Giá trị tiên lượng thai khi siêu âm Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất hiện dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 484 bệnh nhân tiền sản

giật tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và Bệnh viện

Phụ Sản Hải phòng trong thời gian từ 09/2013 đến 12/2016.

Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng thai suy và thai chậm phát triển

trong tử cung khi doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất

hiện dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật.

Kết quả: Khi Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương tỷ lệ

thai suy và thai CPTTTC chiếm tỉ lệ 96,3%. Khi Doppler động mạch rốn

xuất hiện dòng chảy ngược chiều tỉ lệ thai suy và thai chậm phát triển

trong tử cung là 100%.

Kết luận: Khi thăm dò Doppler ĐMR mất phức hợp tâm trương đặc

biệt là xuất hiện dòng chảy ngược chiều là một dấu hiệu tiên lượng xấu

đối với thai nhi.

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị tiên lượng thai khi siêu âm Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất hiện dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị tiên lượng thai khi siêu âm Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất hiện dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật

Giá trị tiên lượng thai khi siêu âm Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất hiện dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 47 - 51, 2018
47
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Phạm Thị Mai Anh(1), Trần Danh Cường(2), Phan Trường Duyệt(2), Trần Thị Tú Anh(3) 
(1) Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG THAI KHI SIÊU ÂM DOPPLER 
ĐỘNG MẠCH RỐN MẤT PHỨC HỢP TÂM TRƯƠNG, 
XUẤT HIỆN DÒNG CHẢY NGƯỢC CHIỀU
Ở BỆNH NHÂN TIỀN SẢN GIẬT
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Thị Mai Anh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: tiền sản giật, Doppler 
động mạch rốn mất phức hợp 
tâm trương, Doppler động 
mạch rốn xuất hiện dòng chảy 
ngược chiều.
Keywords: pre-eclempsia, 
Doppler umbilical artery, 
absence of end – diastolic flow 
velocity, reverse flow.
Tóm tắt
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 484 bệnh nhân tiền sản 
giật tại khoa sản bệnh lý Bệnh viện Phụ Sản Trung ương và Bệnh viện 
Phụ Sản Hải phòng trong thời gian từ 09/2013 đến 12/2016. 
Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng thai suy và thai chậm phát triển 
trong tử cung khi doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất 
hiện dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật. 
Kết quả: Khi Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương tỷ lệ 
thai suy và thai CPTTTC chiếm tỉ lệ 96,3%. Khi Doppler động mạch rốn 
xuất hiện dòng chảy ngược chiều tỉ lệ thai suy và thai chậm phát triển 
trong tử cung là 100%. 
Kết luận: Khi thăm dò Doppler ĐMR mất phức hợp tâm trương đặc 
biệt là xuất hiện dòng chảy ngược chiều là một dấu hiệu tiên lượng xấu 
đối với thai nhi.
Từ khóa: tiền sản giật, Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm 
trương, Doppler động mạch rốn xuất hiện dòng chảy ngược chiều.
Abstract 
 THE VALUE OF ABSENCE OR REVERSED OF END 
DIASTOLIC FLOW VELOCITY IN UMBILICAL ARTERY 
IN PREDICTING FETAL DISTRESS ANG INTRAUTERINE 
GWOW RESTRICTION IN PREECLAMPSIA 
The cross-sectional descriptive study of 484 patients with 
preeclampsia in pathological obstetrics and gynocology from 09/2013 
to 12/2016. 
Objective: the study value of absence or reversed of end diastolic flow 
velocity in umbilical artery in prediction of fetal distress and intrauterine 
grow restriction in patients with preeclampsia. 
