Hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non
Giới thiệu: Trong điều trị chuyển dạ sinh non, việc cắt cơn co tử cung
được xem là một biện pháp có thể giúp kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng
48 giờ đầu tiên. Các loại thuốc được cấp phép sử dụng trong giảm cơn co tử
cung hiện nay là các thuốc nhóm ức chế calci và đối vận thụ thể oxytocine,
với Atosiban được đánh giá với ít tác dụng phụ trên mẹ và thai nhi.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ
trên các thai phụ được chẩn đoán chuyển dạ sinh non.
Phương pháp: Đây là một nghiên cứu loạt ca, hồi cứu. Các hồ sơ
nhập viện vì chuyển dạ sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức, trong thời gian
từ 01/2015 đến 12/2015 và thỏa các tiêu chuẩn (1) tuổi thai từ 24 0/7
tuần đến 33 6/7 tuần, (2) đơn thai hay song thai, (3) sử dụng Atosiban
để cắt cơn co tử cung.
Yếu tố đánh giá kết quả bao gồm tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non
sau 48 giờ và sau 7 ngày cũng như kết cục sản khoa.
Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2015 – 12/2015, có 37 trường hợp
thỏa tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu. Trong quá trình điều trị, không tác
dụng phụ nào được ghi nhận. Tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non sau 48
giờ là 94,6% và trì hoãn chuyển dạ sau 7 ngày là 89,2%. Không có sự
khác biệt về hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non bằng Atosiban ở nhóm
thai phụ đơn thai và song thai. Trong tổng số 61 trẻ sinh sống, có 4 trường
hợp (13,8%) tử vong. Tất cả đều thuộc nhóm thai phụ có tuổi thai 24 0/7
tuần đến 27 6/7 tuần.
Kết luận: Atosiban có thể được sử dụng một cách an toàn và hiệu quả,
trong trì hoãn chuyển dạ sinh non, kể cả các thai kỳ đơn thai và song thai
Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non
PHAN HÀ MINH HẠNH, VŨ NHẬT KHANG, HÊ THANH NHÃ YẾN, HỒ NGỌC ANH VŨ, NGUYỄN KHÁNH LINH, ĐẶNG QUANG VINH 16 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 02 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Phan Hà Minh Hạnh(1), Vũ Nhật Khang(1), Hê Thanh Nhã Yến(1), Hồ Ngọc Anh Vũ(1), Nguyễn Khánh Linh(1), Đặng Quang Vinh(1,2) (1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM HIỆU QUẢ CỦA ATOSIBAN TRONG TRÌ HOÃN CHUYỂN DẠ SINH NON Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phan Hà Minh Hạnh, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 15/10/2016 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 23/10/2016 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 30/12/2016 Tóm tắt Giới thiệu: Trong điều trị chuyển dạ sinh non, việc cắt cơn co tử cung được xem là một biện pháp có thể giúp kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng 48 giờ đầu tiên. Các loại thuốc được cấp phép sử dụng trong giảm cơn co tử cung hiện nay là các thuốc nhóm ức chế calci và đối vận thụ thể oxytocine, với Atosiban được đánh giá với ít tác dụng phụ trên mẹ và thai nhi. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ trên các thai phụ được chẩn đoán chuyển dạ sinh non. Phương pháp: Đây là một nghiên cứu loạt ca, hồi cứu. Các hồ sơ nhập viện vì chuyển dạ sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức, trong thời gian từ 01/2015 đến 12/2015 và thỏa các tiêu chuẩn (1) tuổi thai từ 24 0/7 tuần đến 33 6/7 tuần, (2) đơn thai hay song thai, (3) sử dụng Atosiban để cắt cơn co tử cung. Yếu tố đánh giá kết quả bao gồm tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non sau 48 giờ và sau 7 ngày cũng như kết cục sản khoa. Kết quả: Trong thời gian từ tháng 01/2015 – 12/2015, có 37 trường hợp thỏa tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu. Trong quá trình điều trị, không tác dụng phụ nào được ghi nhận. Tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non sau 48 giờ là 94,6% và trì hoãn chuyển dạ sau 7 ngày là 89,2%. Không có sự khác biệt về hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non bằng Atosiban ở nhóm thai phụ đơn thai và song thai. Trong tổng số 61 trẻ sinh sống, có 4 trường hợp (13,8%) tử vong. Tất cả đều thuộc nhóm thai phụ có tuổi thai 24 0/7 tuần đến 27 6/7 tuần. Kết luận: Atosiban có thể được sử dụng một cách an toàn và hiệu quả, trong trì hoãn chuyển dạ sinh non, kể cả các thai kỳ đơn thai và song thai. Abstract EFFECTIVENESS OF ATOSIBAN IN THE TREATMENT OF PRETERM LABOR Introduction: The purpose of tocolytic drug administration in preterm labor is to postpone threatening preterm delivery for 48 hours. Nifedipine Theo các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng, thuốc chẹn kênh calci và chất đối kháng Receptor Oxytocin hiện nay được xem là lựa chọn đầu tay đối với các nhà lâm sàng trong điều trị chuyển dạ sinh non [5], [6]. Chất đối kháng Receptor Oxytocin vẫn ưu tiên lựa chọn đầu tay vì tính hiệu quả và an toàn khi sử dụng kéo dài đối với sản phụ và thai nhi, đặc biệt trên các trường hợp song thai [6], [7], [8]. Atosiban đã được sử dụng thường quy tại bệnh viện Mỹ Đức trong điều trị chuyển dạ sinh non từ năm 2013. Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng Atosiban trong cắt cơn co tử cung để trì hoãn chuyển dạ sinh non. 2. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu loạt ca, hồi cứu. Đối tượng nghiên cứu Các sản phụ được khám và điều trị chuyển dạ sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2015. a) Tiêu chuẩn nhận bệnh của nghiên cứu: • Sản phụ từ 18 tuổi • Song thai hoặc đơn thai • Tuổi thai từ 24 0/7 tuần – 33 6/7 tuần • Được chẩn đoán chuyển dạ sinh non với tiêu chuẩn sau: o Cơn co 2 cơn / 10 phút, cường độ 30 mmHg o Cổ tử cung xóa trên 50%, mở dưới 3 cm TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(04), 16 - 21, 2017 17 and atosiban, which are the approved medications for tocolysis, have comparable effectiveness in delaying birth for up to seven days. Objective: To access the effectiveness of Atosiban in the treatment of preterm labor. Methods: This was a retrospective study conducted in My Duc Hospital from the January 2015 to the December 2015. Patients with symptoms of preterm labor and using Atosiban were recruited. Results: Thirty seven patients have been recruited in the study. Delaying delivery for 48 hours and 7 days were reported in 94,6% and 89,2% women treated with Atosiban. Maternal side effect was not reported in any case. There were no significant differences in the effect of Atosiban between singleton and twin pregnancies. There were 61 live births born with 4 infant deaths from the group between 24 0/7 and 27 6/7 weeks of gestation. Conclusion: Atosiban was effective in delaying preterm labor, in singletons and twin pregnancies. 