác dụng, có thời gian để 
sử dụng magnesium sulphate dự phòng các tổn 
thương thần kinh và chuyển lên các bệnh viện 
tuyến trên với đơn vị hồi sức tích cực cho sơ sinh. 
Ngoài ra, trong những thai kỳ cực non (dưới 28 
tuần tuổi thai), trì hoãn chuyển dạ có thể giúp kéo 
dài thêm thời gian thai nhi trong tử cung, giúp hạn 
chế tỷ lệ tử vong và các biến chứng của sơ sinh cực 
non [10]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho 
24 0/7 – 27 6/7
n = 18
28 0/7 – 31 6/7
n = 15
32 0/7 – 34 0/7
n = 4
Tuổi thai lúc sinh 31,2 ± 4,3[25 – 38]
35,1 ± 2,9
[30,2 – 39]
35,9 ± 2,3
[32,5 – 37,7]
Số trẻ sinh sống 29 28 4
Số trẻ có biến chứng
Tử vong 4 (13,8%) 0 (0%) 0(0%)
Suy hô hấp 9 (31,1%) 7 (25%) 1 (25%)
Nhiễm trùng sơ sinh 9 (31,1%) 5 (17,9%) 2 (50%)
Bảng 3: Kết cục thai kỳ sau điều trị bằng Atosiban
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
PHAN HÀ MINH HẠNH, VŨ NHẬT KHANG, HÊ THANH NHÃ YẾN, HỒ NGỌC ANH VŨ, NGUYỄN KHÁNH LINH, ĐẶNG QUANG VINH
20
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
thấy, sử dụng Atosiban có hiệu quả và an toàn 
trong trì hoãn chuyển dạ sinh non.
Nhiều loại thuốc được sử dụng để cắt cơn co tử 
cung để trì hoãn chuyển dạ sinh non, trong đó phổ 
biến nhất là nhóm betamimetics (Salbutamol), chẹn 
kênh can-xi (Nifedipin) và gần đây là nhóm cạnh 
tranh thụ thể oxytocin (Atosiban). Hiệu quả cắt cơn 
co tử cung trong chuyển dạ sinh non của các nhóm 
này đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu. Trong 
một nghiên cứu tổng quan hệ thống gần đây nhất, 
số liệu cho thấy, so với nhóm Betamimetic, hiệu 
quả trì hoãn chuyển dạ sau 48 tiếng của Atosiban 
và Betamimetics không khác biệt (RR 0,89, 95% CI 
0,66 -1,22); 8 nghiên cứu trên 1389 sản phụ) [7]. 
Tỉ lệ bệnh suất và tử suất sơ sinh ở cả hai nhóm là 
tương đương. Tuy nhiên, nhóm sử dụng Atosiban 
ghi nhận tác dụng phụ ít hơn, nên tỷ lệ bỏ điều 
trị thấp hơn [7]. Hiệu quả trì hoãn chuyển dạ của 
Atosiban và Nifedipine cũng được khảo sát qua 
2 nghiên cứu RCT trên 225 thai phụ. Kết quả cho 
thấy cả hai can thiệp có tác dụng tương đương trên 
tỷ lệ sinh non (RR 1,09; 95% CI 0,44 - 2,73). Tuy 
nhiên, nhóm sản phụ sử dụng Atosiban có ít tác 
dụng phụ hơn so với nhóm Nifedipine (RR 0,38; 
95% CI 0,21 – 0,68; 2 nghiên cứu trên 225 sản 
phụ) [7]. Thông qua quá trình thống kê, nghiên cứu 
của chúng tôi cho hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh 
non của Atosiban (94,6% - 98,2%) tương tự với kết 
quả nghiên cứu hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh 
non sau 48 tiếng và 7 ngày bằng Atosiban của 
Moutquin và cộng sự năm 2000 (88,1% - 79,7%) 
và nghiên cứu của Kashanian và cộng sự năm 
2005 (82,5%-88,1%) [11], [12].
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có đến 
64,9% là song thai. Kết quả cho thấy rằng, việc 
sử dụng Atosiban trì hoãn chuyển dạ sinh non có 
hiệu quả tương đương trên cả thai kỳ song thai và 
đơn thai. Hiện nay các nghiên cứu đưa ra các dữ 
liệu về hiệu quả của các thuốc cắt cơn co tử cung 
đối với các sản phụ song thai hay đa thai còn hạn 
chế [9]. Một điều đáng lưu ý rằng thai kỳ đa thai 
sẽ đi kèm với sự gia tăng thể tích tuần hoàn mẹ, có 
sự gia tăng thứ phát sản xuất Aldosterone so với 
đơn thai. Betamimetics được biết làm tăng cả lượng 
aldosterone và renin, từ đó gây tăng lưu lượng tuần 
hoàn, tăng nguy cơ phù phổi cấp ở sản phụ song 
thai sử dụng betamimetics [10]. Trong khi đó, chất 
ức chế kênh calci lại làm mất căng bằng hệ thống 
tim mạch của người mẹ, đặc biệt trên sản phụ song 
thai đã có sự gia tăng tuần hoàn máu mẹ, do vậy 
theo RCOG chống chỉ định sử dụng ức chế kênh 
calci trên thai kỳ song thai [13]. Như vậy, sử dụng 
Atosiban với hiệu quả tương đương, tác dụng phụ 
thấp hơn, có thể được xem là lựa chọn đầu tay, 
biện pháp điều trị hiệu quả và an toàn chuyển dạ 
sinh non đối với thai kỳ nguy cơ và song thai.
Hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non của 
Atosiban có thể bị ảnh hưởng bởi tuổi thai khi điều 
trị. Theo hướng dẫn sử dụng, Atosiban được chỉ 
định trong các trường hợp chuyển dạ sinh non từ 
tuổi thai 24 đến 34 tuần. Đối với nhóm đơn thai 
tuổi thai 24 - 28 tuần, một số nghiên cứu chứng 
cứ ghi nhận vai trò của Atosiban trong trì hoãn 
chuyển dạ sinh non đến 7 ngày, một số nghiên 
cứu khác thì không ghi nhận có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê về tỉ lệ sinh non đối với nhóm có 
tuổi thai dưới 28 tuần được điều trị chuyển dạ sinh 
non bằng Atosiban [7]. Tuy nhiên, việc sử dụng 
Atosiban giúp trì hoãn chuyển dạ sinh non hiệu 
quả, giúp kéo dài thai kỳ ở những thai kỳ sớm, với 
ít tác dụng phụ trong điều trị [10]. Qua đó làm 
tăng tỉ lệ sống, giảm tỉ lệ tử vong ở nhóm thai kỳ 
này [14]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời 
gian trì hoãn chuyển dạ trung bình sau sử dụng 
Atosiban, trên nhóm tuổi thai từ 24 0/7 tuần – 27 
6/7 tuần là 40 ngày, tương đương 6 tuần thai. Kết 
quả này dẫn đến tỷ lệ tử vong sau sinh ở nhóm thai 
phụ có chuyển dạ sinh non < 28 tuần giảm xuống 
còn 13,8%.
Bên cạnh tính hiệu quả, tính an toàn đối với 
sản phụ và thai nhi của các dược chất can thiệp 
cũng cần được quan tâm. Trong bối cảnh mà hiệu 
quả cắt cơn co của các dược chất là tương đương 
nhau, tác dụng phụ khi sử dụng được xem là yếu 
tố chính quyết định việc lựa chọn dược chất điều 
trị. So với nhóm Betamimetic (gây rối loạn nhịp 
tim mẹ và tim thai), Nifedipin (rối loạn cung cấp 
máu thai nhi hay chống chỉ định đối với song thai), 
Atosiban có ít tác dụng phụ trên cả thai và mẹ. Các 
tác dụng phụ của Atosiban ghi nhận qua hầu hết 
các nghiên cứu: nôn, buồn nôn, đau đầu, với tỉ lệ 
gặp dưới 10% bệnh nhân [6]. Tác dụng phụ thấp 
nên khả năng thích nghi của bệnh nhân tốt hơn đối 
với Atosiban. Ngoài ra, sử dụng kéo dài Atosiban 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 16 - 21, 2017
21
không làm tăng tuần hoàn qua nhau thai, do vậy 
không tăng tích luỹ nồng độ Atosiban trong thai 
nhi. Atosiban không ảnh hưởng đến tưới máu mô 
nhau thai và thay đổi hoạt động tim thai [13]. Do 
vậy khi sử dụng Atosiban lâu dài, không cần khảo 
sát và theo dõi sát tim thai trong quá trình điều trị 
và duy trì. Trong nghiên cứu của chúng tôi, không 
có tác dụng phụ nào được ghi nhận trong toàn bộ 
quá trình điều trị.
Trở ngại lớn nhất hiện nay của Atosiban là chi 
phí điều trị. Tuy nhiên, khi đánh giá chi phí điều trị 
cho việc cắt cơn co tử cung, chi phí điều trị cho các 
tác dụng phụ, khả năng thất bại khi chuyển qua các 
điều trị khác, kết quả nghiên cứu của Siassako và 
cộng sự năm 2009 cho thấy việc sử dụng Atosiban 
giúp tiết kiệm khoảng 9000 bảng/1 năm so với 
Nifedipin [15], [16]. Do đó, việc tư vấn cho sản 
phụ và thân nhân trước khi điều trị là rất cần thiết. 
Hạn chế của nghiên cứu chúng tôi là cỡ mẫu 
nghiên cứu chưa đủ lớn và là nghiên cứu hồi cứu. 
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay tại Việt Nam, 
đây là một trong những nghiên cứu có số ca lớn 
đầu tiên, cung cấp các dữ liệu về hiệu quả của 
Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non trên 
các thai phụ đơn thai và song thai.
