Hiệu quả của atosiban trong điều trị dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần

Sinh non tháng là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong

trẻ sơ sinh. Có nhiều loại thuốc được lựa chọn để cắt cơn go tử cung,

nhưng hiện nay chất đối kháng thụ thể oxytocin ngay tại cơ tử cung là

vấn đề đang được quan tâm. Vì vậy, chúng tôi tiến hành một thử nghiệm

lâm sàng để đánh giá hiệu quả của atosiban trong điều trị dọa sinh non

từ 28 đến 34 tuần tại Bệnh viện trung ương Huế.

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của atosiban trong điều

trị dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 38 thai phụ mang thai, tuổi thai

28 đến 34 tuần đang điều trị tại khoa Phụ sản- Bệnh viện Trung ương

Huế. Tất cả các sản phụ đều dùng phác đồ sử dụng atosiban trong điều

trị dọa sinh non của hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG).

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng không đối chứng.

Thời gian nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 01 năm 2016 đến tháng

07 năm 2017.

Kết quả: Thời gian cắt cơn go trung bình là 4,2 ± 0,7 giờ. Tỷ lệ duy trì

thai trong 48 giờ đầu đạt 92,1%. Tỷ lệ duy trì thai trong vòng một tuần

đầu đạt 89,47%. Tác dụng phụ bao gồm buồn nôn, đau đầu nhẹ, chóng

mặt, hạ huyết áp thoáng qua.

Kết luận: Atosiban mang lại hiệu quả trong điều trị dọa sinh non từ 28

đến 34 tuần. Hiệu quả làm ngừng cơn go tử cung trong thời gian ngắn,

tác dụng phụ xảy ra ít

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của atosiban trong điều trị dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hiệu quả của atosiban trong điều trị dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần

Hiệu quả của atosiban trong điều trị dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 37 - 41, 2017
37
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
Nguyễn Hữu Tiến(1), Lê Lam Hương(2) 
(1) Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, (2) Trường Đại học Y Dược Huế
HIỆU QUẢ CỦA ATOSIBAN
TRONG ĐIỀU TRỊ DỌA SINH NON
TỪ 28 ĐẾN 34 TUẦN
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Hữu Tiến, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/7/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/8/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 31/8/2017
Tóm tắt
Sinh non tháng là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong 
trẻ sơ sinh. Có nhiều loại thuốc được lựa chọn để cắt cơn go tử cung, 
nhưng hiện nay chất đối kháng thụ thể oxytocin ngay tại cơ tử cung là 
vấn đề đang được quan tâm. Vì vậy, chúng tôi tiến hành một thử nghiệm 
lâm sàng để đánh giá hiệu quả của atosiban trong điều trị dọa sinh non 
từ 28 đến 34 tuần tại Bệnh viện trung ương Huế. 
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của atosiban trong điều 
trị dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 38 thai phụ mang thai, tuổi thai 
28 đến 34 tuần đang điều trị tại khoa Phụ sản- Bệnh viện Trung ương 
Huế. Tất cả các sản phụ đều dùng phác đồ sử dụng atosiban trong điều 
trị dọa sinh non của hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG). 
Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng không đối chứng. 
Thời gian nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 
07 năm 2017. 
Kết quả: Thời gian cắt cơn go trung bình là 4,2 ± 0,7 giờ. Tỷ lệ duy trì 
thai trong 48 giờ đầu đạt 92,1%. Tỷ lệ duy trì thai trong vòng một tuần 
đầu đạt 89,47%. Tác dụng phụ bao gồm buồn nôn, đau đầu nhẹ, chóng 
mặt, hạ huyết áp thoáng qua.
Kết luận: Atosiban mang lại hiệu quả trong điều trị dọa sinh non từ 28 
đến 34 tuần. Hiệu quả làm ngừng cơn go tử cung trong thời gian ngắn, 
tác dụng phụ xảy ra ít.
Abstract 
ATOSIBAN FOR THE TREATMENT OF PRETERM 
LABOR WOMEN AT 28-34 WEEKS OF GESTATION
Background: Preterm delivery is one of the major causes of neonatal 
morbidity and mortality. Several types of tocolytic drugs are used as 
treatment in preterm labor, however, oxytocin receptor antagonists are 
commonly investigated. We performed a non-comparable clinical trial 
NGUYỄN HỮU TIẾN, LÊ LAM HƯƠNG 
38
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
to evaluate efficacy and tolerability of atosiban in the treatment of preterm labor at 28-34 weeks of 
gestation at Hue central hospital. 
Objectives: Efficacy and safety of atosiban in women diagnosed preterm labor were investigated. 
Materials and Methods: 38 women at 28-34 weeks of gestation are currently followed up in the 
department of obstetrics and gynecology, Hue central hospital. All were treated with atosiban protocol, 
according to American college of obstetrics and gynecology (ACOG) guideline. 
Study design: a non-comparable clinical trial. Data were collected from January 2016 to July 2017. 
Results: Average time to stop uterine contraction was 4.2 ± 0.7 hours. The percentage to delay 
preterm delivery in the first 48 hours was 92.1%. The percentage to delay preterm delivery in seven 
days was 89.47%. Side-effects include nausea, vomit, mild headache, and transient hypotension. 
