Giải phẫu ứng dụng phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu

Đặt vấn đề: Bệnh lý tổn thương phức hợp dây chằng bên ngoài diễn tiến đến mất vững khớp khuỷu mạn

tính. Việc điều trị những tổn thương này thường là khâu phục hồi hoặc tái tạo dây chằng bên ngoài bằng ghép

gân vì thế hiểu biết giải phẫu chi tiết của phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu là rất quan trọng.

Mục tiêu: Nghiên cứu các đặc điểm về hình thái học của phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu và sự

thay đổi chiều dài của dây chằng bên quay và dây chằng bên trụ ngoài.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả. Phức hợp dây chằng bên ngoài trên khớp

khuỷu xác tươi người Việt Nam được phẫu tích và khảo sát các đặc điểm giải phẫu học

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Giải phẫu ứng dụng phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giải phẫu ứng dụng phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu

Giải phẫu ứng dụng phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 108 
GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG PHỨC HỢP DÂY CHẰNG BÊN NGOÀI KHỚP KHUỶU 
Nguyễn Phan Huy Vũ1, Cao Thỉ1 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bệnh lý tổn thương phức hợp dây chằng bên ngoài diễn tiến đến mất vững khớp khuỷu mạn 
tính. Việc điều trị những tổn thương này thường là khâu phục hồi hoặc tái tạo dây chằng bên ngoài bằng ghép 
gân vì thế hiểu biết giải phẫu chi tiết của phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu là rất quan trọng. 
Mục tiêu: Nghiên cứu các đặc điểm về hình thái học của phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu và sự 
thay đổi chiều dài của dây chằng bên quay và dây chằng bên trụ ngoài. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả. Phức hợp dây chằng bên ngoài trên khớp 
khuỷu xác tươi người Việt Nam được phẫu tích và khảo sát các đặc điểm giải phẫu học. 
Kết quả: Qua phẫu tích 30 khớp khuỷu xác tươi tại Bộ môn Giải phẫu học, Đại học Y Dược TP. HCM, kết 
quả cho thấy phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu gồm 3 thành phần hằng định là dây chằng bên quay, dây 
chằng bên trụ ngoài và dây chằng vòng. Thành phần dây chằng bên phụ ngoài có tần suất xuất hiện là 26,7%. 
Trong cung vận động gấp – duỗi, sấp – ngửa khớp khuỷu, chiều dài dây chằng bên quay thay đổi rất ít, chiều dài 
dây chằng bên trụ ngoài có sự thay đổi đáng kể và có xu hướng tăng dần khi gấp khuỷu. 
Kết luận: Kết quả về mô tả giải phẫu đại thể phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu và sự thay đổi chiều 
dài của dây chằng bên quay và dây chằng bên trụ ngoài giúp ích trong các nghiên cứu tiếp theo cũng như chẩn 
đoán và điều trị tổn thương cấu trúc này trên lâm sàng. 
Từ khóa: phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu, dây chằng bên quay, dây chằng bên trụ ngoài 
ABSTRACT 
APPLIED ANATOMY OF THE LATERAL LIGAMENT COMPLEX OF THE ELBOW 
Nguyen Phan Huy Vu, Cao Thi 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 108 - 113 
Background: Injury or attenuation of the lateral collateral ligament will lead to chronic lateral elbow 
instability. Reconstruction of the lateral ligament with repair of the surrounding soft tissue structures is 
recommended in patients who have symptoms of recurrent lateral instability. Therefore, it is very much necessary 
to explore the lateral ligament complex. 
Objectives: To define the anatomical structures of lateral ligament complex, to observe the variability of the 
length of lateral collateral ligament and lateral ulnar collateral ligament. 
Methods: Thirty fresh frozen cadaveric elbows were dissected and lateral ligament complex was observed. 
parameters of lateral ligament complex for each cadaver were recorded. 
Results: The lateral ligament complex consists of 3 constant parts which are lateral collateral ligament, 
lateral ulnar collateral ligament and annular ligament. The accessory collateral ligament appears 26,7%. From 
prone to supine and flexion to extension of the forearm, the length of lateral collateral ligament changes little. On 
the contrary, the length of lateral ulnar collateral ligament changes remarkably, it tends to increase in flexion. 
Conclusions: This study gives size and structure of lateral ligament complex, the relationship of this to some 
neighboring structures. It can help surgeons in repair or reconstruction of lateral ligament complex and avoid 
1Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: PGS.TS. Cao Thỉ ĐT: 0983306003 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 109 
iatrogenic complication in surgery about the elbow. 
