Giải phẫu gân cơ tứ đầu đùi ứng dụng làm mảnh ghép tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối

Đặt vấn đề: Mảnh ghép gân cơ tứ đầu đùi (QT) là một vật liệu phổ biến để phẫu thuật tái tạo dây chằng

chéo trước (ACL) lần đầu hoặc tái tạo lại lần hai. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về giải phẫu ứng dụng của

QT tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định đặc điểm giải phẫu QT ở người Việt Nam, xác định vị trí lấy mảnh ghép

QT ứng dụng tái tạo ACL.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả. Vùng đùi gối của xác tươi được phẫu tích, bộc

lộ toàn bộ QT. Ghi nhận các kích thước chiều dài, chiều rộng, độ dày gân, đường kính và diện tích cắt ngang

mảnh ghép thu được.

pdf 6 trang phuongnguyen 720
Bạn đang xem tài liệu "Giải phẫu gân cơ tứ đầu đùi ứng dụng làm mảnh ghép tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giải phẫu gân cơ tứ đầu đùi ứng dụng làm mảnh ghép tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối

Giải phẫu gân cơ tứ đầu đùi ứng dụng làm mảnh ghép tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 80
GIẢI PHẪU GÂN CƠ TỨ ĐẦU ĐÙI ỨNG DỤNG 
LÀM MẢNH GHÉP TÁI TẠO DÂY CHẰNG CHÉO TRƯỚC KHỚP GỐI 
Nguyễn Đăng Phú Hà1, Cao Thỉ2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Mảnh ghép gân cơ tứ đầu đùi (QT) là một vật liệu phổ biến để phẫu thuật tái tạo dây chằng 
chéo trước (ACL) lần đầu hoặc tái tạo lại lần hai. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về giải phẫu ứng dụng của 
QT tại Việt Nam. 
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định đặc điểm giải phẫu QT ở người Việt Nam, xác định vị trí lấy mảnh ghép 
QT ứng dụng tái tạo ACL. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả. Vùng đùi gối của xác tươi được phẫu tích, bộc 
lộ toàn bộ QT. Ghi nhận các kích thước chiều dài, chiều rộng, độ dày gân, đường kính và diện tích cắt ngang 
mảnh ghép thu được. 
Kết quả: Kết quả phẫu tích 30 QT của 15 xác tươi có tuổi trung bình 73,5 tuổi và chiều cao trung bình 
168,1 cm cho thấy QT có hình dạng tháp hai đỉnh hướng lên trên, chiều dài tối đa tương ứng với đỉnh ngoài, 
nằm ở vị trí cách cạnh trong 64,3 ± 5,4% so với chiều rộng tối đa của gân. Chiều dài tối đa là 79,4 ± 4,5 mm. 
Chiều rộng gân tại điểm bám trên xương bánh chè là 36,0 ± 4,3mm. Độ dày tối đa là 7,2 ± 0,4 mm. Mảnh ghép 
thu được có đường kính 8,5 ± 0,7 mm, diện tích cắt ngang 64,7 ± 4,1 mm². 
Kết luận: QT đảm bảo được các yêu cầu về kích thước cho một mảnh ghép tái tạo ACL. Để lấy mảnh ghép 
QT cần xác định được đỉnh cao nhất của gân (cách cạnh trong 64,3% so với chiều rộng gân). Phẫu thuật viên 
nên lấy mảnh ghép rộng 10mm tính từ đỉnh đó vào trong, chiều dài phần gân 70mm, độ dày lấy hết gân. 
Từ khóa: gân cơ tứ đầu đùi, tái tạo dây chằng chéo trước 
ABSTRACT 
APPLIED ANATOMY OF THE QUADRICEPS TENDON 
FOR ANTERIOR CRUCIATE LIGAMENT RECONSTRUCTION 
Nguyen Dang Phu Ha, Cao Thi 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 80 - 85 
Background: The quadriceps tendon (QT) is a common autologous graft for primary or secondary anterior 
cruciate ligament (ACL) reconstruction. However, in Vietnam the anatomical structures of QT as a graft haven't 
been studied. 
