Hệ thống siêu âm quét khối vú 3D ABVS tích hợp siêu âm đàn hồi mô ARFI kỹ thuật mới trong tầm soát ung thư vú tại Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng

Chụp nhũ ảnh được xem là tiêu chuẩn vàng cho tầm soát ung thư

vú nhưng nó ít phù hợp cho phụ nữ có tuyến vú dày. Vì vậy siêu âm vú

quét khối vú tự động (ABVS) được giới thiệu như một phương pháp thay

thế. Ý tưởng về siêu âm tự động toàn bộ vú đã được phát triển cách đầy

gần 3 thập kỉ trước. Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng đã có những trải nghiệm

ban đầu của kỹ thuật mới - hệ thống siêu âm quét khối vú ACUSON

S2000TM tích hợp với siêu âm đàn hồi mô trong việc tầm soát ung thư

vú và đã có1.236 bệnh nhân được thực hiện quét vú ABVS tại Bệnh viện

Phụ nữ Đà Nẵng. Mỗi vú đều được máy quét theo 3 hướng mặt cắt cơ

bản và một vài mặt cắt bổ sung nếu cần thiết. Dữ liệu thu được tự động

lưu trữ và hình ảnh tổn thương sẽ phân nhóm BI-RADS dựa vào các tính

chất của tổn thương. Siêu âm đàn hồi mô được thực hiện dưới một lực đè

nhẹ lên tổn thương và hình ảnh cũng được phân loại theo thang điểm đàn

hồi. Tổng số tổn thương chúng tôi phát hiện được là 749 trong đó bao gồ

13 ác tính và 736 lành tính. Hệ thống siêu âm quét khối vú tự động có

nhiều ưu điểm như không phụ thuộc vào người thực hiện, cho hình ảnh

toàn bộ vú, tiên lượng kích thước tổn thương tốt hơn, chẩn đoán chính xác

hơn. Đây có thể xem là một phương thức hứa hẹn trong hình ảnh học vú

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Hệ thống siêu âm quét khối vú 3D ABVS tích hợp siêu âm đàn hồi mô ARFI kỹ thuật mới trong tầm soát ung thư vú tại Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Hệ thống siêu âm quét khối vú 3D ABVS tích hợp siêu âm đàn hồi mô ARFI kỹ thuật mới trong tầm soát ung thư vú tại Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng

Hệ thống siêu âm quét khối vú 3D ABVS tích hợp siêu âm đàn hồi mô ARFI kỹ thuật mới trong tầm soát ung thư vú tại Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng
VÕ XUÂN PHÚC, BÙI THỊ NHƯ QUỲNH
86
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Võ Xuân Phúc, Bùi Thị Như Quỳnh 
Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng
HỆ THỐNG SIÊU ÂM QUÉT KHỐI VÚ 3D ABVS
TÍCH HỢP SIÊU ÂM ĐÀN HỒI MÔ ARFI
KỸ THUẬT MỚI TRONG TẦM SOÁT UNG THƯ VÚ
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ NỮ ĐÀ NẴNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Bùi Thị Như Quỳnh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Tóm tắt
Chụp nhũ ảnh được xem là tiêu chuẩn vàng cho tầm soát ung thư 
vú nhưng nó ít phù hợp cho phụ nữ có tuyến vú dày. Vì vậy siêu âm vú 
quét khối vú tự động (ABVS) được giới thiệu như một phương pháp thay 
thế. Ý tưởng về siêu âm tự động toàn bộ vú đã được phát triển cách đầy 
gần 3 thập kỉ trước. Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng đã có những trải nghiệm 
ban đầu của kỹ thuật mới - hệ thống siêu âm quét khối vú ACUSON 
S2000TM tích hợp với siêu âm đàn hồi mô trong việc tầm soát ung thư 
vú và đã có1.236 bệnh nhân được thực hiện quét vú ABVS tại Bệnh viện 
Phụ nữ Đà Nẵng. Mỗi vú đều được máy quét theo 3 hướng mặt cắt cơ 
bản và một vài mặt cắt bổ sung nếu cần thiết. Dữ liệu thu được tự động 
lưu trữ và hình ảnh tổn thương sẽ phân nhóm BI-RADS dựa vào các tính 
chất của tổn thương. Siêu âm đàn hồi mô được thực hiện dưới một lực đè 
nhẹ lên tổn thương và hình ảnh cũng được phân loại theo thang điểm đàn 
hồi. Tổng số tổn thương chúng tôi phát hiện được là 749 trong đó bao gồ 
13 ác tính và 736 lành tính. Hệ thống siêu âm quét khối vú tự động có 
nhiều ưu điểm như không phụ thuộc vào người thực hiện, cho hình ảnh 
toàn bộ vú, tiên lượng kích thước tổn thương tốt hơn, chẩn đoán chính xác 
hơn. Đây có thể xem là một phương thức hứa hẹn trong hình ảnh học vú.
Abstract 
Mammography is the gold standard for breast cancer screening but 
less suitable for women with dense breasts. Therefore, the ultrasound 
automated breast volume scanner (ABVS) was introduced as an 
alternative. The idea of an automated whole breast ultrasound was 
developed three decades ago. We present our initial experiences with 
the latest technical advance in this technique, the automated breast 
volume scanner (ABVS) ACUSON S2000TM and ultrasonography 
elastography (UE), in screening breast cancer at Da Nang Women’s 
Hospital. 1236 patients underwent both ABVS and UE examinations. 
The ABVS was used to perform scans of the breast in three directions 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
87
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đại cương về tầm soát 
ung thư vú
1.1. Ung thư vú
Ung thư vú là một trong những khối u ác tính 
thường gặp nhất ở phụ nữ. Ước tính thế giới mỗi 
năm có khoảng 1,7 triệu người được chẩn đoán và 
trên 522.000 trường hợp tử vong vì căn bệnh này 
(2012). Mặc dù căn bệnh này được cho rằng hay 
gặp ở các nước phát triển tuy nhiên 50% số trường 
hợp mới mắc xuất hiện ở các nước đang phát triển 
và con số này lên đến 53% vào năm 2012 [5]. Tại 
Việt Nam tỷ lệ này lại tăng trong 2 thập kỷ vừa qua 
và dần trở thành căn bệnh ung thư hay gặp nhất ở 