Keywords: lateral ligament complex, lateral collateral ligament, lateral ulnar collateral ligament 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu 
đóng vai trò quan trọng trong cơ sinh học khớp 
khuỷu và là thành phần chính ngăn khuỷu vẹo 
trong và xoay sau ngoài. Tổn thương phức hợp 
dây chằng bên ngoài khuỷu có thể do nhiều 
nguyên nhân gây ra, phổ biến nhất là trật khớp 
khuỷu, các nguyên nhân khác có thể kể đến là 
tổn thương thứ phát khi có can thiệp phẫu thuật 
vùng khuỷu, di chứng do điều trị bảo tồn viêm 
mỏm trên lồi cầu ngoài, phẫu thuật chỏm quay... 
Bệnh lý tổn thương phức hợp dây chằng bên 
ngoài diễn tiến đến mất vững khớp khuỷu mạn 
tính. Bệnh nhân cảm thấy đau, khó chịu và lỏng 
lẻo khi vận động khuỷu tay. Việc điều trị những 
tổn thương này thường là khâu phục hồi hoặc 
tái tạo dây chằng bên ngoài bằng ghép gân(1). 
Với khuynh hướng khâu phục hồi hoặc tái 
tạo dây chằng đúng với giải phẫu ban đầu thì 
việc hiểu rõ đặc điểm giải phẫu phức hợp dây 
chằng bên ngoài khớp khuỷu ở người Việt Nam 
là rất quan trọng và thiết thực. Thêm vào đó, 
cũng chưa có nghiên cứu nào khảo sát giải phẫu 
của phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu 
trên người Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi tiến hành 
thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải phẫu ứng 
dụng phức hợp dây chằng bên ngoài khớp 
khuỷu của người Việt Nam”. 
Mục tiêu 
Xác định các đặc điểm giải phẫu các thành 
phần của phức hợp dây chằng bên ngoài khớp 
khuỷu và mối liên quan với các mốc giải phẫu 
lân cận. 
Khảo sát sự thay đổi chiều dài của dây chằng 
bên quay và dây chằng bên trụ ngoài khi khuỷu 
vận động gấp – duỗi, sấp – ngửa. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯỚNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tiêu chuẩn c€họn mẫu 
Khuỷu tay trên xác tươi người Việt Nam 
trưởng thành tại tại Bộ môn Giải Phẫu học, Đại 
học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Có bằng chứng đại thể về chấn thương, viêm 
nhiễm, u bướu, dị dạng và có bằng chứng can 
thiệp phẫu thuật vùng khuỷu tay. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 
Các bước thực hiện 
Bước 1: Phương pháp phẫu tích 
Rạch da theo đường dọc giữa khuỷu tay, 
vuông góc với nếp gấp khuỷu, rạch hai đường 
ngang vuông góc với đường dọc, phía trên và 
phía dưới nếp gấp khuỷu để mở rộng phẫu 
trường (Hình 1). 
Bóc tách lớp da, các cơ phía trước và phía 
ngoài khuỷu để bộc lộ rõ phức hợp dây chằng 
bên ngoài khớp khuỷu. 
Hình 1: Đường rạch da. Nguồn: tư liệu nghiên cứu 
Bước 2: Phương pháp thu thập số liệu 
Quan sát hình dạng và xác định tần suất 
xuất hiện của các thành phần của phức hợp 
dây chằng bên ngoài khớp khuỷu bao gồm: 
dây chằng bên quay, dây chằng bên trụ ngoài, 
dây chằng vòng và dây chằng bên phụ ngoài 
(Hình 2). 
Đo chiều dài, chiều rộng và độ dày các dây 
chằng thành phần ở tư thế khuỷu gấp 900, cẳng 
tay trung tính. Riêng chiều dài của dây chằng 
vòng được đo sau khi cắt ra khỏi mốc xương. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 110 
Hình 2: Phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu. 
Nguồn: tư liệu nghiên cứu 
Giải phẫu động của dây chằng bên quay và dây chằng 
bên trụ ngoài 
Cho cẳng tay sấp tối đa, tiến hành đo chiều 
dài của dây chằng bên quay và dây chằng bên 
trụ ngoài khi cẳng tay lần lượt ở vị trí 00, 300, 600, 
900 và 1200. 
Tiếp tục cho cẳng tay ngửa tối đa, sau đó tiến 
hành đo chiều dài của dây chằng bên quay và 
dây chằng bên trụ ngoài khi cẳng tay lần lượt ở 
vị trí 00, 300, 600, 900 và 1200. 