Results: The incidence of fetal distress and intrauterine grow 
restriction in case of absence of end diastolic flow in umbilical artery is 
96,3%, in case of reversed of end diastolic flow is 100%. 
PHẠM THỊ MAI ANH, TRẦN DANH CƯỜNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, TRẦN THỊ TÚ ANH
48
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
1. Đặt vấn đề
Tiền sản giật là bệnh lí thường gặp trong khi 
mang thai, với các triệu chứng điển hình đó là tăng 
huyết áp mới xuất hiện sau tuần thứ 20 của thai 
kì, protein niệu và phù thì việc chẩn đoán bệnh là 
không khó. Tuy nhiên việc kiểm soát bệnh và điều trị 
bệnh không dễ dàng đặc biệt là khi bệnh xuất hiện 
càng sớm thì càng nặng và càng nhiều biến chứng 
khó lường. Về cơ chế bệnh sinh của tiền sản giật 
vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhưng chỉ có 
một điều chắc chắn là bệnh sẽ thuyên giảm ngay 
nếu thai và phần phụ của thai được lấy ra khỏi cơ 
thể. Chính vì lẽ đó mà tiền sản giật được Tổ chức Y 
tế Thế giới coi như một vấn đề toàn cầu quan trọng. 
Mục tiêu của tổ chức y tế lớn nhất hành tinh này là 
phát triển những phương pháp phát hiện sớm và 
điều trị thích hợp ở tuyến chăm sóc sức khỏe ban 
đầu và đánh giá những hiệu quả của các phương 
pháp phòng chống các biến chứng do tiền sản giật 
gây ra, một trong các phương pháp giúp chẩn đoán 
và tiên lượng sớm các biến chứng có thể xảy ra với 
thai nhi là siêu âm Doppler thăm dò tuần hoàn động 
mạch rốn. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu “Giá trị tiên lượng thai khi siêu âm Doppler 
động mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất hiện 
dòng chảy ngược chiều ở bệnh nhân Tiền sản giật” 
với mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng thai suy và 
thai chậm phát triển trong tử cung khi doppler động 
mạch rốn mất phức hợp tâm trương, xuất hiện dòng 
chảy ngược chiều ở bệnh nhân tiền sản giật.
2. Đối tượng nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Thai phụ được chẩn đoán và điều trị tiền sản 
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Conclusion: Absence of end diastolic flow velocity or reverse flow in umbilical artery is a bad 
predictor of pennatal outcomes.
Key words: pre-eclempsia, Doppler umbilical artery, absence of end – diastolic flow velocity, 
reverse flow.
giật tại Khoa Sản bệnh lý Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương và Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 09/2013 
đến 12/2016.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Tuổi thai từ 28 tuần trở lên, một thai, thai sống.
Thai phụ có các triệu chứng: phù, huyết áp 
tâm thu ≥ 140 mmHg, huyết áp tâm trương ≥ 90 
mmHg, protein niệu ≥ 0,3 g/l ở mẫu nước tiểu 24 
giờ hoặc ≥ 0,5g/l ở mẫu nước tiểu ngẫu nhiên.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Đa thai, thai dị dạng, mẹ có tiền sử mắc các 
bệnh kèm theo: suy tim, suy thận, đái tháo đường
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
484 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị 
tiền sản giật tại Khoa Sản bệnh Bệnh viện Phụ Sản 
Trung ương và Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 
04/2014 đến 07/2015.
2.2.3. Các biến số nghiên cứu và phương pháp 
thu thập số liệu
Trước đẻ các thông tin cần thu thập: tên, tuổi, 
nghề nghiệp, số lần mang thai, đo huyết áp, khám 
mức độ phù.
Xét nghiệm sinh hóa máu để đánh giá chức 
năng gan, thận. Công thức máu để đánh giá số 
lượng hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu, các yếu tố 
đông máu. Xét nghiệm nước tiểu định lượng protein 
niệu để phân loại tiền sản giật.
Siêu âm Doppler động mạch rốn thai nhi để 