Objectives: To define the anatomical structures of QT as a graft for ACL reconstruction and determine the 
ideal harvesting site. 
Methods: Thirty fresh frozen cadaveric knees were dissected and the QT was analyzed. Measurements of 
length, depth, and width were taken in a standardized manner for each cadaver and results were recorded. 
Results: The QT superficial morphology showed 2 distinct peaks, with the maximum length correlating 
with the lateral peak. The maximum length of tendon located at 64.3% ± 5.4% of the width from the medial 
border of the quadriceps tendon insertion. The maximum length of QT was 79.4 ± 4.5 mm. The mean width 
of the QT at its insertion onto the patella was 36.0 ± 4.3 mm. The thickness of QT at its maximum length on 
1Bệnh viện Nhân dân Gia Định 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Đăng Phú Hà ĐT: 0779989498 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 81
patella insertion was 7.2 ± 0.4 mm. The mean diameter of the QT graft was 8.5 ± 0.7 mm, with mean cross-
sectional area of 64.7 ± 4.1 mm². 
Conclusions: QT provides a promising graft for ACL reconstruction. QT graft harvesting should begin by 
locating the apex (maximum length) of the QT (64.3% of the distance from the patella’s medial edge). The 
surgeon should then harvest a 10mm wide graft medially to the maximum length, harvesting 70mm long and 
full-thickness tendon. 
Keywords: quadriceps tendon, anterior cruciate ligament reconstruction 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Mảnh ghép tự thân lấy từ một phần gân 
bánh chè, gân khối gân cơ chân ngỗng, gân cơ tứ 
đầu đùi (QT) được khẳng định có nhiều ưu điểm 
vượt trội(1). Hiện nay, đã có nhiều tác giả nghiên 
cứu sử dụng mảnh ghép lấy từ một phần QT để 
tái tạo lại dây chằng chéo trước (ACL) với những 
ưu điểm như cách lấy nhanh chóng, có thể lấy 
kèm hoặc không kèm mẩu xương. QT to và chắc 
nên khi lấy đi một phần cũng ít gây ảnh hưởng 
đến độ chắc của phần cơ tứ đầu đùi còn lại. Loại 
vật liệu này đang rất phổ biến để tái tạo lại dây 
chằng chéo trước(2). Tuy nhiên việc nghiên cứu 
về giải phẫu QT, cũng như ứng dụng để hỗ trợ 
cho công tác điều trị lại chưa được nghiên cứu ở 
nước ta. Trước thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện 
đề tài này nhằm nghiên cứu về giải phẫu QT, từ 
đó đưa ra những ứng dụng lâm sàng cho việc 
lấy gân được tốt nhất. 
Mục tiêu 
Xác định đặc điểm giải phẫu QT ở người 
Việt Nam. 
Xác định vị trí lấy mảnh ghép QT ứng dụng 
tái tạo ACL. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Xác tươi vùng đùi gối tại Bộ môn Giải phẫu 
học Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Mẫu xác tươi đã phẫu tích mặt trước vùng 
đùi – gối hoặc biến dạng do u bướu, gãy xương. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả. 
Cỡ mẫu 
30 tiêu bản vùng đùi - gối của 15 xác tươi. 
Biến số nghiên cứu 
Thông tin hành chính mẫu nghiên cứu, các 
đặc điểm giải phẫu QT như hình dạng, cấu 
trúc, kích thước chiều dài, chiều rộng, độ dày 
gân, xác định vị trí lấy mảnh ghép, kích thước 
đường kính và diện tích cắt ngang mảnh ghép 
thu được. 