1. Đặt vấn đề Sinh non là vấn đề quan tâm của gia đình, xã hội, của các cơ quan y tế tại các nước phát triển và đặc biệt đang phát triển. Theo nghiên cứu của tổ chức Y Tế thế giới, 50% tử vong sơ sinh do non tháng, 70% tổn thương di chứng thần kinh do non tháng [1]. Cũng theo tác giả Monika – 2010, sinh non không những để lại hậu quả khá trầm trọng về hậu vận cho trẻ mà còn là một vấn đề tốn kém cho việc chăm sóc đặc biệt một trẻ sơ sinh non tháng [1]. Trẻ sinh non đối diện với các bênh lý nghiêm trọng như hội chứng suy hô hấp, xuất huyết não thất, viêm ruột hoại tử, chậm phát triển tâm thần kinh, bại não, bệnh lý phổi mạn tính, các rối loạn bệnh lý dạ dày ruột, thị lực và điếc bẩm sinh[2]. Việc phát hiện, điều trị chuyển dạ sinh non nhằm giảm tỉ lệ tử suất, bệnh suất ở trẻ sơ sinh, giảm gánh nặng cho cả gia đình và xã hội [3]. Tại Việt Nam, tỉ lệ sinh non gia tăng nhanh trong nhiều năm trở lại đây. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 2011, tỉ lệ trẻ sinh non/nhẹ cân chiếm 19% trong mô hình bệnh tật của trẻ sơ sinh; tỉ lệ tử vong sơ sinh chiếm 59% số tử vong trẻ dưới 5 tuổi và 70,4% tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi, theo Hội Phụ Sản Việt Nam 2016. Trong điều trị chuyển dạ sinh non, việc cắt cơn co tử cung được xem là một biện pháp có thể giúp kéo dài thai kỳ, nhất là trong vòng 48 giờ đầu tiên [2]. Mục tiêu là có đủ thời gian cho mũi tiêm hỗ trợ trưởng thành phổi có tác dụng hay/và có đủ thời gian để chuyển thai phụ đến các cơ sở y tế có các phương tiện hồi sức sơ sinh chuyên sâu [3], [4]. Tập 14, số 04 Tháng 02-2017 PHAN HÀ MINH HẠNH, VŨ NHẬT KHANG, HÊ THANH NHÃ YẾN, HỒ NGỌC ANH VŨ, NGUYỄN KHÁNH LINH, ĐẶNG QUANG VINH 18 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 02 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H • Được tư vấn và điều trị bằng Atosiban duy trì chuyển dạ sinh non. b) Tiêu chuẩn loại bệnh của nghiên cứu • Các trường hợp chẩn đoán vỡ ối có nguy cơ nhiễm trùng ối. • Các trường hợp thai kỳ cần chấm dứt chuyển dạ (thai suy, nhau bong non, tiền sản giật có triệu chứng nặng). • Thai nhi có dị tật bẩm sinh. Cách tiến hành nghiên cứu Nghiên cứu hồi cứu các hồ sơ bệnh án của bệnh nhân, thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh như đã nêu trong thời gian 01/01/2015 đến 31/12/2015 tại bệnh viện Mỹ Đức. Lựa chọn các đối tượng nghiên cứu phù hợp sau khi đánh giá các tiêu chẩn nhận và loại bệnh nhân theo tiêu chuẩn chọn mẫu. Bệnh nhân được điều trị dựa vào phác đồ Atosiban điều trị chuyển dạ sinh non tại bệnh viện Mỹ Đức như sau: • Liều tấn công: bolus 0,9 mg trong 1 phút. • Sau đó truyền tấn công 24 ml/h trong 3h: Pha 4,1 ml trong 37 ml Ringer Lactat truyền TM 24 ml/h • Lọ thứ 2: 37,5 mg/5ml pha trong 45ml Ringer Lactat: truyền TM 24ml/h với 31 ml dịch pha. Còn 19 ml sẽ truyền TM 8 ml/h • Liều duy trì: Từ lọ thứ 4 đến lọ thứ 9: 37,5 mg/5ml pha trong 45 ml Ringer Lactat truyền TM 8ml/h. Ngưng Atosiban sau điều trị theo phác đồ 48 giờ. Lặp lại điều trị Atosiban nếu xuất hiện cơn co tử cung theo tiêu chuẩn chuyển dạ sinh non sau 48 tiếng điều trị. Hình 1: Phác đồ sử dụng Atosiban tại Bệnh viện Mỹ Đức Không lặp lại quá 4 đợt điều trị Atosiban trong một thai kỳ. Yếu tố đánh giá kết quả Yếu tố đánh giá kết quả chính là tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ sinh non trong 48 tiếng. Các tỷ lệ trì hoãn chuyển da sinh non trong 7 ngày, số ngày trì hoãn chuyển dạ sinh non và kết cục sản khoa được sử dụng làm yếu tố đánh giá kết quả phụ. Thu thập và xử lý số liệu Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, dựa vào bảng câu hỏi có sẵn. Các biến số được nhập và quản lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả được trình bày dưới dạng số trung bình, phần trăm. Chi bình phương được sử dụng nhằm kiểm định sự khác biệt giữa các tỷ lệ. Kiểm định t được sử dụng nhằm kiểm định sự khác biệt giữa các số trung bình. Hồi quy logistics đơn biến được sử dụng để xác định ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc (thời gian trì hoãn chuyển dạ sinh non). Các yếu tố tiên lượng có giá trị p < 0,25 được đưa vào phân tích đa biến. Ngưỡng có ý nghĩa thống kê là p < 0,05. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1 Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu Trong thời gian từ tháng 1/ 2015 đến tháng 12/ 2015 có 37 sản phụ phù hợp với tiêu chuẩn nhận loại bệnh được đưa vào nghiên cứu. Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng 1. Trong đó trường hợp song thai trong mẫu nghiên cứu chiếm 64,9%. Tuổi thai trung bình khi bắt đầu điều trị: nhóm 24 0/7 tuần – 27 6/7 tuần chiếm 48,6%. Số đợt Tuổi vợ (năm) 29,9 ± 3,8 < 30 21 (56,8%) 30 – 35 13 (35,1%) > 36 3 (8,1%) Tiền thai Sinh lần 1 28 (75,7%) Sinh lần 2 7 (18,9%) Sinh lần 3 2 (5,4%) Tiền căn sinh non/sảy thai to Có 5 (13,5%) Không 32 (86,5%) Số thai Đơn thai 13 (35,1%) Song thai 24 (64,9%) Bệnh lý nội khoa kèm Tiền sản giật 2 (5,4%) Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(04), 16 - 21, 2017 19 sử dụng Atosiban trung bình là 1,9 ± 1,1. Không có trường hợp nào có tác dụng phụ được ghi nhận trong quá trình điều trị. 3.2 Hiệu quả điều trị Tỷ lệ trì hoãn chuyển dạ khi sử dụng Atosiban sau 48 tiếng và sau 07 ngày lần lượt là 94,6% và 89,2%. Trong đó, nhóm thai phụ < 28 tuần có thời gian trì hoãn chuyển dạ trung bình là 40 ngày (hình 3). Không có sự khác biệt trong hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non của Atosiban giữa nhóm song thai hay đơn thai (p>0,05). Khi phân tích hồi quy đa biến, chúng tôi thấy rằng không có sự liên quan giữa các yếu tố tuổi mẹ, N= 37 Khoảng Tuổi thai khi điều trị (tuần) 24 0/7 – 27 6/7 tuần 18 (48,6%) 28 0/7 – 31 6/7 tuần 15 (40,5%) 32 0/7 – 34 0/7 tuần 4 (10,9%) Số đợt điều trị trung bình 1,9 (1,1) 1-4 1 đợt 20 (54,1%) 2 đợt 8 (21,6%) 3 đợt 3 (8,1%) 4 đợt 6 (16,2%) Tác dụng phụ ghi nhận 0 (0%) Bảng 2: Tuổi thai bắt đầu điều trị, số đợt điều trị trung bình và tác dụng phụ của Atosiban Hình 2: Số đợt điều trị Atosiban theo nhóm tuổi thai Hình 3: Số ngày trì hoãn chuyển dạ sinh non trung bình theo nhóm tuổi thai Hình 4: Thời gian trì hoãn chuyển dạ của Atosiban theo số lượng thai. tiền căn sinh non, sẩy thai hay các biện pháp dự phòng sinh non hay tuổi thai lúc bắt đầu điều trị đến khả năng trì hoãn chuyển dạ sinh non của Atosiban. 3.3 Kết cục sản khoa Kết cục sản khoa được trình bày trong bảng 3. Có 61 trẻ sinh sống, trong đó, 4 trường hợp tử vong trong 24 giờ đầu sau sinh ở nhóm sản phụ có tuổi thai < 28 tuần. 4. Bàn luận Chuyển dạ sinh non được khởi phát khi có sự thay đổi của CTC, màng ối và quan trọng là sự xuất hiện của cơn co tử cung. Kết quả của một tổng quan hệ thống gần đây nhất cho thấy các loại thuốc cắt cơn co tử cung không có hiệu quả trong giảm tỷ lệ sinh non [9]. Tuy nhiên, trì hoãn cuộc chuyển dạ giúp có đủ thời gian để liều corticosteroids có tác dụng, có thời gian để sử dụng magnesium sulphate dự phòng các tổn thương thần kinh và chuyển lên các bệnh viện tuyến trên với đơn vị hồi sức tích cực cho sơ sinh. Ngoài ra, trong những thai kỳ cực non (dưới 28 tuần tuổi thai), trì hoãn chuyển dạ có thể giúp kéo dài thêm thời gian thai nhi trong tử cung, giúp hạn chế tỷ lệ tử vong và các biến chứng của sơ sinh cực non [10]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho 24 0/7 – 27 6/7 n = 18 28 0/7 – 31 6/7 n = 15 32 0/7 – 34 0/7 n = 4 Tuổi thai lúc sinh 31,2 ± 4,3[25 – 38] 35,1 ± 2,9 [30,2 – 39] 35,9 ± 2,3 [32,5 – 37,7] Số trẻ sinh sống 29 28 4 Số trẻ có biến chứng Tử vong 4 (13,8%) 0 (0%) 0(0%) Suy hô hấp 9 (31,1%) 7 (25%) 1 (25%) Nhiễm trùng sơ sinh 9 (31,1%) 5 (17,9%) 2 (50%) Bảng 3: Kết cục thai kỳ sau điều trị bằng Atosiban Tập 14, số 04 Tháng 02-2017 PHAN HÀ MINH HẠNH, VŨ NHẬT KHANG, HÊ THANH NHÃ YẾN, HỒ NGỌC ANH VŨ, NGUYỄN KHÁNH LINH, ĐẶNG QUANG VINH 20 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 02 -2 01 7 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H thấy, sử dụng Atosiban có hiệu quả và an toàn trong trì hoãn chuyển dạ sinh non. Nhiều loại thuốc được sử dụng để cắt cơn co tử cung để trì hoãn chuyển dạ sinh non, trong đó phổ biến nhất là nhóm betamimetics (Salbutamol), chẹn kênh can-xi (Nifedipin) và gần đây là nhóm cạnh tranh thụ thể oxytocin (Atosiban). Hiệu quả cắt cơn co tử cung trong chuyển dạ sinh non của các nhóm này đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu. Trong một nghiên cứu tổng quan hệ thống gần đây nhất, số liệu cho thấy, so với nhóm Betamimetic, hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sau 48 tiếng của Atosiban và Betamimetics không khác biệt (RR 0,89, 95% CI 0,66 -1,22); 8 nghiên cứu trên 1389 sản phụ) [7]. Tỉ lệ bệnh suất và tử suất sơ sinh ở cả hai nhóm là tương đương. Tuy nhiên, nhóm sử dụng Atosiban ghi nhận tác dụng phụ ít hơn, nên tỷ lệ bỏ điều trị thấp hơn [7]. Hiệu quả trì hoãn chuyển dạ của Atosiban và Nifedipine cũng được khảo sát qua 2 nghiên cứu RCT trên 225 thai phụ. Kết quả cho thấy cả hai can thiệp có tác dụng tương đương trên tỷ lệ sinh non (RR 1,09; 95% CI 0,44 - 2,73). Tuy nhiên, nhóm sản phụ sử dụng Atosiban có ít tác dụng phụ hơn so với nhóm Nifedipine (RR 0,38; 95% CI 0,21 – 0,68; 2 nghiên cứu trên 225 sản phụ) [7]. Thông qua quá trình thống kê, nghiên cứu của chúng tôi cho hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non của Atosiban (94,6% - 98,2%) tương tự với kết quả nghiên cứu hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non sau 48 tiếng và 7 ngày bằng Atosiban của Moutquin và cộng sự năm 2000 (88,1% - 79,7%) và nghiên cứu của Kashanian và cộng sự năm 2005 (82,5%-88,1%) [11], [12]. Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có đến 64,9% là song thai. Kết quả cho thấy rằng, việc sử dụng Atosiban trì hoãn chuyển dạ sinh non có hiệu quả tương đương trên cả thai kỳ song thai và đơn thai. Hiện nay các nghiên cứu đưa ra các dữ liệu về hiệu quả của các thuốc cắt cơn co tử cung đối với các sản phụ song thai hay đa thai còn hạn chế [9]. Một điều đáng lưu ý rằng thai kỳ đa thai sẽ đi kèm với sự gia tăng thể tích tuần hoàn mẹ, có sự gia tăng thứ phát sản xuất Aldosterone so với đơn thai. Betamimetics được biết làm tăng cả lượng aldosterone và renin, từ đó gây tăng lưu lượng tuần hoàn, tăng nguy cơ phù phổi cấp ở sản phụ song thai sử dụng betamimetics [10]. Trong khi đó, chất ức chế kênh calci lại làm mất căng bằng hệ thống tim mạch của người mẹ, đặc biệt trên sản phụ song thai đã có sự gia tăng tuần hoàn máu mẹ, do vậy theo RCOG chống chỉ định sử dụng ức chế kênh calci trên thai kỳ song thai [13]. Như vậy, sử dụng Atosiban với hiệu quả tương đương, tác dụng phụ thấp hơn, có thể được xem là lựa chọn đầu tay, biện pháp điều trị hiệu quả và an toàn chuyển dạ sinh non đối với thai kỳ nguy cơ và song thai. Hiệu quả trì hoãn chuyển dạ sinh non của Atosiban có thể bị ảnh hưởng bởi tuổi thai khi điều trị. Theo hướng dẫn sử dụng, Atosiban được chỉ định trong các trường hợp chuyển dạ sinh non từ tuổi thai 24 đến 34 tuần. Đối với nhóm đơn thai tuổi thai 24 - 28 tuần, một số nghiên cứu chứng cứ ghi nhận vai trò