Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm

Mục tiêu nghiên cứu: (1) Xác định nồng độ βhCG huyết thanh ngày

thứ 14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ trong buồng tử

cung; (2) Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ

tinh ống nghiệm.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên

189 bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm – chuyển phôi tại

Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng từ 03/2016 – 8/2017 có nồng độ

βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 25 mIU/mL và siêu âm thấy có túi

thai trong buồng tử cung sau thử βhCG 3 tuần.

Kết quả nghiên cứu: Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày

thứ 14 của nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL; song thai là

779,25 ± 414,99 mIU/mL và tam thai là 1261 ± 654,03 mIU/mL, p

0,005. Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày thứ 14 của

nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL và đa thai là 895,39 ± 521,85

mIU/mL, p< 0,001.="" nồng="" độ="" βhcg="" ngày="" thứ="" 14="" sau="" chuyển="" phôi="" có="">

tương quan thuận chặt với số phôi làm tổ trong buồng tử cung (r=0,576).

Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 617 mIU/mL

với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Tỉ lệ chửa đa thai tăng

lên theo số lượng phôi tốt được chuyển vào buồng tử cung.

Kết luận: Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là

617 mIU/mL với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Và để hạn

chế chửa đa thai cần phải hạn chế số lượng phôi tốt chuyển vào buồng

tử cung.