Conclusion: Atosiban is effective in the treatment of preterm labor at 28 to 34 weeks of gestation. The 
drug is used to stop uterine contraction in a short time with tolerable side- effects.
1. Đặt vấn đề
Đẻ non có tỷ lệ từ 5% đến 15 % trong tổng số các 
cuộc đẻ, là nguyên nhân chính gây ra tỉ lệ bệnh tật 
và tử vong ở trẻ sơ sinh. Hằng năm trên thế giới có 
khoảng 15 triệu trẻ em sinh ra vì non tháng [1]. Đã 
có nhiều biện pháp phòng ngừa và điều trị dọa sinh 
non, nhằm làm giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Xử 
trí dọa sinh non bằng cách dùng thuốc cắt cơn go 
tử cung là một phương pháp điều trị đã được chấp 
nhận. Liệu pháp giảm go tử cung đã duy trì thời gian 
trẻ sống trong tử cung được lâu hơn, cho phép thuốc 
gây trưởng thành phổi phát huy tác dụng. Điều này 
có nghĩa là làm giảm đi các biến chứng về đường hô 
hấp và giảm tỉ lệ trẻ non tháng cần được chăm sóc ở 
trung tâm chăm sóc nhi khoa đặc biệt [3].
Các thuốc chủ yếu trong điều trị dọa sinh non 
bao gồm chất ức chế canci nội bào như nifedipine, 
β- adrenergic như terbutaline, salbutamol. Một 
số cơ sở y tế vẫn còn sử dụng magnesium sulfate, 
ức chế xyclo-oxygenase như indomethacine. Hiệu 
quả của những thuốc này vẫn chưa được chứng 
minh vì chúng không tác dụng đặc hiệu trên cơ 
tử cung, đồng nghĩa với nhiều tác dụng phụ cũng 
xảy ra thường thấy khi dùng những thuốc này [4]. 
Nifedipine thường gây ra triệu chứng nhịp tim 
nhanh, đánh trống ngực, tác dụng phụ nguy hiểm 
nhất là hạ huyết áp khi đang dùng thuốc. Theo dõi 
liên tục huyết áp sản phụ và tần số thai nhi là điều 
kiện cần phải có khi dùng phác đồ điều trị dọa 
sinh non bằng nifedipine [6]. Các chất đồng vận 
β-adrenergic sẽ có thể gây ra các tác dụng không 
mong muốn như loạn nhịp tim sản phụ, giãn mạch 
dẫn đến hạ huyết áp tâm thu, kích thích hệ thần 
kinh trung ương và thay đổi chức năng tuyến giáp. 
Hiệu quả của magnesium sulfate trong điều trị dọa 
sinh non vẫn chưa được khẳng định, mặc dù thuốc 
này được dùng rộng rãi để điều trị dọa sinh non ở 
các bệnh viện Bắc Mỹ [5].
Atosiban, một chất đối kháng với oxytocin, là 
chất gây ngừng cơn go đặc hiệu được cấp phép 
sử dụng để điều trị dọa sinh non trong vài năm trở 
lại đây [3]. Atosiban là một nonapeptid vòng tổng 
hợp, có tác dụng như là một chất đối kháng cạnh 
tranh trực tiếp lên receptor của oxytocin tại cơ tử 
cung theo một phương thức phụ thuộc liều, kết cục 
là cơn go tử cung bị ức chế hoàn toàn. Ngoài ức 
chế tác động của oxytocin, atosiban còn có thể gây 
cạnh tranh với receptor vasopressin tại vùng cơ tử 
cung. Trong quá trình chuyển dạ sinh non, oxytocin 
giúp phóng thích inositol 1,4,5 triphophat (IP3) từ 
màng tế bào cơ tử cung. Atosiban ngăn chận sự 
phóng thích này và sau đó làm giảm phóng thích 
canci từ hệ lưới nội chất [7]. Hiệp hội sản phụ khoa 
Hoàng Gia Anh (RCOG) đã khuyến cáo dùng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 37 - 41, 2017
39
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
atosiban trong dọa sinh non như là một thuốc đầu 
tay, bởi hiệu quả điều trị dọa sinh non vượt trội và 
thân thiện với bệnh nhân [8]
Atosiban đã được chấp thuận và đưa vào sử 
dụng trong điều trị dọa sinh non ở các quốc gia 
châu Âu từ năm 2000, và hiện tại đã được chấp 
nhận ở 68 quốc gia trên thế giới [10], [11]. Nghiên 
cứu này nhằm mục tiêu xác định hiệu quả điều trị 
và tính an toàn của atosiban ở các sản phụ mang 