xác định hình thái phổ Doppler động mạch rốn 
trong vòng 24 giờ trước khi ngừng thai nghén.
Sau đẻ các biến số nghiên cứu là: tuổi thai, cân 
nặng sơ sinh, chỉ số apgar trẻ sơ sinh, màu sắc 
nước ối.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 47 - 51, 2018
49
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Nhận xét: 27 trường hợp Doppler ĐMR mất 
phức hợp tâm trương trong đó có 26 trường 
hợp vừa thai suy vừa CPTTTC chiếm tỉ lệ 96,3%, 
1 trường hợp không thai suy và không có thai 
CPTTTC chiếm tỉ lệ 3,7%. Ở nhóm Doppler động 
mạch rốn không mất phức hợp tâm trương tỷ lệ 
thai suy 45,3 %, tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử 
cung là 54,7 %. Sự khác biệt tỷ lệ có nghĩa thống 
kê với P < 0,0001.
Nhận xét: Có 8 trường hợp Doppler ĐMR có 
dòng chảy ngược chiều 100 % thai suy và thai 
CPTTTC, trong khi đó ở nhóm Doppler động mạch 
rốn không xuất hiện dòng chảy ngược chiều tỷ lệ 
thai suy là 47,3 % và tỷ lệ thai chậm phát triển 
trong tử cung là 56,3 %. Sự khác biệt tỷ lệ là có 
nghĩa thống kê với P < 0,05.
4. Bàn luận
Từ kết quả bảng 1 cho thấy tỉ lệ TSG con so 
(54,3%) cao hơn con rạ (45,7%). tỉ lệ TSG nặng 
ở người con so (58,1%) cũng cao hơn con rạ 
(49,1%), điều này có thể được giải thích theo giả 
thuyết về đáp ứng miễn dịch trong cơ chế bệnh 
sinh của TSG là do phản ứng miễn dịch hay gặp 
và thường nặng hơn ở lần đầu tiếp xúc với kháng 
nguyên nguồn gốc thai nhi có thể từ các tế bào 
lá nuôi 
Theo kết quả nghiên cứu bảng 2 và bảng 3. 
Khi doppler ĐMR mất phức hợp tâm trương (có 
27 bệnh nhân), 26 bệnh nhân (97,3%) khi đẻ 
trẻ vừa thai suy vừa CPTTTC, chỉ có 1 bệnh nhân 
khi đẻ trẻ không thai suy và không có biểu hiện 
2.2.4. Các tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên 
cứu này
Chẩn đoán và phân loại tiền sản giật và tiền 
sản nặng (theo WHO năm 2011) [1].
Đánh giá tình trạng thai suy: Trong nghiên cứu 
này tôi đánh giá có dấu hiệu suy thai trong tử cung 
bằng kiểm chứng sau đẻ có 1 trong 2 dấu hiệu sau[2].
+ Trẻ sơ sinh có chỉ số apgar ở phút thứ nhất < 
7 điểm.
+ Nước ối lẫn phân xu.
Đánh giá tình trạng thai chậm phát triển trong 
tử cung: thai CPTTTC là khi trẻ sinh ra có cân nặng 
nằm dưới đường bách phân vị thứ 10 của biểu đồ 
phát triển cân nặng thai nhi theo tuổi thai của Phan 
Trường Duyệt (2005).
Đánh giá Doppler động mạch rốn: trong nghiên 
cứu này chỉ nghiên cứu hình thái phổ Doppler động 
mạch rốn[3]
+ Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm 
trương là trên hình thái phổ của Doppler động 
mạch rốn phức hợp tâm trương nằm trùng với 
đường đẳng điện.
+ Doppler động mạch rốn xuất hiện dòng chảy 
ngược chiều là trên hình thái phổ của Doppler động 
mạch rốn đỉnh tâm trương nằm dưới đường đẳng điện.
2.2.5. Xử lý số liệu 
Bằng phần mềm SPSS 16.0, đánh giá giá trị của 
Doppler động mạch rốn trong tiên lượng thai suy và 
thai chậm phát triển trong tử cung bằng tính tỉ lệ phần 
trăm và kiểm định chi bình phương để so sánh các tỉ lệ.
2.3. Đạo đức nghiên cứu
Cho đến nay các nghiên cứu đều thừa nhận rằng 
siêu âm Doppler không có hại cho sức khỏe của mẹ 
cũng như thai nhi. Trong quá trình thu thập số liệu 
không làm mất thời gian cũng như chi phí của thai phụ.
3. Kết quả nghiên cứu
Nhận xét: Tỉ lệ TSG nặng 62,6%, trong nhóm 
TSG nặng tỉ lệ con so 58,1%, con rạ 49,1%. Trong 
nhóm TSG tỉ lệ con rạ 51,9%, con so 48,1%.
Tình trạng bệnh lí mẹ
Số lần mang thai
Tiền sản giật nặng Tiền sản giật Tổng
n % n % n %
Con so 176 58,1 87 48,1 263 54,3
Con rạ 127 41,9 94 51,9 221 45,7
Tổng 303 62,6 181 37,4 484 100,0
Bảng 1. Tình trạng bệnh lí TSG
Tình trạng thai
Doppler động mạch rốn