Diện bám của dây chằng bên quay và dây chằng bên 
trụ ngoài 
Bóc tách các dây chằng thành phần ra khỏi 
mốc xương, đánh dấu xung quanh nguyên ủy 
dây chằng bên quay, nguyên ủy và bám tận của 
dây chằng bên trụ ngoài bằng màu vẽ (Hình 3). 
Chụp hình thẳng góc vị trí nguyên ủy và bám 
tận của các dây chằng bằng thước đo. Tính diện 
tích diện bám nguyên ủy và bám tận của dây 
chằng bên quay và dây chằng bên trụ ngoài 
bằng phần mềm Autocad. 
Hình 3: Minh họa diện bám của các dây chằng. Hình 
nền trích từ Christopher L. Camp(2) 
Liên quan của các thành phần phức hợp dây chằng 
bên quay với dây chằng bên trụ ngoài với các mốc giải 
phẫu lân cận 
Đo khoảng cách từ điểm giữa nguyên ủy của 
dây chằng bên quay đến điểm nhô cao nhất của 
mỏm trên lồi cầu ngoài. 
Đo khoảng cách từ điểm giữa nguyên ủy của 
dây chằng bên trụ ngoài đến điểm nhô cao nhất 
của mỏm trên lồi cầu ngoài. 
Đo khoảng cách từ điểm giữa nguyên ủy của 
dây chằng bên quay đến điểm giữa nguyên ủy 
của dây chằng bên trụ ngoài. 
Đo khoảng cách từ điểm giữa bám tận dây 
chằng bên trụ ngoài đến điểm nhô cao nhất của 
mào cơ ngửa. 
Xử lý số liệu 
Các số liệu thu thập sau khi phẫu tích sẽ 
được xử lý bằng bằng phần mềm SPSS 20 và 
Excel 2019. 
KẾT QUẢ 
Nghiên cứu được tiến hành trên 30 khuỷu 
tay gồm 18 nam và 12 nữ, độ tuổi trung bình là 
72,9 ± 9,3, dao động từ 61 tuổi đến 89 tuổi. 
Sự hiện diện 
Trong 30 mẫu nghiên cứu, có 3 thành phần 
luôn hiện diện là dây chằng bên quay, dây chằng 
bên trụ ngoài và dây chằng vòng. Dây chằng bên 
phụ ngoài chỉ ghi nhận trong 26,7% trường hợp. 
Kiểu bám tận của dây chằng bên trụ ngoài 
Có sự liên quan giữa diện bám của dây 
chằng bên trụ ngoài và dây chằng vòng ở đầu 
gần xương trụ tạo nên 2 kiểu bám tận được phân 
thành hai nhóm như sau: 
• Nhóm I (12 trường hợp, 40%): dây chằng 
bên trụ ngoài chia làm 2 bó, một bó bám cùng 
với dây chằng vòng, bó thứ hai bám vào vị trí xa 
hơn trên mào cơ ngửa xương trụ (Hình 4). 
• Nhóm II (18 trường hợp, 60%): dây chằng 
bên trụ ngoài bám cùng với dây chằng vòng tạo 
thành một dải rộng trên mào cơ ngửa xương trụ 
(Hình 5). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 111 
Hình 4: Kiểu bám tận dây chằng bên trụ ngoài thuộc 
nhóm I. Nguồn: tư liệu nghiên cứu 
Hình 5: Kiểu bám tận dây chằng bên trụ ngoài thuộc 
nhóm II. Nguồn: tư liệu nghiên cứu 
Dây chằng bên quay 
Có cấu trúc hình rẽ quạt. Nguyên ủy ở phía 
trước dưới của mỏm trên lồi cầu ngoài xương 
cánh tay chạy theo hướng từ trên xuống dưới 
hòa lẫn và bám tận vào dây chằng vòng. Diện 
tích nguyên ủy trung bình là: 26,9 ± 8,1 mm2 
(nhỏ nhất: 18,3 mm2, lớn nhất: 50,8 mm2 ). 
Dây chằng bên quay có chiều dài trung bình 
là 17,5 ± 2,4 mm, trường hợp nhỏ nhất là 13,9 
mm; trường hợp lớn nhất là 23,3 mm. 
Chiều rộng tại vị trí giữa dây chằng bên 
quay trung bình là 6,5 ± 1,2 mm, biến thiên trong 
khoảng 4 - 9 mm. 