của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non đến 7 ngày, một số nghiên cứu khác thì không ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ sinh non đối với nhóm có tuổi thai dưới 28 tuần được điều trị chuyển dạ sinh non bằng Atosiban [7]. Tuy nhiên, việc sử dụng Atosiban giúp trì hoãn chuyển dạ sinh non hiệu quả, giúp kéo dài thai kỳ ở những thai kỳ sớm, với ít tác dụng phụ trong điều trị [10]. Qua đó làm tăng tỉ lệ sống, giảm tỉ lệ tử vong ở nhóm thai kỳ này [14]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian trì hoãn chuyển dạ trung bình sau sử dụng Atosiban, trên nhóm tuổi thai từ 24 0/7 tuần – 27 6/7 tuần là 40 ngày, tương đương 6 tuần thai. Kết quả này dẫn đến tỷ lệ tử vong sau sinh ở nhóm thai phụ có chuyển dạ sinh non < 28 tuần giảm xuống còn 13,8%. Bên cạnh tính hiệu quả, tính an toàn đối với sản phụ và thai nhi của các dược chất can thiệp cũng cần được quan tâm. Trong bối cảnh mà hiệu quả cắt cơn co của các dược chất là tương đương nhau, tác dụng phụ khi sử dụng được xem là yếu tố chính quyết định việc lựa chọn dược chất điều trị. So với nhóm Betamimetic (gây rối loạn nhịp tim mẹ và tim thai), Nifedipin (rối loạn cung cấp máu thai nhi hay chống chỉ định đối với song thai), Atosiban có ít tác dụng phụ trên cả thai và mẹ. Các tác dụng phụ của Atosiban ghi nhận qua hầu hết các nghiên cứu: nôn, buồn nôn, đau đầu, với tỉ lệ gặp dưới 10% bệnh nhân [6]. Tác dụng phụ thấp nên khả năng thích nghi của bệnh nhân tốt hơn đối với Atosiban. Ngoài ra, sử dụng kéo dài Atosiban TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(04), 16 - 21, 2017 21 không làm tăng tuần hoàn qua nhau thai, do vậy không tăng tích luỹ nồng độ Atosiban trong thai nhi. Atosiban không ảnh hưởng đến tưới máu mô nhau thai và thay đổi hoạt động tim thai [13]. Do vậy khi sử dụng Atosiban lâu dài, không cần khảo sát và theo dõi sát tim thai trong quá trình điều trị và duy trì. Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có tác dụng phụ nào được ghi nhận trong toàn bộ quá trình điều trị. Trở ngại lớn nhất hiện nay của Atosiban là chi phí điều trị. Tuy nhiên, khi đánh giá chi phí điều trị cho việc cắt cơn co tử cung, chi phí điều trị cho các tác dụng phụ, khả năng thất bại khi chuyển qua các điều trị khác, kết quả nghiên cứu của Siassako và cộng sự năm 2009 cho thấy việc sử dụng Atosiban giúp tiết kiệm khoảng 9000 bảng/1 năm so với Nifedipin [15], [16]. Do đó, việc tư vấn cho sản phụ và thân nhân trước khi điều trị là rất cần thiết. Hạn chế của nghiên cứu chúng tôi là cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn và là nghiên cứu hồi cứu. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay tại Việt Nam, đây là một trong những nghiên cứu có số ca lớn đầu tiên, cung cấp các dữ liệu về hiệu quả của Atosiban trong trì hoãn chuyển dạ sinh non trên các thai phụ đơn thai và song thai. 5. Kết luận Atosiban giúp trì hoãn chuyển dạ sinh non 94,5% trường hợp sau 48 tiếng và 89,2% trường hợp sau 7 ngày điều trị. Hiệu quả cắt cơn co tử cung không khác biệt giữa thai kỳ song thai và đơn thai. Tài liệu tham khảo 1. Lawn JE, Mwansa-Kambafwile J, Horta BL, Barros FC, Cousens S. Kangaroo mother care to prevent neonatal deaths due to preterm birth complications. Int J Epidemiol. 2010;39 Suppl 1:i144–54. 2. Managing complications in pregnancy and childbirth: a guide for midwives and doctors. Geneva: World Health Organization, Department of Reproductive Health and Research; 2000, reprint 2007 ( reproductivehealth/publications/maternal_ perinatal_health/9241545879/ en/, accessed 9 July 2015). 