Tiến hành nghiên cứu 
Phẫu tích trên 30 mẫu vùng đùi gối, bóc tách 
từng phần riêng biệt: da, mô dưới da, cân mạc, 
cắt ngang dải chậu chày, cơ may, bộc lộ QT. Xác 
định đỉnh cao nhất của gân, vị trí điểm bám trên 
xương bánh chè, đo chiều dài và chiều rộng tối 
đa của gân. Đo các đoạn chiều dài tương ứng 
song song và cách đường thẳng đi qua đỉnh cao 
nhất của gân 5mm, tương tự đo các đoạn chiều 
rộng, mốc đo cách nhau 10 mm (Hình 1). Dùng 
dao số 10 tiến hành rạch hai đường thẳng song 
song cách nhau 10mm, giới hạn ngoài là đường 
qua đỉnh cao nhất cao gân, chiều dài 70mm, 
chiều sâu đi hết độ dày gân. Dùng cưa rung cắt 
mảnh xương bánh chè dài 20 mm, rộng 10 mm, 
chiều sâu bằng độ dày của gân tại vị trí cắt. Kiểm 
tra độ vững chắc của xương bánh chè sau khi lấy 
mảnh ghép. Đo diện tích cắt ngang của mảnh 
ghép, sử dụng chỉ bện tròn mảnh ghép, đo 
đường kính lọt của mảnh ghép. 
Thu thập và xử lý số liệu 
Số liệu được mã hóa, quản lý bằng phần 
mềm Micosoft Excel 2013 và được xử lý bằng 
phần mềm Stata 15. 
Kết quả được trình bày dưới dạng biểu đồ. 
Các mối tương quan của các biến số được kiểm 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 82
chứng bằng hệ số tương quan Pearson. 
Hình 1: Hình minh họa vị trí đo chiều dài và chiều rộng 
QT ở mặt phẳng trán (Nguồn: Tư liệu nghiên cứu) 
Y đức 
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng 
đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh số: 310/HĐĐĐ ngày 
08/5/2020. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm mẫu 
Nghiên cứu được thực hiện trên 15 xác tươi 
được phẫu tích hoàn thành cả 2 gối, tuổi trung 
bình của xác trong nghiên cứu 73,5 (58 – 91). 
Chiều cao trung bình của xác trong nghiên cứu 
168,1 cm. 
Cấu tạo gân cơ tứ đầu 
Nghiên cứu ghi nhận trên cả 30 mẫu gân có 
hình dạng tháp hai đỉnh, với đỉnh cao nhất lệch 
ra ngoài, cấu trúc gồm gân thuộc cơ thẳng đùi, 
rộng ngoài, rộng trong và rộng giữa. Ở mặt 
phẳng đứng dọc, gân được chia làm ba lớp: lớp 
nông theo cơ thẳng đùi, lớp sâu theo cơ rộng 
giữa còn lớp giữa có 2 biến thể (Hình 2). Ở bốn 
mẫu thuộc hai xác tươi, lớp giữa được cấu tạo 
gồm hai thành phần là cơ rộng trong và cơ rộng 
ngoài cùng nhau bám vào nền xương bánh chè. 
Ở 26 mẫu còn lại có sự xuất hiện của thành phần 
thứ ba là một thớ cơ xuất phát từ cơ rộng giữa 
(Hình 3). Cơ rộng giữa từ nguyên đi thẳng xuống 
dưới ở mặt trước đùi, nhưng ở đây chia thành 
hai lớp, một lớp nông ngoài đi với cơ rộng ngoài, 
cùng hợp lại tạo thành lớp giữa của QT. Còn lại, 
lớp sâu trong đi xuống tạo thành lớp sâu của QT, 
hợp với hai lớp nông và giữa, bám vào bờ trên 
xương bánh chè. 