phụ nữ Việt nam.
Theo những ghi nhận trước đây, phần lớn ung 
thư vú ở Việt Nam và các nước Đông nam Á được 
chẩn đoán ở giai đoạn muộn của bệnh và trên 25% 
đã có đi căn xa. Vì vậy vai trò của chương trình tầm 
soát ung thư vú rất quan trọng. Từ lâu, việc tầm soát 
ung thư vú luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong 
việc phát hiện và điều trị ung thư vú. Trên thực tế, 
hơn 85% các ca ung thư vú là ở bệnh nhân không 
có tiền sử gia đình. Đặc biệt, nhóm phụ nữ có cấu 
tạo vú đặc chiếm tỉ lệ đến 50% và cũng là nhóm đối 
tượng có nguy cơ mắc ung thư vú cao gấp 4 - 6 lần 
các nhóm đối tượng còn lại [14].
1.2. Các phương tiện tầm soát ung thư vú
1.2.1. Siêu âm vú
Siêu âm có khả năng đánh giá mô vú được 
mô tả cách đây gần 60 năm. Với ưu điểm đơn 
giản, dễ thực hiện, rẻ tiền nên siêu âm vú hiện 
là phương tiện đầu tay giúp phát hiện và mô tả 
các tổn thương vú. Nhiều nghiên cứu đa trung 
tâm cho rằng siêu âm vú phát hiện nhiều ung 
thư vú giai đoạn sớm hơn là sử dụng đơn độc 
nhũ ảnh và tỷ lệ phát hiện ung thư vú là 0,3-0,5 
%. Tuy nhiên siêu âm đầu dò cầm tay có một số 
hạn chế như tốn thời gian để kiểm tra kỹ toàn bộ 
vú, tỷ lệ âm tính giả cao và phụ thuộc vào người 
thực hiện. Trải qua thời gian, siêu âm vú đã có 
nhiều công nghệ tiến bộ như doppler màu, siêu 
âm quét khối vú 3D, siêu âm đàn hồi mô. Đặc 
biệt siêu âm quét khối vú 3D và siêu âm đàn hồi 
mô đang trở nên là phương pháp hiệu quả trong 
phát hiện tổn thương vú.
1.2.2. Nhũ ảnh
Nhũ ảnh được xem như là tiêu chuẩn vàng 
trong tầm soát ung thư vú với độ nhạy cao 60-80% 
và độ đặc hiệu 73-95% giúp làm giảm 43% tỷ lệ tử 
vong phụ nữ tham gia chương trình sàng lọc quốc 
gia [6]. Tuy nhiên độ nhạy của nhũ ảnh đối với các 
trường hợp mô vú đặc, phụ nữ trẻ dưới 50 tuổi, 
những khối ung thư kích thước nhỏ vẫn còn là một 
hạn chế lớn [10]. Phụ nữ Châu Á khoảng 70% phụ 
nữ ở độ tuổi 40 có mô vú đặc. Theo tác giả Kuhl 
C.K và cộng sự [13], độ nhạy của nhũ ảnh giảm 
đi 50% ở phụ nữ có mô vú đặc. Gần đây hơn 50% 
phụ nữ dưới 50 tuổi và ít nhất 1/3 trên 50 tuổi 
được phát hiện có mô vú dày đặc [1]. Thêm vào 
đó, mô vú đặc được xem là một yếu tố nguy cơ độc 
lập của ung thư vú [3]. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 86 - 91, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
(anteroposterior, lateral and medial), with the addition of further inferior and superior scans if 
necessary. The scanning data were then stored and automatically reconstructed and classified a 
BI-RADS category based on the distribution, size, shape, echogenicity and microcalcification of the 
lesions. UE images were assigned an elasticity score according to the distribution of strain induced 
by light compression. The numbers of lesions was 749 consists of 13 malignant lesions and 736 
benign lesions. Automated breast volume scanner provides advantages of high diagnostic accuracy, 
better lesion size prediction, operator-independence and visualization of the whole breast. It may be 
a promising modality in breast imaging.
VÕ XUÂN PHÚC, BÙI THỊ NHƯ QUỲNH
88
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
1.2.3. Chụp cộng hưởng từ vú
Chụp cộng hưởng từ (Magnetic resonance 
imaging - MRI) vừa được hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ 