Thai suy Thai không suy
Thai chậm 
phát triển 
trong tử cung
Thai không 
chậm phát triển 
trong tử cung P
N % N % N % N %
Mất phức hợp tâm trương 26 96,3 1 3,7 26 96,3 1 3,7
< 
0,0001
Không mất phức hợp tâm trương 207 45,3 250 54,7 250 54,7 207 45,3
Tổng 233 48,1 251 51,9 276 57,0 208 43,0
Bảng 2. Giá trị tiên lượng thai khi Doppler động mạch rốn mất phức hợp tâm trương
Tình trạng thai
Doppler động mạch rốn
Thai suy Thai không suy
Thai chậm 
phát triển 
trong tử cung
Thai không 
chậm phát triển 
trong tử cung P
N % N % N % N %
Có dòng chảy ngược chiều 8 100 0 0 8 100 0 0
< 0,05Không có dòng chảy ngược chiều 225 47,3 251 52,7 268 56,3 208 43,7
Tổng 233 48,1 251 51,9 276 57,0 208 43,0
Bảng 3. Giá trị tiên lượng thai khi Doppler động mạch rốn xuất hiện dòng chảy ngược chiều
PHẠM THỊ MAI ANH, TRẦN DANH CƯỜNG, PHAN TRƯỜNG DUYỆT, TRẦN THỊ TÚ ANH
50
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
CPTTTC. Khi Doppler ĐMR có dòng chảy ngược 
chiều, trong nghiên cứu này có 8 trường hợp, tất 
cả trẻ đẻ ra đều có CPTTTC và thai suy (100%).
Kết quả này tương tự như của một số tác giả 
[4],[5],[6]. các nghiên cứu này cũng cho thấy 
mất dòng chảy tâm trương và xuất hiện dòng 
chảy ngược chiều có tỷ lệ thai suy khoảng 83,3% 
rối loạn thăng bằng kiềm toan của trẻ sơ sinh 
khoảng 88,0%, tỷ lệ ngạt sơ sinh 53%, 98% suy 
dinh dưỡng và 25% thai chết trong tử cung.
Theo nghiên cứu của Nicolaides và cộng sự, 
tác giả đo khí máu cuống rốn ở 59 trường hợp 
thai CPTTTC có siêu âm Doppler ĐMR trước đẻ 
là mất phức hợp tâm trương (CSTK ĐMR =1), 
kết quả cho thấy 88% có kết quả khí máu bất 
thường, 42% giảm độ bão hòa oxy trong máu, 
37% trẻ sơ sinh sau đẻ ngạt, 9% trẻ có biểu hiện 
nhiễm toan chuyển hóa [7].
Theo nghiên cứu của Karsdrop (1994), nghiên 
cứu 245 trường hợp mất phức hợp tâm trương 
hoặc có dòng chảy ngược chiều, tỉ lệ tử vong 
chu sinh là 28% và 96% đến 98% trẻ sơ sinh cần 
chăm sóc đặc biệt [8].
Trong một nghiên cứu khác của Maulik D và 
cộng sự (2005), nghiên cứu 1126 trường hợp 
mất phức hợp tâm trương hoặc có dòng chảy 
ngược chiều tỉ lệ thai chết trong tử cung là 17%, 
chết chu sinh là 28%, phần lớn chết do biến 
chứng như ngạt, CPTTTC, đẻ non và bất thường 
thai nhi [9].
Năm 2015 Khushali Granhi và cộng sự 
nghiên cứu 100 trường hợp thai CPTTTC, có 8 
trường hợp Doppler có mất phức hợp tâm trương 
hoặc có dòng chảy ngược chiều tỉ lệ thai chết 
lưu và tử vong chu sinh là 50%, tỉ lệ này cũng 
tương tự như nghiên cứu của Battaglia (1993) 
[10],[11].
Theo Đào Thị Hoa (2016), nghiên cứu 32 trường 
hợp Doppler ĐMR mất phức hợp tâm trương hoặc 
có dòng chảy ngược chiều tỉ lệ thai suy 62,5% biểu 
hiện bằng PH ĐMR ≤7,15 sau đẻ [12]. 
Như vậy từ kết quả của nghiên cứu này cũng 
như tham khảo kết quả của các nghiên cứu khác 
trong và ngoài nước có thể khẳng định rằng 
Doppler ĐMR là một thăm dò rất có giá trị trong 
tiên lượng tình trạng thai suy. Hình thái điển 
hình nhất của Doppler ĐMR bệnh lí là mất phức 
hợp tâm trương hoặc có dòng chảy ngược chiều 
(CSTK ĐMR =1) là một dấu hiệu tiên lượng rất 
xấu đối với thai nhi. Điều này được giải thích 
dòng chảy ngược chiều chỉ gặp trong những 
trường hợp thai suy nặng, có những rối loạn tuần 
hoàn nghiêm trọng đó là ngừng một phần dòng 
tâm trương dọc theo thành mạch, có ảnh hưởng 
trầm trọng đến huyết động của tim thai và dẫn 
đến rối loạn hoạt động của tim thai. Tăng dòng 
chảy qua van ba lá và qua động mạch phổi, 
giảm dòng chảy qua van hai lá, làm tổn thương 
chức năng của tâm thất trái và dẫn đến suy tim 
thai. Ở những trưởng hợp này tỉ lệ thai suy và mổ 
lấy thai rất cao khoảng 75%, tỷ lệ tử vong chu 