Hình 2: Cấu tạo gân cơ tứ đầu (Nguồn: Tư liệu 
nghiên cứu) 
H
ình 3: Sơ đồ cấu tạo từng lớp QT. Nguồn: Tư liệu 
nghiên cứu 
Kích thước QT và vị trí lấy mảnh ghép QT 
Chiều dài tối đa trung bình QT được xác 
định từ đỉnh cao nhất của gân tới bờ trên xương 
bánh chè là 79,4 ± 4,5 mm (71,9 - 87,2 mm). Chiều 
dài của QT giảm nhanh khi từ đỉnh cao nhất của 
gân tới cạnh ngoài của xương bánh chè. Ở 
khoảng cách 10 mm từ đỉnh cao nhất đi vào phía 
trong, chiều dài trung bình của gân là 69,7 ± 4,0 
mm. Dịch chuyển ra cạnh ngoài xương bánh chè 
5mm, chiều dài trung bình của gân chỉ còn 57,4 ± 
8,9 mm (Hình 4). 
Độ dày tối đa trung bình của gân cơ tứ đầu 
là 7,2 ± 0,4 mm, điểm này tương ứng với vị trí có 
chiều dài tối đa của gân. Độ dày của gân giảm 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 83
nhanh khi tính từ điểm gân dày nhất tới cạnh 
ngoài xương bánh chè (Hình 5). 
Hình 4: Kết quả đo chiều dài QT 
Hình 5: Kết quả đo độ dày QT 
Hình 6: Vị trí lấy mảnh ghép QT ứng dụng tái tạo 
ACL 
Vị trí trên xương bánh chè tương ứng với 
chiều dài tối đa của QT nằm lệch ra phía ngoài 
64,3% ± 5,4% tính từ điểm đó vào bờ trong 
xương bánh chè (Hình 6). 
Chiều rộng tối đa trung bình của QT được 
xác định từ vị trí hai điểm bám mặt trong và 
ngoài của QT lên xương bánh chè là 36,0 ± 4,3 
mm (28,4 - 43,9 mm). Ở vị trí gân đạt chiều dài 
70 mm, chiều rộng đo được là 9,7 mm (Hình 7). 
Hình 7: Kết quả đo chiều rộng QT 
Kích thước mảnh ghép QT 
Qua 30 mẫu của 15 xác, theo cách lấy gân bờ 
ngoài mảnh ghép đi qua đỉnh gân, chúng tôi lấy 
được 26 mảnh ghép bao gồm mảnh xương và 
bốn mảnh ghép không gồm mảnh xương, phần 
gân dài 70 mm, rộng 10 mm, mảnh xương bánh 
chè dài 20 mm, rộng 10 mm, độ dày lết hết gân. 
Đường kính mảnh ghép ghi nhận được là 8,5 ± 
0,5 mm, với diện tích cắt ngang 64,7 ± 4,1 mm². Ở 
những xác có thể trạng nhỏ, mảnh ghép thu 
được vẫn có đường kính thấp nhất là 8mm. Biến 
chứng ghi nhận 1 trường hợp gãy xương bánh 
chè sau khi lấy mảnh ghép. 
BÀN LUẬN 
Đặc điểm mẫu 
Chiều cao trung bình của xác trong nghiên 
cứu 168,1 cm, có tương quan chặt chẽ với độ dài 
QT (r=0,82). Đây là một lợi điểm của mảnh ghép 
QT so với các mảnh ghép phổ biến khác khi có 
thể dự đoán được kích thước gân trước khi phẫu 
thuật, thông qua đó giúp cho phẫu thuật viên có 
thể chọn lựa mảnh ghép chính xác và phù hợp 
với bệnh nhân. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 84
Cấu tạo gân cơ tứ đầu 
Ở mặt phẳng đứng dọc, gân được chia làm 
ba lớp nhưng có sự thay đổi ở lớp giữa so với y 
văn. Ở bốn mẫu thuộc hai xác tươi, gân được 
cấu tạo gồm hai thành phần là cơ rộng trong và 
cơ rộng ngoài cùng nhau bám vào nền xương 
bánh chè như miêu tả trong y văn. Trong 26 mẫu 
còn lại có sự xuất hiện của thành phần thứ ba là 
một thớ cơ xuất phát từ cơ rộng giữa. Cơ rộng 
giữa từ nguyên ủy đi thẳng xuống dưới ở mặt 
trước đùi, nhưng ở đây chia thành hai lớp, một 
lớp nông ngoài đi với cơ rộng ngoài, cùng hợp 
lại tạo thành lớp giữa của QT. Còn lại, lớp sâu 
trong đi xuống tạo thành lớp sâu của QT, hợp 
với hai lớp nông và giữa, bám vào bờ trên xương 
bánh chè. 