5. Kết luận
Atosiban giúp trì hoãn chuyển dạ sinh non 
94,5% trường hợp sau 48 tiếng và 89,2% trường 
hợp sau 7 ngày điều trị. Hiệu quả cắt cơn co tử 
cung không khác biệt giữa thai kỳ song thai và 
đơn thai. 
Tài liệu tham khảo
1. Lawn JE, Mwansa-Kambafwile J, Horta BL, Barros FC, Cousens S. 
Kangaroo mother care to prevent neonatal deaths due to preterm birth 
complications. Int J Epidemiol. 2010;39 Suppl 1:i144–54.
2. Managing complications in pregnancy and childbirth: a guide for 
midwives and doctors. Geneva: World Health Organization, Department of 
Reproductive Health and Research; 2000, reprint 2007 (
reproductivehealth/publications/maternal_ perinatal_health/9241545879/
en/, accessed 9 July 2015). 
3. March of Dimes, The Partnership for Maternal, Newborn and Child 
Health (PMNCH), Save the Children, World Health Organization (WHO). 
Howson CP, Kinney MV, Lawn JE, editors. Born too soon: the global action 
report on preterm birth. Geneva: WHO; 2012 (
child_adolescent/documents/ born_too_soon/en/, accessed 9 July 2015).
4. Amiya RM ML, Ota E, Suwa T, Mori R, Oladapo OT. Antenatal 
corticosteroids for reducing adverse maternal and child outcomes 
in special populations of women at risk of imminent preterm birth: a 
systematic review and metaanalysis. 2014 (unpublished).
5. Celine Miyazaki1, Ralfh Garcia Moreno1, Erika Ota1*, Toshiyuki 
Swa2, Olufemi T. Oladapo3 and Rintaro Mori. Tocolysis for inhibiting 
preterm birth in extremely preterm birth, multiple gestations and in growth-
restricted fetuses: a systematic review and meta-analysis. Reproductive 
Health (2016) 13:4.
6. Di Renzo GC, Rosati A, Burnelli L et al. Long term use of atosiban 
versus ritodrine in the management of threatened early preterm labor. 
Presented at: The 1st SGI International Summit on Preterm Birth, Siena, 
Italy, Nov 10–12, Society of Gynecologic Investigation, 218 (2005).
7. Flenady V, Reinebrant HE, Liley HG, Tambimuttu EG, Papatsonis 
DNM. Oxytocin receptor antagonists for inhibiting preterm labour. 
Cochrane Database of Systematic Reviews 2014, Issue 6. Art. No.: 
CD004452. DOI: 10.1002/14651858.CD004452.pub3.
8. Gian Carlo Di Renzo. Safety and efficacy of new drugs in preterm 
labor. Expert Rev. Obstet. Gynecol. 2(1), 19–24 (2007). 
9. Miyazaki C, Garcia RM, Ota E, Swa T, Oladapo OT, Mori R. Tocolysis 
for inhibiting preterm birth in extremely preterm birth, multiple gestations 
and in growth-restricted fetuses: a systematic review and meta-analysis 
reproductive health. Reprod Health. 2016;13:4. 
10. Di Renzo GC, Rosati A, Burnelli L et al. Long term use of atosiban 
versus ritodrine in the management of threatened early preterm labor. 
Presented at: The 1st SGI International Summit on Preterm Birth, Siena, 
Italy, Nov 10–12, Society of Gynecologic Investigation, 218 (2005). 
11. Moutquin JM, Sherman D, Cohen H, Mohide PT, Celnikier DH, 
Fejgin M, et al. Double-blind, randomized controlled trial of atosiban and 
ritodrine in the treatment of preterm labor: a Atosiban and nifedipin for the 
treatment of preterm labor 13 multicenter effectiveness and safety study. 
Isr J Obstet Gynecol 2000;182(5):1191 – 9. 
12. Kashanian M, Akbarian AR, Soltanzadeh M. Atosiban and nifedipin for 
the treatment of preterm labor. Int J Gynecol Obstet 2005;91(1):10–4. (10)
13. Valenzuela GJ, Sanchez-Ramos L, Romero R, Silver HM, Koltun WD, 
Millar L, et al. Mantenance treatment of preterm labor with the oxytocin 
antagonist atosiban. The Atosiban PTL-098 Study Group. American 
Journal of Obstetrics and Gynaecology. 2000;182:1184–90. 
14. Field D, Draper ES, Fenton A, Papiernik E, Zeitlin J, Blondel B, et al. 
Rates of very preterm birth in Europe and neonatal mortality rates. Arch 
Dis Child Fetal Neonatal Ed 2009; 94:F253-6.
15. Siassakos D., O’Brien K., Draycott T. Healthcare evaluation of the 
use of atosiban and fibronectin for the management of pre-term labour. J 
Obstet Gynaecol. 2009;29(August (6)):507-511.
16. Wex J., Connolly M., Rath W. Atosiban versus betamimetics in the 
treatment of preterm labour in Germany: an economic evaluation. BMC 
Pregnancy Childbirth. 2009;9:23.
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_atosiban_trong_tri_hoan_chuyen_da_sinh_non.pdf