sinh khoảng 32,3 - 41% [4]. Nhiều tác giả cũng 
khẳng định rằng khi Doppler ĐMR mất phức hợp 
tâm trương hoặc có dòng chảy ngược chiều là 
một dấu hiệu tiên lượng xấu nhất cho thai và 
khi xuất hiện thường là dấu hiệu muộn [13]. Tuy 
nhiên có nhiều nghiên cứu muốn xác định thời 
gian từ khi xuất hiện hình thái bệnh lí điển hình 
của Doppler ĐMR đến khi có các dấu hiệu chắc 
chắn thai suy nhưng đều không thành công vì 
thời gian này rất dao động từ vài giờ cho đến vài 
tuần và tối đa là 9 tuần.
5. Kết luận
Khi thăm dò Doppler ĐMR mất phức hợp tâm 
trương đặc biệt là xuất hiện dòng chảy ngược 
chiều là một dấu hiệu tiên lượng không tốt cho 
thai nhi. Với tỉ lệ thai suy và thai chậm phát triển 
trong tử cung có thể lên tới 100% trong trường 
hợp xuất hiện dòng chảy ngược chiều và tỉ lệ này 
là 96,3 % khi mất phức hợp tâm trương.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 47 - 51, 2018
51
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Tài liệu tham khảo
1. WHO. WHO recommendations for Prevention and treatment of pre-
eclampsia and eclampsia; 2011. pp. 4-30.
2. Kerber RE, Kern KB, Safar P. Utstein-style guidelines for uniform 
reporting of laboratory CPR research: a statement for healthcare 
professionals from a task force of the American Heart Association, the 
American College of Emergency Physicians, the American College of 
Cardiology, the European Resuscitation Council, the Heart and Stroke 
Foundation of Canada, the Institute of Critical Care Medicine, the Safar 
Center for Resuscitation Research, and the Society for Academic 
Emergency Medicine. Circulation; 1996. 94, pp. 2324–2336.
3. Michel Collet, Dominique Luton, Thierry Pottecher et al. Pise en 
charge multidisciplinaire de la prééclampsia. Elesevier Masson, france; 
2009. pp. 10-89.
4. Uzan M, Cynober E. Guide pratique de Doppler en Obstétrique. 
Masson. 1991.
5. ArbeillePh, Patat F et al. Exploration Doppler des cirrculations 
ombilicale et cérébrale du foetus. J Gynécol Obstét Biol Reprod; 1987. 
16, tr. 45 – 51.
6. Rudigoz RC, Thome Saint Paul M. Vélocimétrie Doppler ombilicale et 
cérébrale. J Gynécol Obstét Biol Reprod; 1991. 20, tr. 434-42.
7. Nicolaides KH, Bilardo CM, Soothill PW và các cộng sự. Absence of 
end diastolic frequencies in umbilical artery: a sign of fetal hypoxia and 
acidosis. BMJ; 1988. 297, pp. 1026-7.
8. Karsdrop VH, Van Vug J.M, Van Geijn HP et al. Clinical significance 
of absent or reversed end diastolic velocity waveforms in umbilical artery. 
Lancet; 1994. 344(8938). pp. 1664-8.
9. Maulik D, Figueroa R. Absent end diastolic velocity in the umbilical 
artery and its clinical significance. Doppler ultrasound in obstetrics and 
gynecology, In: Maulik D, editor. , Gemany: Springer; 2005. pp. 375-86.
10. Khushali Gandhi, Dr. Ami Visha Mehta et al. Role of Doppler 
Velocimetry in grow restricted fetuses. NHL Journal of Medical Siences; 
2015. 4(1), pp. 27-30.
11. Battaglia C, Artini PG, Galli et al. AEDF/REDF in umbilical artery and 
sever IUGR: an ominous association ActaObstet. Obstet Gynecol, Scand; 
1993. 72, pp. 167-71.
12. Đào Thị Hoa, Nguyễn Viết Tiến và Trần Danh Cường. Nghiên cứu 
giá trị tiên lượng tình trạng thai của thăm dò Doppler động mạch rốn và 
Doppler ống tĩnh mạch Arantius trên thai chậm phát triển trong tử cung. 
Tạp chí Phụ Sản; 2016. 14(1), tr. 8-14.
13. Dev Maulik, David Mundy, Erica Heitmann et al. Umbilical artery 
doppler in the assessment of fetal growth restriction. Clin Perinatol 38; 
2011. pp. 65-82.

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_tien_luong_thai_khi_sieu_am_doppler_dong_mach_ron_ma.pdf