Việc xuất hiện thành phần thứ ba trong lớp 
giữa đã được các tác giả Grob K(3) và Collin CT(4) 
ghi nhận với tần suất xuất hiện lần lượt là 84,8% 
và 72,8%. Hai tác giả trên phẫu tích theo thớ cơ 
đó và ghi nhận nguyên ủy riêng biệt, từ đó xác 
định một cơ thứ năm cấu tạo nên QT. Chúng tôi 
ghi nhận 26/30 mẫu (86,7%) có xuất hiện thớ cơ 
này, tuy nhiên phẫu tích trên 26 mẫu thớ cơ đều 
được tách ra từ cơ rộng giữa ở đoạn giữa đùi. Do 
đó chúng tôi chưa ghi nhận sự tồn tại của thành 
phần thứ năm này mà chỉ coi đó là một nhánh 
của cơ rộng giữa. 
Kích thước QT và vị trí lấy mảnh ghép QT 
Chúng tôi chọn chỉ đo đạc chiều dài và chiều 
rộng của lớp nông QT vì đó là phẫu trường phẫu 
thuật viên quan sát được khi lấy mảnh ghép. So 
sánh với nghiên cứu của Harris NL(5) và 
Xenogeanes JW(6), kích thước gân cơ tứ đầu đùi 
trong nghiên cứu của chúng tôi có giá trị tương 
đồng về chỉ số độ dày và chiều rộng của gân. 
Riêng chỉ số chiều dài, nghiên cứu của chúng tôi 
cho kết quả lớn hơn so với các nghiên cứu khác 
(p <0,05). Có sự khác biệt này là do chúng tôi 
chọn vị trí đo chiều dài tối đa của gân sau khi 
xác định đỉnh cao nhất, trong khi đó các nghiên 
cứu khác chỉ sử dụng chung một phương pháp 
đo độ dài tính từ điểm chính giữa ở bờ trên 
xương bánh chè, do đó không tối ưu được chiều 
dài của gân. 
Chiều dài tối đa QT từ đỉnh cao nhất của gân 
tới bờ trên xương bánh chè là 79,4±4,5 mm (71,9-
87,2 mm). Chiều dài này giảm nhanh từ đỉnh cao 
nhất của gân tới cạnh ngoài của xương bánh chè. 
Nếu lấy mảnh ghép bề ngang 10 mm từ đường 
đi qua đỉnh cao nhất của gân về phía trong, 
chiều dài trung bình của gân sẽ là 69,7±4,0 mm, 
đảm bảo kích thước cho mảnh ghép tái tạo ACL 
kèm hoặc không kèm mẩu xương. Trong khi đó 
nếu dịch chuyển vị trí lấy gân ra phía ngoài 5 
mm, chiều dài trung bình của gân giảm mạnh 
chỉ còn 57,4 ± 8,9 mm, không đảm bảo được kích 
thước mảnh ghép. Độ dày tối đa của gân cơ tứ 
đầu là 7,2 ± 0.4 mm, tương ứng với vị trí có chiều 
dài tối đa của gân. Kết quả cũng cho thấy độ dày 
của gân giảm nhanh hơn khi tính từ điểm gân 
dày nhất tới cạnh ngoài xương bánh chè. Vị trí 
trên xương bánh chè tương ứng với chiều dài tối 
đa của QT nằm lệch ra phía ngoài 64,3% ± 5,42% 
tính từ điểm đó vào bờ trong xương bánh chè. 