(American Cancer Society - ACS) khuyến cáo tầm 
soát ung thư vú ở những đối tượng có nguy cơ cao. 
Mặc dù có độ nhạy rất cao nhưng đây cũng là 
phương tiện có nguy cơ nhiễm tia. So với nhũ ảnh, 
MRI có độ đặc hiệu thấp và dương tính giả cao dẫn 
đến nhiều trường hợp sinh thiết không cần thiết. 
Theo Leach và cộng sự, độ đặc hiệu của MRI vú là 
81% so với nhũ ảnh là 93% [12]. Bởi vì độ đặc hiệu 
thấp và đắt tiền nên MRI không phải là phương tiện 
tối ưu trong tầm soát ung thư vú.
1.2.4. Siêu âm quét khối vú tự động 3D 
(Automated Breast Volume Scanner - ABVS)
Siêu âm vú tự động (Automated breast 
ultrasound-ABUS) đã được giới thiệu cách đây hơn 
1 thập kỷ, với chất lượng hình ảnh ban đầu chưa 
đủ tốt để cho ra kết quả. Tuy nhiên 5 năm sau, 
những thế hệ mới của ABUS là ABVS - hệ thống 
siêu âm quét khối vú 3D tự động - sử dụng những 
đầu dò tần số cao đã cải tiến chất lượng hình ảnh 
lên nhiều lần. Đến tháng 09/2012 FDA đã đồng 
ý cho việc sử dụng hệ thống ABVS trong việc tầm 
soát ung thư vú ở những đối tượng có mô tuyến vú 
dày có kết quả chụp nhũ ảnh âm tính.
Ngày nay với sự phát triện của công nghệ chẩn 
đoán hình ảnh, sự ra đời của hệ thống quét khối 
vú 3D tự động tích hợp với hệ thống siêu âm đo độ 
đàn hồi mô ARFI - ACUSON S2000 ABVS, dường 
như tỏ ra hiệu quả với vai trò như là một công cụ 
hỗ trợ trong tầm soát chẩn đoán sớm ung thư vú.
Đây là một hệ thống tự động, không xâm lấm, 
không nhiễm xạ, không gây đau; Khảo sát được 
toàn bộ hình ảnh giải phẫu của mô vú nhờ độ 
bao phủ lớn của đầu dò và dựng khối 3D, hạn 
chế được xảo ảnh đặc biệt là vùng dưới núm vú 
từ đó tránh bỏ sót tổn thương; Vị trí tổn thương 
được đánh dấu chính xác, rõ ràng dựa trên hệ 
thống tự động của máy (vị trí tổn thương, cách 
bề mặt da, cách núm vú) giúp ích cho bác sĩ 
lâm sàng trong việc theo dõi và điều trị; Hình 
ảnh chính xác, khách quan, được lưu lại trên 
máy nên rất tiện và dễ dàng trong các trường 
hợp cần hội chẩn. Ngoài ra một trong những 
ưu điểm lớn của ABVS so với các phương tiện 
chẩn đoán khác (mammography, chụp MRI) là 
hình ảnh được dựng với tư thế bệnh nhân nằm 
ngửa- tương tự với tư thế lúc phẫu thuật vú. Mặt 
cắt coronal có thể được phục vụ cho việc lập kế 
hoạch phẫu thuật.
Siêu âm đàn hồi mô ARFI là một kỹ thuật giúp 
phân biệt tổn thương lành hay ác tính thông qua 
xác định độ cứng mềm của mô dưới một áp lực 
đè nén nhất định. Với nguyên lý hầu hết các tổn 
thương ung thư vú thường có độ cứng hơn tổn 
thương lành tính. Kết quả cứng hay mềm sẽ được 
thể hiện thông qua thang xám hoặc bản đồ màu 
hoặc vận tốc biến dạng của tổn thương. Việc 
phối hợp giữa đặc điểm siêu âm 2D và siêu âm 
đàn hồi mô sẽ giúp tăng hay giảm phân độ BI-
RADS tùy theo tổn thương. Bên cạnh đó còn giúp 
xác định vị trí nghi ngờ nhất của tổn thương từ 
đó định hướng chọc kim sinh thiết để có kết quả 
chính xác nhất.
Như vậy hệ thống này đẵ khắc phục được 
những nhược điểm của siêu âm 2D thông thường.
1.3. Một số nghiên cứu trên Thế Giới 
về hệ thống ABVS
Hệ thống ABVS đang được tích cực nghiên cứu 
trên thế giới cả về công nghệ sàng lọc và cả về hệ 
thống tự động thay thế siêu âm 2D thông thường. 
Việc ứng dụng hệ thống này trong tầm soát ung 
thư vú vẫn còn mới, tuy nhiên những nghiên cứu 
ban đầu về hệ thống cũng đã cho thấy kết quả 
khả quan.