thai có dọa sinh non từ 28 đến 34 tuần.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tiến cứu thử nghiệm 
lâm sàng không đối chứng. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh: tuổi sản phụ trên 18, 
tuổi thai từ 28 đến 34 tuần tính theo kỳ kinh cuối; 
cơn go tử cung 1-4 cơn go trong 10 phút, cổ tử 
cung mở từ 0 đến 3 cm. 
Tiêu chuẩn loại trừ: ối vỡ sớm, ối vỡ non, ra 
huyết âm đạo, nhịp tim thai không ổn định, cao 
huyết áp mạn tính, có bất thường cơ quan sinh dục. 
Tất cả được khám xét lâm sàng và được cho xét 
nghiệm cận lâm sàng theo yêu cầu như công thức 
máu, chức năng gan thận, siêu âm đo độ dài cổ tử 
cung. Mỗi sản phụ được dùng atosiban bằng phác 
đồ của hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) 
[10]. Khởi đầu bằng tiêm tĩnh mạch chậm 6,75 mg 
trong vòng một phút, sau đó chuyền qua bơm tiêm 
điện với tốc độ chậm 300 microgram/phút trong 
3 giờ, sau đó chuyền với tốc độ 100 microgram 
/phút đến khi kết thúc 09 lọ atosiban. Chỉ định 
ngưng truyền atosiban khi chuyển dạ đang tiến 
triển, cổ tử cung mở trên 4 cm hoặc nếu có ối vỡ 
sớm. Corticosteroid (Dexaron 4 mg) được chỉ định 
để gây trưởng thành phổi khi tuổi thai dưới 34 
tuần. Kháng sinh được chỉ định khi thầy thuốc nhận 
thấy sản phụ có nguy cơ nhiễm trùng.
Các biến số về mẹ như cơn go tử cung, tần số 
cơn go trong 10 phút, độ xóa mở cổ tử cung được 
ghi nhận vào nghiên cứu để đánh giá hiệu quả cắt 
cơn go của atosiban. Biểu đồ cơn go tử cung và 
tim thai (CTG) được chỉ định để theo dõi thay đổi 
về tần số tim thai và tần số cơn go tử cung. Độ an 
toàn được đánh giá khi có tác dụng phụ ghi nhận 
trên sản phụ và/hoặc trên thai nhi.
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 
với p ≤ 0,05
3. KẾT QUẢ
Số ngày nhập viện trung bình là 9,2 ngày. Số 
ngày nhập viện ngắn nhất là 5 ngày, số ngày dài 
nhất là 18 ngày.
Kết quả cho thấy tỉ lệ phần trăm sản phụ chưa 
sinh sau 48 giờ và 72 giờ là ngang nhau, chiếm 
tỉ lệ khá cao (92,1%) so với tỉ lệ chưa sinh sau 07 
ngày, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05)
Độ tuổi 31-33 tuần chiếm tỉ lệ thành công cao 
hơn so vói hai nhóm độ tuổi còn lại, sự khác biệt 
không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05).
Tỉ lệ duy trì thai sau 07 ngày ở hai nhóm con so 
và con rạ là tương đương nhau, sự khác biệt không 
có ý nghĩa thống kê (p> 0,05).
Đặc điểm Trung bình ± độ lệch chuẩn
Tuổi mẹ (tuổi) 29,1 ± 5,3
Tuổi thai (tuần) 30,8 ± 1,9
Độ mở cổ tử cung (cm) 1,65 ± 0,85
Tần số cơn go tử cung/ 10 phút 1,5 ± 0,5
Số ngày nhập viện trung bình (ngày) 9,2 ± 2,4
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng
Tuổi thai Số bệnh nhân nghiên cứu Số bệnh nhân chưa sinh Tỷ lệ p
28-30 tuần 15 13 86,7%
p> 0,0531-33 tuần 12 11 91,7%
34-36 tuần 11 9 81,8%
Bảng 2. Tuổi thai của sản phụ lúc xuất viện
Tiền sử sản khoa Số bệnh nhân nghiên cứu Số bệnh nhân chưa sinh Tỷ lệ p
Con so 22 20 90,9%)
p> 0,05
Con rạ 16 14 87,5%
Bảng 3. Số lượng bệnh nhân chưa sinh sau 07 ngày theo tiền sử sản khoa
Số lượng thai Số bệnh nhân nghiên cứu Số bệnh nhân chưa sinh Tỷ lệ
Đơn thai 33 30 90,9%
Song thai 5 4 80,0%
Bảng 4. Hiệu quả atosiban theo đơn thai hoặc song thai sau 07 ngày
Biểu đồ 1. Tỉ lệ phần trăm sản phụ chưa sinh sau 48 giờ, 72 giờ và 07 ngày
NGUYỄN HỮU TIẾN, LÊ LAM HƯƠNG 
40
Tậ
p 
15
, s
ố 
03
Th
án
g 
09
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Hiệu quả cắt cơn go tử cung sau 07 ngày giữa 