Độ dày trung bình tại vị trí giữa dây chằng 
bên quay là 2,7 ± 0,7 mm, trường hợp mỏng nhất 
là 1 mm, trường hợp dày nhất là 4 mm. 
Dây chằng bên trụ ngoài 
Là một dải mỏng và mảnh hơn so với dây 
chằng bên quay. Nguyên ủy ở phía sau dưới của 
mỏm trên lồi cầu ngoài chạy theo hướng từ trên 
xuống dưới, hơi ra sau đến hòa lẫn với dây 
chằng vòng. Từ đây chúng tách thành các bó 
chạy từ dây chằng vòng đến bám tận vào mào 
cơ ngửa xương trụ. Diện tích nguyên ủy trung 
bình là 21,8 ± 4,9 mm2 (nhỏ nhất: 13,6 mm2; lớn 
nhất: 33,4 mm2). Diện tích bám tận trung bình là 
28,1 ± 11,5 mm2 (nhỏ nhất: 11,2 mm2; lớn nhất: 
55,8 mm2). 
Dây chằng bên trụ ngoài có chiều dài trung 
bình là 37,7 ± 6,3 mm, trường hợp nhỏ nhất là 
28,9 mm; trường hợp lớn nhất là 60,1 mm. 
Chiều rộng tại đầu nguyên ủy dây chằng 
bên trụ ngoài trung bình là 4,7 ± 0,7 mm, biến 
thiên trong khoảng 3,5 - 6 mm. 
Chiều rộng tại đầu bám tận dây chằng bên 
trụ ngoài trung bình là 9,8 ± 2,1 mm, biến thiên 
trong khoảng 6 - 13 mm. 
Độ dày trung bình tại vị trí giữa dây chằng 
bên trụ ngoài là 1,8 ± 0,5 mm, trường hợp mỏng 
nhất là 0,5 mm, trường hợp dày nhất là 2,5 mm. 
Dây chằng vòng 
Có cấu trúc dải sợi tương đối chắc chắn bao 
quanh chỏm xương quay và kéo dài đến đoạn 
gần cổ xương quay. Nguyên ủy và bám tận của 
dây chằng vòng là bờ trước và bờ sau của 
khuyết quay xương trụ. 
Chiều dài trung bình của dây chằng vòng là 
48,7 ± 5,32 mm; trường hợp nhỏ nhất là 38,7 mm, 
trường hợp lớn nhất là 56,2 mm. 
Chiều rộng tại vị trí rộng nhất của dây chằng 
vòng trung bình là 15,03 ± 1,7 mm; biến thiên 
trong khoảng 12 - 18 mm. 
Độ dày tại vị trí dày nhất của dây chằng 
vòng trung bình là 1,02 ± 0,22; trường hợp mỏng 
nhất là 0,7 mm, trường hợp dày nhất là 1,5 mm. 
Liên quan của các thành phần phức hợp dây chằng 
bên ngoài với một số mốc giải phẫu lân cận 
Khoảng cách từ điểm giữa nguyên ủy dây 
chằng bên quay đến điểm nhô cao nhất của 
mỏm trên lồi cầu ngoài trung bình là 8,1 ± 1,1 
mm; biến thiên trong khoảng 6 - 10 mm. 
Khoảng cách từ điểm giữa nguyên ủy dây 
chằng bên trụ ngoài đến điểm nhô cao nhất của 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 112 
mỏm trên lồi cầu ngoài trung bình là 11,5 ± 2,2 
mm; biến thiên trong khoảng 7 - 16 mm. 
Khoảng cách từ điểm giữa bám tận dây 
chằng bên trụ ngoài đến điểm nhô cao nhất của 
mào cơ ngửa xương trụ trung bình là 4,1 ± 1,8 
mm; biến thiên trong khoảng 1 - 7 mm. 
Khoảng cách từ điểm giữa nguyên ủy dây 
chằng bên quay đến điểm giữa nguyên ủy dây 
chằng bên trụ ngoài trung bình là 5,4 ± 1,3 mm; 
biến thiên trong khoảng 4 - 8 mm. 
Giải phẫu động 
Dây chằng bên quay 
Nhìn chung, chiều dài trung bình dây chằng 
bên quay tăng rất ít khi khuỷu gấp từ 00 đến 
1200. Ở tư thế cẳng tay sấp hoàn toàn khi gấp 
khuỷu từ 00 đến 1200 chiều dài dây chằng bên 
quay tăng 0,6 mm. Ở tư thế cẳng tay ngửa hoàn 
toàn, khi gấp khuỷu từ 00 đến 1200 chiều dài dây 
chằng này tăng 0,3 mm. 