Theo nhiều nghiên cứu, ABVS không kém so với 
siêu âm 2D trong việc phát hiện và chẩn đoán 
phân biệt của các tế bào ung thư vú, đồng thời 
vượt quá ở một số tính năng. Thông tin của ABVS 
đem lại tương đương với siêu âm 2D trong việc mô 
tả các đặc điểm của khối u và phân độ BI-RADS. 
Theo Berg [2], tỷ lệ ung thư vú phát hiện bởi ABVS 
là 3,6/1000 tương đương với các kết quả nghiên 
cứu về siêu âm 2D (2,7-4/1000). Tuy nhiên ABVS 
có nhiều ưu điểm hơn siêu âm 2D.
Hình 1: Hệ thống siêu âm quét khối vú 3D tích hợp siêu âm đàn hồi mô ARFI
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
89
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 86 - 91, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Ngoài ra các nghiên cứu so sánh giữa ABVS 
và siêu âm 2D về phân biệt giữa khối u lành tính 
và ác tính cho thấy có sự tương đương hoặc cao 
hơn về độ chính xác của hệ thống ABVS.
 Các nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ 
đã chỉ ra rằng việc sử dụng kết hợp hai phương 
pháp: chụp nhũ ảnh và siêu âm quét vú 3D cho 
phép phát hiện nhiều trường hợp ung thư ở phụ 
nữ có yếu tố nguy cơ ung thư vú và mô tuyến vú 
dày đặc, cải thiện độ nhạy của việc phát hiện 
khối u lên tới 77,5% [16], từ đó đưa vào quy 
trình tầm soát ung thư vú ở những phụ nữ có mô 
vú đặc. Theo tác giả Kelly và đồng nghiệp, độ 
nhạy của riêng hệ thống siêu âm vú tự động là 
67%, trong khi của nhũ ảnh là 40%, nếu kết hợp 
2 phương pháp thì độ nhạy tặng lên 81% [9].
Độ nhạy cao của ABVS là nhờ vào phát hiện 
dấu hiệu co kéo trên mặt cắt coronal mà theo 
Lin X và cộng sự đây là dấu hiệu có độ đặc 
hiệu 100%, độ nhạy 80% và độ chính xác 91,4% 
trong việc phân biệt khối u lành tính và ác tính 
[13]. Điều mà không thể phát hiện được trên 
siêu âm 2D. Wang và Chen [4], [17] cũng cho 
rằng ABVS là một phương thức đầy hứa hẹn cho 
chẩn đoán lâm sàng vú nhờ vào dấu hiệu co kéo 
và viền giảm âm trên mặt phẳng coronal.
Những nghiên cứu ban đầu của các nhà 
lâm sàng Nga cho thấy những kết quả khích 
lệ: không có trường hợp ung thư vú nào bị bỏ 
sót. ABVS cho kết quả độ nhạy 100%, độ đặc 
hiện 40%, và 88% độ chính xác của loại trừ 
bệnh học.
Một nghiên cứu khác của tác giả Xu và đồng 
nghiệp về vai trò của hệ thống ABVS phối hợp 
với siêu âm đàn hồi mô giúp nâng cao tỷ lệ 
chính xác và đặc hiệu của chẩn đoán [15], [17].
Ưu điểm Khuyết điểm
Tự động Hạn chế trong việc đánh giá doppler màu và đàn hồi mô
Không phụ thuộc người thực hiện Hạn chế khảo sát vùng hạch nách
Tiết kiệm thời gian
Khoảng cách giữ các lát cắt là 0,5mm
Đầu dò tần số cao (14 mHz)
Khả năng tái lặp lại
Kỹ thuật thực hiện được quy chuẩn
Hiệu quả cao
Có thể chẩn đoán đa tổn thương
Định vị chính xác tổn thương
Bảng 1: Ưu điểm và khuyết điểm của hệ thống ABVS [16]
2. Bước đầu ứng dụng hệ 
thống ABVS tích hợp đàn hồi 
mô ARFI tại Bệnh viện Phụ 
nữ Đà Nẵng
Trong thời gian từ tháng 08/2017 đến tháng 
04/2018, tổng số phụ nữ đến khám vú dồng ý 
quét khối vú 3D tại Bệnh viện Phụ nữ Đà Nẵng 
là 1236. Trong đó có 912 phụ nữ được thực hiện 
siêu âm 2D trước khi thực hiện quét vú 3D. Kỹ 
thuật quét vú 3D được thực hiện bởi 1 kỹ thuật viên 
đã qua đào tạo chuẩn, kết quả hình ảnh được đọc 
bởi bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm trong chẩn 
đoán hình ảnh vú. Các tổn thương được phát hiện 