3. March of Dimes, The Partnership for Maternal, Newborn and Child Health (PMNCH), Save the Children, World Health Organization (WHO). Howson CP, Kinney MV, Lawn JE, editors. Born too soon: the global action report on preterm birth. Geneva: WHO; 2012 ( child_adolescent/documents/ born_too_soon/en/, accessed 9 July 2015). 4. Amiya RM ML, Ota E, Suwa T, Mori R, Oladapo OT. Antenatal corticosteroids for reducing adverse maternal and child outcomes in special populations of women at risk of imminent preterm birth: a systematic review and metaanalysis. 2014 (unpublished). 5. Celine Miyazaki1, Ralfh Garcia Moreno1, Erika Ota1*, Toshiyuki Swa2, Olufemi T. Oladapo3 and Rintaro Mori. Tocolysis for inhibiting preterm birth in extremely preterm birth, multiple gestations and in growth- restricted fetuses: a systematic review and meta-analysis. Reproductive Health (2016) 13:4. 6. Di Renzo GC, Rosati A, Burnelli L et al. Long term use of atosiban versus ritodrine in the management of threatened early preterm labor. Presented at: The 1st SGI International Summit on Preterm Birth, Siena, Italy, Nov 10–12, Society of Gynecologic Investigation, 218 (2005). 7. Flenady V, Reinebrant HE, Liley HG, Tambimuttu EG, Papatsonis DNM. Oxytocin receptor antagonists for inhibiting preterm labour. Cochrane Database of Systematic Reviews 2014, Issue 6. Art. No.: CD004452. DOI: 10.1002/14651858.CD004452.pub3. 8. Gian Carlo Di Renzo. Safety and efficacy of new drugs in preterm labor. Expert Rev. Obstet. Gynecol. 2(1), 19–24 (2007). 9. Miyazaki C, Garcia RM, Ota E, Swa T, Oladapo OT, Mori R. Tocolysis for inhibiting preterm birth in extremely preterm birth, multiple gestations and in growth-restricted fetuses: a systematic review and meta-analysis reproductive health. Reprod Health. 2016;13:4. 10. Di Renzo GC, Rosati A, Burnelli L et al. Long term use of atosiban versus ritodrine in the management of threatened early preterm labor. Presented at: The 1st SGI International Summit on Preterm Birth, Siena, Italy, Nov 10–12, Society of Gynecologic Investigation, 218 (2005). 11. Moutquin JM, Sherman D, Cohen H, Mohide PT, Celnikier DH, Fejgin M, et al. Double-blind, randomized controlled trial of atosiban and ritodrine in the treatment of preterm labor: a Atosiban and nifedipin for the treatment of preterm labor 13 multicenter effectiveness and safety study. Isr J Obstet Gynecol 2000;182(5):1191 – 9. 12. Kashanian M, Akbarian AR, Soltanzadeh M. Atosiban and nifedipin for the treatment of preterm labor. Int J Gynecol Obstet 2005;91(1):10–4. (10) 13. Valenzuela GJ, Sanchez-Ramos L, Romero R, Silver HM, Koltun WD, Millar L, et al. Mantenance treatment of preterm labor with the oxytocin antagonist atosiban. The Atosiban PTL-098 Study Group. American Journal of Obstetrics and Gynaecology. 2000;182:1184–90. 14. Field D, Draper ES, Fenton A, Papiernik E, Zeitlin J, Blondel B, et al. Rates of very preterm birth in Europe and neonatal mortality rates. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 2009; 94:F253-6. 15. Siassakos D., O’Brien K., Draycott T. Healthcare evaluation of the use of atosiban and fibronectin for the management of pre-term labour. J Obstet Gynaecol. 2009;29(August (6)):507-511. 16. Wex J., Connolly M., Rath W. Atosiban versus betamimetics in the treatment of preterm labour in Germany: an economic evaluation. BMC Pregnancy Childbirth. 2009;9:23. Tập 14, số 04 Tháng 02-2017
File đính kèm:
hieu_qua_cua_atosiban_trong_tri_hoan_chuyen_da_sinh_non.pdf