Qua đó chúng tôi nhận thấy rằng chiều dài 
dây chằng bên quay thay đổi không đáng kể 
trong cung vận động gấp – duỗi khớp khuỷu. 
Có thể nói rằng dây chằng bên quay tương đối 
hằng định trong cung vận động gấp duỗi khuỷu. 
Dây chằng bên trụ ngoài 
Khác biệt với dây chằng bên quay, chiều dài 
của dây chằng bên trụ ngoài có sự thay đổi đáng 
kể và có xu hướng tăng dần khi khuỷu gấp từ 00 
đến 1200. Trong biên độ vận động của khớp 
khuỷu chiều dài dây chằng bên trụ ngoài dao 
động trong khoảng từ 35 - 43,8 mm. 
Ở tư thế cẳng tay sấp hoàn toàn, khi gấp 
khuỷu từ 00 đến 1200, chiều dài trung bình của 
dây chằng bên trụ ngoài tăng từ 35 - 40,6 mm 
(tăng lên 5,6 mm). Trong đó, chiều dài dây chằng 
bên trụ ngoài tăng lên nhiều nhất khi gấp khuỷu 
từ 600 – 900. 
Ở tư thế cẳng tay ngửa hoàn toàn, khi gấp 
khuỷu từ 00 đến 1200, chiều dài trung bình của 
dây chằng bên trụ ngoài tăng từ 36,3 - 43,8 mm 
(tăng lên 7,5 mm). Trong đó, chiều dài dây chằng 
bên trụ ngoài tăng lên nhiều nhất khi gấp khuỷu 
từ 300 – 600. 
BÀN LUẬN 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 3 thành 
phần luôn hiện diện trong phức hợp dây chằng 
bên ngoài khớp khuỷu là dây chằng bên quay, 
dây chằng bên trụ ngoài và dây chằng vòng 
tương đồng với các tác giả O’Driscoll SW(3), 
Olsen BS(4) và Takigawa N(5) tuy nhiên nghiên 
cứu của Beckett KS(6) và MorreyBF(7) chỉ ghi nhận 
sự hiện diện của dây chằng này ở 50% trường 
hợp. Trong hầu hết các nghiên cứu, các tác giả 
đều ghi nhận rất khó để bóc tách riêng dây 
chằng bên trụ ngoài ra khỏi dây chằng bên quay 
và dây chằng vòng, điều này có thể dẫn đến sự 
khác biệt về kết quả trên. 
Kết quả mô tả đại thể về hình dạng, vị trí của 
các dây chằng cũng như liên quan với các cấu 
trúc xung quanh tương đối phù hợp với các tác 
giả trước đó. 
Morrey BF(7) mô tả dây chằng bên quay có 
dạng hình rẽ quạt bắt nguồn từ mỏm trên lồi cầu 
ngoài đến bám tận và hòa lẫn vào dây chằng 
vòng. Chiều dài trung bình là 21,3 ± 3,3 mm và 
chiều rộng trung bình là 5,1 ± 1,5 mm. 
Cohen MS(8) thực hiện nghiên cứu trên 40 xác 
tươi, kết luận rằng có sự liên kết giữa diện bám 
của dây chằng bên trụ ngoài và dây chằng vòng 
ở đầu gần xương trụ. Được chia thành hai nhóm: 
• Nhóm I chiếm 55% (22 trường hợp): diện 
bám tận của dây chằng bên trụ ngoài chia làm 
hai bó, một bó bám vào cùng với dây chằng 
vòng, một bó bám xa hơn trên mào cơ ngửa 
xương trụ. 
• Nhóm II chiếm 45% (18 trường hợp): diện 
bám tận của dây chằng bên trụ ngoài bám cùng 
với dây chằng vòng tạo thành một dải rộng trên 
mào cơ ngửa xương trụ. 
Hannouche D(9) mô tả phức hợp dây chằng 
bên ngoài khớp khuỷu gồm 3 bó. Bó sau có 
nguyên ủy ở mặt sau mỏm trên lồi cầu ngoài 
xương cánh tay, chạy ra sau bám vào mỏm 
khuỷu. Nó là sự dày lên của bao khớp sau và 
không có vai trò trong sự ổn định của khớp 
khuỷu cũng như gấp và duỗi khuỷu. Bó trước 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 113 
hay dây chằng bên quay có dạng hình quạt bắt 
nguồn từ phía trước dưới mỏm trên lồi cầu 
ngoài đến bám tận và hòa lẫn vào dây chằng 
vòng. Dây chằng bên quay và dây chằng bên trụ 
ngoài có nguyên ủy chung và chạy cùng hướng 
với nhau ở đoạn gần. Bó giữa hay dây chằng bên 
trụ ngoài luôn được xác định rõ ràng nhất, bám 
tận vào mào cơ ngửa trong tất cả trường hợp. 