sẽ dựa vào sự phối hợp giữa hình ảnh 2D, 3D, 
siêu âm đàn hồi mô để phân loại theo hệ thống 
BI-RADS. Đối với BI-RADS 1,2 thì chúng tôi tiếp 
tục theo dõi và hướng dẫn tái khám định kỳ. Tổn 
thương từ BI-RADS 3 trở lên thì chúng tôi bắt đầu 
tiến hành FNA, mổ sinh thiết để cho ra chẩn đoán 
cuối cùng.
1236 bệnh nhân thực hiện quét khối vú 3D có 
độ tuổi trung bình là 37,7 (từ 24 đến 61 tuổi) trong 
đó 28,07% trường hợp có người thân là chị, em, 
mẹ, dì ruột bị ung thư vú hoặc buồng trứng. Bệnh 
nhân thường đến khám với lý do kiểm tra sức khỏe, 
còn lại phần lớn là vì triệu chứng đau tức, cương 
vú (29,04%). Qua đó chúng tôi đã phát hiện ra 
tổn thương vú ở 749/1236 (60,59%) bệnh nhân, 
không phát hiện ra tổn thương vú ở 487/1236 
(39,41%) bệnh nhân còn lại.
Trong 749 tổn thương vú phát hiện được trên 
quét vú 3D thì có 19 tổn thương không được phát 
hiện trên siêu âm 2D trước đó. Các tổn thương bị 
bỏ sót hầu hết có kích thước rất nhỏ hoặc là nằm 
Số lượng Tỷ lệ %
Nhóm tuổi
20 – 40 46,44
>40 662 53,56
Tiền sử
Người thân bị ung thư (vú, buồng trứng) 347 28,07
Sử dụng thuốc thay thế nội tiết 13 1,05
Lý do đến khám
Kiểm tra vú 678 54,85
Khối hay dấu hiệu bất thường trên nhũ ảnh 06 0,51
Đau vú, cương tức vú 359 29,04
Khối u ở vú 182 14,72
Tiết dich núm vú 11 0,88
Bảng 2. Đặc điểm chung
VÕ XUÂN PHÚC, BÙI THỊ NHƯ QUỲNH
90
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
ở các vị trí khó khảo sát ở những phụ nữ có cỡ vú 
to. Điều này cũng được ghi nhận ở các nghiên cứu 
hiện tại khi cho rằng hệ thống ABVS khó bỏ sót tổn 
thương đặc biệt là những tổn thương gần ngoại vi 
hoặc kích thước nhỏ. Ngoài ra người ta không thấy 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng tổn 
thương được phát hiện trên hệ thống ABVS giữa 
2 người đọc, điều này chứng tỏ ABVS không phụ 
thuộc vào bác sĩ. Các tổn thương được đánh giá và 
phân loại theo hệ thống BI-RADS, một số trường 
hợp tiếp tục được chụp nhũ ảnh, chọc FNA, mổ 
sinh thiết. Kết quả trong 749 tổn thương vú, có 736 
tổn thương lành tính (nhân xơ vú, nang vú,) và 
13 tổn thương ác tính. 
Tổn thương nhỏ nhất có kích thước là 1,5mm, 
lớn nhất là 45mm, kích thước trung bình của tổn 
thương phát hiện được trên ABVS là 8,3 ±1,7mm. 
Trong đó có đến 52,33% tổn thương có kích thước 
từ 1-5mm. Như vậy qua hệ thống ABVS chúng tôi 
có thể phát hiện được các tổn thương có kích thước 
rất nhỏ từ vài mm.
Các tổn thương được đánh giá và phân loại 
theo hệ thống BI-RADS, trong đó có 31 trường hợp 
BI-RADS 3, 15 trường hợp BI-RADS 4, 5. Những 
trường hợp này đều được chúng tôi thực hiện thêm 
kỹ thuật siêu âm đàn hồi mô để đánh giá lại đặc 
điểm tổn thương (độ cứng mềm của mô), từ đó có 
thể phân độ lại BI-RADS. Trong 31 trường hợp BI-
RADS 3 sau khi làm siêu âm đàn hồi mô thì có 23 
trường hợp được chuyển về BI-RADS 2, nhờ vậy 
giảm tỷ lệ FNA không cần thiết. Bên cạnh đó đối 
với các tổn thương có chỉ định thực hiện FNA, siêu 
âm đàn hồi mô có thể giúp định hướng kim chọc 
Số lượng Tỷ lệ %
Kích thước (mm)
1-5 392 52,33
5-10 185 24,69
>10 172 22,98
Phân độ BIRADS
1-2 703 93,85
3 31 4,14
4-5 15 2,01
Phân loại tổn thương
Lành tính 736 98,26
Ác tính 13 1,74
Dấu hiệu co kéo trên mặt cắt Coronal (13 tổn thương)
Có 9 69,23%
Không 4 30,77
Bảng 3 : Đặc điểm tổn thương