Chiều rộng tối đa trung bình của QT được xác 
định từ vị trí hai điểm bám mặt trong và ngoài 
của QT lên xương bánh chè là 36,0 ± 4,3 mm 
(28,4 - 43,9 mm). Ở vị trí gân đạt chiều dài 70 
mm, chiều rộng đo được là 9,7 mm, vừa đủ để 
lấy mảnh ghép rộng 10 mm, chiều dài 70 mm. Ở 
những mẫu thể trạng nhỏ, nếu độ dày gân nhỏ 
hơn 6mm, việc lấy mảnh ghép rộng 10 mm sẽ 
không đảm bảo được đường kính mảnh ghép 
thu được, dẫn đến phải tăng chiều rộng mảnh 
ghép lên 11 – 12 mm(2). Khi đó bắt buộc phải thu 
ngắn chiều dài phần gân của mảnh ghép xuống 
60 mm, để tránh không bị cắt vào cơ khi lấy gân 
(Hình 5). Như vậy, để lấy được mảnh ghép QT 
phù hợp cho tái tạo ACL, cần xác định được 
đỉnh cao nhất của gân trong phẫu thuật, cách 
cạnh trong gân 64,3% ± 5,4% so với chiều rộng 
của gân, và lấy mảnh ghép rộng 10mm tính từ 
đỉnh đó vào bờ trong gân, dài 70mm, độ dày lấy 
hết gân để tối ưu được kích thước mảnh ghép 
(Hình 6). 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 85
Kích thước mảnh ghép QT 
Đường kính mảnh ghép được ghi nhận là 
8,5±0,5 mm, với diện tích cắt ngang 64,7±4,1 
mm². Ở những xác có thể trạng nhỏ, mảnh ghép 
thu được vẫn có đường kính nhỏ nhất là 8 mm. 
Nhiều tác giả nghiên cứu thấy rằng kích thước 
của mảnh ghép là một trong các yếu tố góp phần 
vào sự thành công của phẫu thuật, khi đường 
kính nhỏ hơn 8 mm thì làm tăng nguy cơ đứt lại 
ACL sau tái tạo và đường kính cứ nhỏ đi 1 mm 
thì tỉ lệ thất bại tăng lên 45,7%. Tuy nhiên đường 
kính của mảnh ghép không được vượt quá kích 
thước của diện bám(7,8). Xét theo giải phẫu người 
Việt Nam, đường kính mảnh ghép tái tạo ACL 
không được vượt quá 11 mm, và kích thước diện 
bám trên lồi cầu đùi và mâm chày lần lượt là 
14,2 x 11,2 mm và 13,6 x 10,7 mm(9). Như vậy 
mảnh ghép QT trong nghiên cứu hoàn toàn đáp 
ứng được yêu cầu kích thước cho phẫu thuật tái 
tạo ACL. 
Biến chứng ghi nhận 1 trường hợp gãy 
xương bánh chè sau khi lấy mảnh ghép. Giải 
thích cho biến chứng trên là do sử dụng cưa 
rung với lưỡi cưa 20 mm gây khó khăn trong 
việc cưa bờ trước xương bánh chè khi kích thước 
mảnh xương cần lấy là 20 x 10 mm, dễ cưa phạm 
ra xung quanh. Sau khi chuyển sang chỉ sử dụng 
lưỡi cưa rung 10 mm thì biến chứng trên không 
gặp lại. Theo khuyến cáo của Fu FH, không nên 
lấy mảnh xương có độ dày >50% và chiều dài 
>50% xương bánh chè để giảm nguy cơ gãy 
xương sau phẫu thuật(10). 