Beckett KS(6) xác định được chiều dài trung 
bình của dây chằng bên quay, dây chằng bên 
phụ ngoài và dây chằng bên trụ ngoài lần lượt là 
25,7 ± 2,7 mm; 41,1 ± 3,3 mm và 45,9 ± 6,3 mm 
Camp CL(2) mô tả giải phẫu học của 10 mẫu 
khuỷu tay xác định được diện tích nguyên ủy và 
bám tận của dây chằng bên trụ ngoài lần lượt là 
26,0 ± 5,9 mm2 và 22,9 ± 7,8 mm2; của dây chằng 
vòng lần lượt là 25,7 ± 17,4 mm2 và 36,6 ± 13,0 
mm2. Diện tích nguyên ủy của dây chằng bên 
quay là 31,6 ± 10,0 mm2. 
KẾT LUẬN 
Phức hợp dây chằng bên ngoài khớp khuỷu 
gồm 3 thành phần luôn hằng định là dây chằng 
bên quay, dây chằng bên trụ ngoài và dây chằng 
vòng. Tuy nhiên chúng có ranh giới không rõ 
ràng và gần như không thể bóc tách riêng rẽ 
từng thành phần được. Ngoài ra, còn có thành 
phần dây chằng bên phụ ngoài với tần suất xuất 
hiện là 26,7%. 
Trong cung vận động gấp – duỗi, sấp – ngửa 
khớp khuỷu: 
• Chiều dài dây chằng bên quay thay đổi rất ít. 
• Chiều dài dây chằng bên trụ ngoài có sự 
thay đổi đáng kể và có xu hướng tăng dần khi 
gấp khuỷu. Nó dao động trong khoảng từ 35 
mm đến 43,8 mm. 
Kết quả về mô tả giải phẫu đại thể phức hợp 
dây chằng bên ngoài khớp khuỷu và sự thay đổi 
chiều dài của dây chằng bên quay và dây chằng 
bên trụ ngoài giúp ích trong các nghiên cứu tiếp 
theo cũng như chẩn đoán và điều trị tổn thương 
cấu trúc này trên lâm sàng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Reichel LM, Milam GS, Sitton SE, et al (2013). Elbow lateral 
collateral ligament injuries. J Hand Surg Am, 38(1):84-201. 
2. Camp CL, Fu M, Jahandar H, et al (2018). The lateral collateral 
ligament complex of the elbow: quantitative anatomic analysis 
of the lateral ulnar collateral, radial collateral, and annular 
ligaments. J Shoulder Elbow Surg, 28(4):665-670. 
3. O'Driscoll SW, Bell DF, Morrey BF (1991). Posterolateral 
rotatory instability of the elbow. J Bone Joint Surg Am, 73(3):440-
446. 
4. Olsen BS, Vaesel MT, Søjbjerg JO, et al (1996). Lateral collateral 
ligament of the elbow joint: anatomy and kinematics. J Shoulder 
Elbow Surg, 5(2 Pt 1):103-112. 
5. Takigawa N, Ryu J, Kish VL, et al (2005). Functional anatomy of 
the lateral collateral ligament complex of the elbow: 
morphology and strain. J Hand Surg Br, 30(2):143-147. 
6. Beckett KS, McConnell P, Lagopoulos M, et al (2000). Variations 
in the normal anatomy of the collateral ligaments of the human 
elbow joint. Journal of Anatomy, 197(Pt 3):507-511. 
7. Morrey BF, An KN (1985). Functional anatomy of the ligaments 
of the elbow. Clin Orthop Relat Res, (201):84-90. 
8. Cohen MS, Hastings H (1997). Rotatory instability of the elbow. 
The anatomy and role of the lateral stabilizers. J Bone Joint Surg 
Am, 79(2):225-233. 
9. Hannouche D, Begue T (1999). Functional anatomy of the lateral 
collateral ligament complex of the elbow. Surg Radiol Anat, 
21(3):187-191. 
Ngày nhận bài báo: 01/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021

File đính kèm:

  • pdfgiai_phau_ung_dung_phuc_hop_day_chang_ben_ngoai_khop_khuyu.pdf