vào đúng vùng nghi ngờ nhất của tổn thương từ đó 
có thể cho ra kết quả chính xác nhất.
Trong 13 trường hợp ung thư vú, có 9 trường 
hợp có dấu hiệu co kéo mô tuyến vú xung quanh 
khối u trên mặt cắt coronal. Chỉ có 4 trường hợp là 
chúng tôi không thấy dấu hiệu có kéo. Đây cũng là 
ưu điểm mà chúng tôi thấy nhận thấy phù hợp với 
một vài nghiên cứu. Việc hình ảnh được dựng theo 
mặt cắt coronal giúp mô tả chính xác đường đi của 
ống tuyến từ ngoại vi đến núm vú. Các khối ung 
thư vú thường ở dạng tổn thương hình sao là do có 
phản ưng mô làm co kéo mô tuyến xung quanh về 
khối u và phá hủy các phặt phẳng mô mềm song 
song bình thường [7], [8].
Trong thời gian đầu ứng dụng hệ thống ABVS 
tích hợp đàn hồi mô ARFI, chúng tôi nhận thấy :
- Đây là một kỹ thuật không gây đau cho bệnh 
nhân, tạo cảm giác thoải mái cho bệnh nhân trong 
quá trình thực hiện.
- Lần đầu tiên tổn thương vú được mô tả theo 
mặt cắt coronal, giúp có cái nhìn tổng tổn thương 
và mô vú xung quanh, đặc biệt là dấu hiệu co kéo 
trong các trường hợp ác tính.
- Hệ thống tự động thu nhận dữ liệu đã được 
quét một cách khách quan nên không phụ thuộc 
vào Bác sĩ làm siêu âm.
- Với phần mềm Workstation, tổn thương được 
đo đạc chính xác theo kích thước không gian 3 
chiều, giúp Bác sĩ lâm sàng có cái nhìn tổng quát 
về tổn thương
- Dữ liệu được lưu lại phục vụ cho việc theo dõi, 
nghiên cứu và hội chẩn.
- Đặc biệt nhờ tích hợp với công nghệ đàn hồi 
mô ARFI hỗ trợ cho việc chẩn đoán phân biệt giữa 
tổn thương lành tính và ác tính thông qua phân biệt 
Hình 2: Dấu hiệu co kéo mô tuyến vú trên mặt cắt coronal của tổn thương ung thư vú
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
91
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 86 - 91, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
độ cứng mềm của mô, qua đó giúp cho việc sinh 
thiết đúng vị trí nghi ngờ.
Tuy nhiên chúng tôi cũng gặp phải một số bỡ 
ngỡ và khó khăn trong thời gian đầu thực hiện. 
Thời gian thực hiện 1 trường hợp ban đầu chiếm 
khoảng từ 20-25 phút vì lý do chưa thành thạo kỹ 
thuật, đến nay đã rút ngắn lại trung bình 10-15 
phút một trường hợp. Ngoài ra thời gian xử lý hình 
ảnh trung bình từ 10-15 phút đối với một trường 
hợp đơn giản. Khó khảo sát đối với những tổn 
thương nằm ngoài trường quét như vùng nách... Để 
có hình ảnh đẹp và chính xác thì cần loại gel đặc 
biệt dùng riêng cho hệ thống và đặc biệt chuẩn 
hóa người thực hiện quét vú. 
3. Kết luận
Quét vú tạo khối 3D tích hợp đàn hồi mô là kỹ 
thuật mới với nhiều ưu điểm nổi trội hơn siêu âm 2D 
như tránh bỏ sót tổn thương đồng thời cung cấp thêm 
một số thông tin cho việc chẩn đoán phân biệt tổn 
thương lành ác tính-dường như tỏ ra là một phương 
thức hỗ trợ cho nhũ ảnh trong việc tầm soát phát hiện 
sớm ung thư vú đặc biệt ở phụ nữ trẻ, có mô vú dày.
Tài liệu tham khảo
1. Berg WA, Blume JD, Cormack JB, Mendelson EB, Lehrer D, Bohm-Velez 
M, et al. (2008), Combined screening with ultrasound and mammography vs 
mammography alone in women at elevated risk of breast cancer, Journal of 
the American Medical Association , 299, 2151-2163
2. Berg WA (2009), Tailored supplemental screening for breast cancer: What 
now and what next?, American Journal of Roentgenology, 192,390–399
3. Boyd NF, Guo H, Martin LJ, Sun L, Stone J, Fishell E, et al.( 2007), 