mang thai đơn thai và song thai tương đương nhau.
Tất cả các bệnh nhân đều hoàn tất liệu trình 
điều trị dọa sinh non bằng atosiban và hầu hết cho 
thấy không có tác dụng phụ nào đáng kể xảy ra, 
hoặc chỉ xảy ra thoáng qua nếu có. Triệu chứng 
buồn nôn, nôn chiếm tỉ lệ cao nhất (9,9%), nhưng 
chỉ xảy ra trong thời gian ngắn và không cần can 
thiệp gì. Nhìn chung, tác dụng không mong muốn 
chỉ xảy ra thoáng qua và chiếm tỉ lệ thấp.
4. Bàn luận
Thuốc giảm go tử cung có vai trò quan trọng 
trong dọa sinh non vì nó có thể kéo dài đời sống 
thai nhi trong tử cung nên có thể làm giảm thiểu 
tỉ lệ bệnh tật và tử vong ở trẻ sơ sinh. Các thuốc 
được dùng để ngăn ngừa dọa sinh non phải nên 
được cân nhắc giữa hiệu quả cắt cơn go tử cung 
và tác dụng không mong muốn có thể xảy ra trên 
sản phụ và thai nhi. Dùng thuốc bêta- agonist như 
ritodrine, salbutamol hoặc terbutaline thường gây 
ra các dụng phụ nghiêm trọng như nhịp tim nhanh, 
hạ huyết áp, đánh trống ngực, khó thở, đau ngực, 
phù phổi [12]. Các thuốc ức chế canci mặc dù ít 
gây ra tác dụng phụ hơn bêta- agonist nhưng triệu 
chứng đỏ bùng mặt và hạ huyết áp vẫn có thể xảy 
ra khi dùng nifedipine [2], [12]. Atosiban cho thấy 
hiệu quả cắt cơn go tử cung tương đương so với 
các thuốc khác nhưng lại không gây ra tác dụng 
phụ nào đáng kể. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 
atosiban có thể gây ra dị ứng vùng da tại chỗ tiêm 
hoặc buồn nôn, nôn mửa [12].
Tỉ lệ cắt cơn go tử cung sau 48 giờ ở nghiên cứu 
chúng tôi là 92,1%. Kết quả này tương đương với 
kết quả của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm và cộng 
sự (93,1%) [2]. Một nghiên cứu ở Đức, atosiban có 
hiệu quả trong việc kéo dài thai kỳ trong 7 ngày 
với tỉ lệ thành công 78.4%, so với 66,7% ở nhóm 
Tác dụng phụ Tỷ lệ 
Buồn nôn, nôn 9,9 %
Chóng mặt 7,2 %
Tiểu khó 2,4 %
Thay đổi mạch 8,5 %
Hạ huyết áp 3,5 %
Thay đổi độ tần số tim thai cơ bản 1,3 %
Dị ứng tại vùng tiêm 1,2 %
Bảng 5. Tác dụng không mong muốn khi dùng atosiban (sau 07 ngày điều trị)
bêta- agonist. Ở một nghiên cứu khác, khi so sánh 
với nhóm nifedipine, nhóm dùng atosiban đã duy 
trì được 78,6% trong số các bệnh nhân dọa sinh 
non trong vòng 07 ngày. Ở nghiên cứu của chúng 
tôi, tỉ lệ duy trì thai kỳ trong tử cung trong vòng 01 
tuần là 89,5%. Mặc dầu đây là thử nghiệm lâm 
sàng không đối chứng, kết quả cho thấy tỉ lệ thành 
công khá khả quan. 
Atosiban có hiệu quả duy trì thai kỳ ở mọi tuần 
thai ở các sản phụ được chẩn đoán và điều trị dọa 
sinh non. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, 
qua bảng 2 ghi nhận rằng tại thời điểm xuất viện, 
hiệu quả cắt cơn go khoảng 86,7 % ở tuổi thai 28-
30 tuần; 91,7% ở tuổi thai 31-33 tuần và khoảng 
81,8 % ở tuổi thai 34-36 tuần. Hiệu quả cắt cơn 
go tử cung của atosiban thể hiện qua sự giảm tần 
số cơn go tử cung trong 10 phút, độ xóa mở cổ tử 
cung. Trong một nghiên cứu đa trung tâm ở 6 quốc 
gia châu Âu, tỉ lệ thành công là 85,4% ở nhóm tuổi 
thai nhỏ hơn 29 tuần và 91,3 % ở nhóm tuổi thai 
lớn hơn 29 tuần [9]. Hiệu quả của atosiban trong 
việc trì hoãn chuyển dạ được cho là do atosiban có 
tính ái lực cạnh tranh cao với thụ thể oxytocin và 
vasopressin V1a tại vùng cơ tử cung [11].
Ở các trường hợp song thai, lợi ích của atosiban 
vẫn chưa rõ ràng về hiệu quả làm giảm nguy cơ 
sinh non. Các thuốc bêta- agonist hoặc ức chế 