KẾT LUẬN 
QT có hình dạng tháp hai đỉnh, đỉnh cao 
nhất của gân nằm lệch ra phía ngoài, nằm ở vị trí 
cách cạnh trong 64,3 ± 5,4% so với chiều rộng tối 
đa của gân. Chiều dài tối đa trung bình là 79,4 ± 
4,5 mm, có tương quan chặt chẽ với chiều cao 
của xác. Chiều rộng tối đa trung bình là 36,0 ± 4,3 
mm, độ dày tối đa trung bình là 7,2 ± 0,4 mm. 
Để lấy được mảnh ghép gân cần xác định 
được đường thẳng đi qua đỉnh cao nhất của gân 
song song với trục chi, lấy đó làm giới hạn ngoài 
của mảnh ghép. Mảnh ghép QT gồm 2 phần 
mảnh xương (20 x 10 mm) và gân (70 x 10 mm), 
chiều sâu lấy hết độ dày của gân. Mảnh ghép 
thu được có đường kính 8,5 ± 0,5 mm với diện 
tích cắt ngang 64,7 ± 4,1 mm² đảm bảo được yêu 
cầu về kích thước cho mảnh ghép tái tạo ACL. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Macaulay AA, Perfetti DC, Levine WN (2012). Anterior cruciate 
ligament graft choices. Sports Health, 4(1):63-68. 
2. Slone SH, Romine SE, Premkumar A, Xerogeanes J W (2015). 
Quadriceps tendon autograft for anterior cruciate ligament 
reconstruction: a comprehensive review of current literature 
and systematic review of clinical results. Arthroscopy, 31(3):541-
554. 
3. Grob K, Manestar M, Filgueira L, Ackland T, Gilbey H, Kuster 
MS (2016). New insight in the architecture of the quadriceps 
tendon. J Exp Orthop, 3(1):32. 
4. Collins CT, Figge L, Reeves R, Lovely R (2017). Anatomical 
Investigation of the Tensor Vastus Intermedius in the 
Quadriceps Muscle Group. Faseb Journal, 31(S1):896.820-896.820. 
5. Harris NL, Smith DA, Lamoreaux L, Purnell M (1997). Central 
quadriceps tendon for anterior cruciate ligament reconstruction. 
Part I: Morphometric and biomechanical evaluation. Am J Sports 
Med, 25(1):23-28. 
6. Xerogeanes JW, Mitchell PM, Karasev PA, Kolesov IA, Romine 
SE (2013). Anatomic and morphological evaluation of the 
quadriceps tendon using 3-dimensional magnetic resonance 
imaging reconstruction: applications for anterior cruciate 
ligament autograft choice and procurement. Am J Sports Med, 
41(10):2392-2399. 
7. Clatworthy M (2016). Graft Diameter matters in Hamstring 
ACL reconstruction. Orthop J Sports Med, doi: 
10.1177/2325967116S00082. 
8. Nguyen D (2016). Sex, Age, and Graft Size as Predictors of ACL 
Re-tear: A Multivariate Logistic Regression of a Cohort of 503 
Athletes. Orthop J Sports Med, doi: 10.1177/2325967116S00164. 
9. Trần Quốc Lâm (2018). Nghiên cứu giải phẫu và đối chiếu trong 
phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng 
kĩ thuật một bó tất cả bên trong. Luận án Tiến sĩ Y học, Trường 
Đại học Y Hà Nội. 
10. Fu Freddie H, Rabuck Stephen J, West Robin V, Tashman S, et al 
(2019). Patellar Fractures After the Harvest of a Quadriceps 
Tendon Autograft With a Bone Block: A Case Series. Orthop J 
Sports Med, doi: 10.1177/2325967119829051. 
Ngày nhận bài báo: 30/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 13/01/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfgiai_phau_gan_co_tu_dau_dui_ung_dung_lam_manh_ghep_tai_tao_d.pdf