Mammographic density and the risk and detection of breast cancer, The 
New England Journal of Medicine, 356, 227-236.
4. Chen L, Chen Y, Diao XN et al (2013), Comparative study of automated 
breast 3-D ultrasound and handheld B-mode ultrasound for differentiation of 
benign and malignant breast masses, Ultrasound in Medicine and Biology, 
139(10), 1735–1742.
5. Danny R. Youlden, Susanna M. Cramb, Cheng Har Yip, Peter D. Baade 
(2014), Incidence and mortality of female breast cancer in the AsiaPacific 
region, Cancer Biology Medicine, 11:101-115.
6. Hofvind S, Ursin G, Tretli S, Sebuodegard S, Moller B (2013), Breast 
cancer mortality in participants of the Norwegian Breast Cancer Screening 
Program, Cancer, 119, 3106-3112.
7. Insana MF, Pellot-Barakat C, Sridhar M, et al (2004), Viscoelastic 
imaging of breast tumor microenvironment with ultrasound, Journal of 
Mammary Gland Biology and Neoplasia, 9, 393 – 404
8. Kalmantis K, Dimitrakakis C, Koumpis Ch, et al (2009), The contribution 
of three-dimensional power Doppler imaging in the preoperative assessment 
of breast tumors: a preliminary report, Obstetrics and Gynecology 
International, 2009: 530579
9. Kelly KM, Dean J, Lee SJ, Comulada WS (2010), Breast cancer 
detection: radiologists’ performance using mammography with and without 
automated whole-breast ultrasound, European Radiology, 20:25572564.
10. Kolb TM, Lichy J, Newhouse JH (2002), Comparison of the 
performance of screening mammography, physical examination, and 
breast US and evaluation of factors that influence them: an analysis of 
27,825 patient evaluations, Radiology ,225:165-75
11. Kuhl CK, Schrading S, Leutner CC, Morakkabati-Spitz N, Wardelmann 
E, Fimmers R, et al.(2005), Mammography, breast ultrasound, and 
magnetic resonance imaging for surveillance of women at high familial 
risk for breast cancer, Journal of Clinical Oncology, 23,8469-847.
12. Leach MO, Boggis CR, Dixon AK et al (2005), Screening with 
magnetic imaging and mammography of a UK population at high familial 
risk of breast cancer: A prospective mluticentre cohort study (MARIBS), 
Lancet, 365, 1769–1778.
13. Lin X, Wang J, Han F et al (2012), Analysis of eighty- one cases 
with breast lesions using automated breast volume scanner and 
comparison with handheld ultrasound, European Journal of Radiology, 
13(5), 873–878.
14. McCormack VA, dos Santos Silva I (2006), Breast density and 
parenchymal patterns as markers of breast cancer risk: a meta-analysis, 
Cancer epidemiology, biomarkers & prevention, 15, 1159–1169.
15. Xu C, Wei S, Xie Y (2014), Combined use of the automated breast 
volume scanner and the US elastography for the differentiation of benign 
from malignant lesions of the breast, BMC Cancer, 14:798.
16. Zhang Q, Hu B, Hu B et al (2012), Detection of breast lesions using 
an automated breast volume scanner system, Journal of International 
Medical Research, 40(1), 300–306.
17. Wang HY, Jiang YX, Zhu QL (2012), Differentiation of benign and 
malignant breast lesions: a comparison between automatically generated 
breast volume scans and handheld ultrasound examinations, European 
Journal of Radiology, 81(11), 3190–3200.

File đính kèm:

  • pdfhe_thong_sieu_am_quet_khoi_vu_3d_abvs_tich_hop_sieu_am_dan_h.pdf