canci có thể gây khó thở, hạ huyết áp, thiếu oxy, 
nhịp tim nhanh hoặc phù phổi [8]. Ở nghiên cứu 
này ghi nhận được có 04 bệnh nhân song thai 
được điều trị bằng atosiban nhưng không ghi nhận 
tác dụng phụ nào khi dùng thuốc nhưng rất khó để 
đưa ra kết luận về độ dung nạp của atosiban ở các 
trường hợp song thai hoặc tam thai. 
Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả và độ an 
toàn của atosiban ở bệnh nhân dọa sinh non từ 
28 đến 34 tuần. Nhìn chung dùng atosiban trong 
dọa sinh non khá hiệu quả và tương đối an toàn. 
RCOG đã khuyến cáo atosiban là thuốc đầu tay 
trong điều trị dọa sinh non so với các thuốc điều trị 
dọa sinh non khác.
5. Kết luận
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy hiệu quả 
và độ an toàn của thuốc atosiban trong điều trị dọa 
sinh non. Hiệu quả duy trì thai nhi trong tử cung 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(03), 37 - 41, 2017
41
Tập 15, số 03
Tháng 09-2017
sau 48 giờ và 72 giờ đạt 92,1%. Hiệu quả duy 
trì thai nhi trong tử cung sau 07 ngày đạt 89,5%. 
Không có một sản phụ nào ngưng điều trị vì tác 
dụng phụ của thuốc. Cần có những nghiên cứu 
rộng hơn, số lượng bệnh nhân lớn hơn để ủng hộ 
các quan điểm hiện nay cho rằng thuốc đối kháng 
thụ thể oxytocin là lựa chọn đầu tay trong điều trị 
dọa sinh non.
Tài liệu tham khảo
1. Hội sản phụ khoa Việt Nam (2016), Hướng dẫn lâm sàng dự phòng 
và điều trị dọa sinh non 2016, Phụ bản số 1.
2. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2010), So sánh hiệu quả của tractocile và 
nifedipine trong điều trị dọa sinh non tại Bệnh viện Từ Dũ: báo cáo 
bước đầu; 
3. American College of Obstetricians and Gynecologist (2016), 
Committee on Practice Bulletins No 171 Summary: Management of 
Preterm Labor. Obstet Gynecol. 2016; 128(4):931–33.
4. Jorgensen JS, Weile LK (2014), Preterm labor: Current tocolytic options 
for the treatment of preterm labor. Expert Opin Pharmacother.;15(5):585-8.
5. American College of obstetricians and gynecologists (2016). Committee 
opinion. Magnesium sulfate use in obstetric. Obstet Gynecol.;127:e52-3. 
6. Papatsonis DN, Van Geijn HP, Ader HJ (1997), Nifedipine and ritodrine 
in the management of preterm labor: A randomized multicenter trial. 
Obstet Gynecol. 90(3):230–234.
7. Thornton S, Vatish M, Slater D (2004). Oxytocin antagonists: Clinical 
and scientific considerations. Exp. Physiol. 86(2): 298-302.
8. American College of Obstetricians and Gynecologist (2012), 
Management of preterm labor, Committee on Practice Bulletins. Obstet 
Gynecol. 119:1308–217.
9. Husslein P, Roura LC, Dudenhausen J, Schneider D (2006), Clinical 
practice evaluation of atosiban in preterm labor management in six 
European countries. BJOG. 113(Suppl 3):105–10.
10. Jaro W, Ahmed M, Abou S (2011), Atosiban versus betamimetics in 
the treatment of preterm labor in Italy: Clinical and economic importance of 
side-effects. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol.157:128–135.
11. Lamont RF (2008), Atosiban as a tocolytic for the treatment of 
spontaneous preterm labor. Expert Rev. Obstet. Gynecol. 3(2): 163–174.
12. Roel de H, Ben WM, Erwich HM (2009). Adverse drug reactions 
to tocolytic treatment for preterm labor: Prospective cohort study. 
BMJ.338:b744

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_cua_atosiban_trong_dieu_tri_doa_sinh_non_tu_28_den.pdf