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm

Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm
TRẦN ĐÌNH VINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, PHẠM THỊ MINH HƯƠNG
108
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Trần Đình Vinh, Nguyễn Thị Phương Lê, Phạm Thị Minh Hương 
Bệnh viện Phụ Sản – Nhi Đà Nẵng
GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA βHCG
SAU 14 NGÀY CHUYỂN PHÔI TRONG CHỬA ĐA THAI
Ở BỆNH NHÂN THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Phạm Chí Kông, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: (1) Xác định nồng độ βhCG huyết thanh ngày 
thứ 14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ trong buồng tử 
cung; (2) Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ 
tinh ống nghiệm.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 
189 bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm – chuyển phôi tại 
Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng từ 03/2016 – 8/2017 có nồng độ 
βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 25 mIU/mL và siêu âm thấy có túi 
thai trong buồng tử cung sau thử βhCG 3 tuần.
Kết quả nghiên cứu: Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày 
thứ 14 của nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL; song thai là 
779,25 ± 414,99 mIU/mL và tam thai là 1261 ± 654,03 mIU/mL, p < 
0,005. Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày thứ 14 của 
nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL và đa thai là 895,39 ± 521,85 
mIU/mL, p< 0,001. Nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi có mối 
tương quan thuận chặt với số phôi làm tổ trong buồng tử cung (r=0,576). 
Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 617 mIU/mL 
với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Tỉ lệ chửa đa thai tăng 
lên theo số lượng phôi tốt được chuyển vào buồng tử cung.
Kết luận: Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 
617 mIU/mL với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Và để hạn 
chế chửa đa thai cần phải hạn chế số lượng phôi tốt chuyển vào buồng 
tử cung.
Abstract 
PREDICTIVE VALUE OF β HCG 14 DAYS AFTER 
EMBRYO TRANSFER WITH MULTIPLE PREGNANCY IN 
IN-VITRO FERTILIZATION 
Objective: (1) To determine the serum human chorionic gonadotropin 
concentration 14 days after embryo transfer (ET) in predicting the 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
109
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Sự ra đời và ngày càng phát triển các phương 
pháp hỗ trợ sinh sản nói chung và thụ tinh trong ống 
nghiệm (TTTON) nói riêng đã làm cho tỉ lệ có thai 
tăng lên rõ rệt nhưng cũng làm tăng rõ rệt tỉ lệ đa thai.
Đa thai là tình trạng thai nghén có nguy cơ cao. 
Các thai kỳ chửa đa thai thường liên quan đến việc 
tăng bệnh suất, tử suất chu sinh, các biến chứng 
thai kỳ và những thay đổi tâm lý ở mẹ (mệt mỏi, 
stress...). Ngoài việc chủ động điều chỉnh số phôi 
chuyển phù hợp, trong các trường hợp không thể 
tránh được, giảm thai được xem là một phương 
thức có hiệu quả, có thể chấp nhận được.
Định lượng nồng độ βhCG (β human Chorionic 
Gonadotropin) trong máu ngày thứ 14 sau chuyển 
phôi để xác định bệnh nhân có thai hay không. 
Trong những thai kỳ bình thường trong 3 tháng đầu, 
trung bình lượng βhCG tăng gấp đôi sau 48h. Phụ 
nữ chửa đa thai, nồng độ βhCG thường tăng cao 
hơn phụ nữ chửa đơn thai [1]. Do đó, xác định nồng 
độ βhCG sau chuyển phôi 14 ngày có thể tiên lượng 
được khả năng số phôi làm tổ trong buồng tử cung, 
qua đó có thể chẩn đoán sớm chửa đa thai và tư 
vấn dặn dò bệnh nhân kỹ hơn, đặc biệt là những 
bệnh nhân ở xa, không đến bệnh viện quá muộn 
để thực hiện việc giảm thai. Ngoài ra, việc tìm hiểu 
một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ 
tinh trong ống nghiệm giúp bác sĩ điều trị có thể chủ 
động trong việc giảm nguy cơ đa thai. Xuất phát từ 
các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề 
tài: “Giá trị tiên lượng của β hCG huyết thanh sau 
14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh 
nhân thụ tinh ống nghiệm” với hai mục tiêu sau: 
(1) Xác định nồng độ βhCG huyết thanh ngày thứ 
14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ 
trong buồng tử cung; (2) Nhận xét một số yếu tố liên 
quan đến chửa đa thai trong thụ tinh ống nghiệm.
2. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành hồi cứu những trường 
hợp bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống 
nghiệm – chuyển phôi tại Khoa Hiếm muộn – 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 108 - 113, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
number of embryos implanting intrauterine; (2) Factors related to multiple pregnancy in patients 
underwent IVF treatment.
Material and methodology: This is a retrospective study in 189 IVF - ET cycles in Danang Hospital 
for Women and Children from 3/ 2016 to 8/2017, with βhCG blood test 14 days after ET ≥ 25 mIU/
mL and had gestational sac in uterus by transvaginal ultrasound after βhCG test 3 weeks. Exclusion 
criteria: hCG injection after embryo transfer and ectopic pregnancy.
Results: Mean of βhCG level at 14 days after ET in single embryonic sac is 429,19 ± 297,53 mIU/
mL, 779,25 ± 414,99 mIU/mL in 2 embryonic sacs, 1261 ± 654,03 mUI/mL in 3 embryonic sacs (p< 
0,005). Mean of βhCG level at 14 days after ET in single embryonic sac is 429,19 ± 297,53 mIU/mL, 
895,39 ± 521,85 mIU/mL in multiple embryonic sacs, p < 0,001. The relationship between the βhCG 
14 days after embryo transfer and the number of embryos implanting intrauterine has a strong positive 
correlation (r=0,576). By analysing the ROC curve, the cut-off point giving optimal sensitivity 63,9% and 
specificity 87,7% was found to be 617 mIU/mL for prognosis of multiple pregnancy. The rate of multiple 
pregnancy is directly proportional to the number of good embryos transferred into the uterus.
Conclusion: βhCG cut-off after 14 days ET for prognosis of multiple pregnancy is 617 mIU/mL, with 
sensitivity 63,9% and specificity 87,7%. In order to limit the multiple pregnancies, it is necessary to 
limit the number of good embryos transferred into the uterus.
TRẦN ĐÌNH VINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, PHẠM THỊ MINH HƯƠNG
110
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Bệnh viện Phụ Sản Nhi – Đà Nẵng từ 03/2016 
-8/2017 thỏa mãn tiêu chuẩn sau: (1) Sau 14 
ngày chuyển phôi, xét nghiệm βhCG > 25 mIU/
mL; (2) Sau xét nghiệm βhCG 3 tuần, siêu âm 
đầu dò âm đạo có hình ảnh túi thai trong buồng 
Đặc điểm Số trường hợp Tỉ lệ %
Tuổi
< 30
30-34
35-39
≥ 40
31
101
50
7
16,4
53,4
26,5
3,7
Tuổi trung bình: 32,76 
± 4,12
Lớn nhất: 45
Nhỏ nhất: 23
Thời gian vô sinh
< 5 năm
5-10 năm
>10 năm
99
79
11
52
42
6
Thời gian trung bình: 
4,76 ± 2,9
Lâu nhất: 15 năm
Ít nhất: 1 năm
Nguyên nhân vô sinh
Do vòi tử cung
Rối loạn phóng noãn
Lạc NMTC ở buồng trứng
Do chồng
Do cả hai vợ chồng
Không rõ nguyên nhân
Các nguyên nhân khác
14
20
2
105
17
20
11
7,4
10,6
1 
55,6 
8,9 
10,6 
5,9 
Phân loại vô sinh
Nguyên phát
Thứ phát
131
58
69,3
30,7
Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
tử cung; (3) Đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu 
chuẩn loại trừ : (1) Pha hỗ trợ hoàng thể có dùng 
hCG; (2) Thai ngoài tử cung. Với các chỉ tiêu 
nghiên cứu sau: (1) Nồng độ βhCG trung bình 
ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm một thai, 
nhóm song thai và tam thai; (2) Tương quan 
giữa nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển 
phôi với số phôi làm tổ trong buồng tử cung; (3) 
Liên quan giữa tuổi mẹ, nguyên nhân vô sinh, 
số phôi chuyển, chất lượng phôi chuyển, độ dày 
niêm mạc tử cung với chửa đa thai.
Chúng tôi đánh giá chất lượng phôi ngày 2,3 
theo đồng thuận của chi hội Y học sinh sản của 
Việt Nam (VSRM) dựa vào tốc độ phân chia của 
phôi, độ đồng đều của các tế bào, tỉ lệ các mảnh 
vỡ bào tương (fragments) và hiện tượng đa nhân. 
Dựa trên các thông số này phôi ngày 2,3 được chia 
thành 3 cấp độ: (1) Phôi loại 1 (tốt): Phôi ngày 2 
có từ 4 - 5 tế bào, phôi ngày 3 có từ 6 - 8 tế bào, 
các phôi bào đồng đều hoặc tương đối đồng đều 
(lệch nhau < 25%), mảnh vỡ bào tương < 10%, đơn 
nhân; (2) Phôi loại 2 (trung bình): Phôi ngày 2 có 
3 - 4 tế bào, hoặc ngày 3 có 6 - 8 tế bào, các phôi 
bào không đồng đều, hoặc tỉ lệ 10% < mảnh vỡ 
bào tương < 25%, đơn nhân; (3) Phôi loại 3 (xấu): 
Phôi ngày 2 có 2 tế bào hoặc phôi ngày 3 có 3 - 4 
tế bào, phôi bào không đồng đều nhau, mảnh vỡ 
bào tương > 25%, đa nhân. 
Chấm điểm chất lượng phôi chuyển như sau: (1) 
2 điểm : Có > 2 phôi loại 1; (2)1 điểm: Có 1 phôi 
loại 1; (3) 0 điểm: Không có phôi loại 1. 
3. Kết quả nghiên cứu
Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, 
nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi tại 
giá trị 617 mIU/mL có giá trị trong việc chẩn đoán 
chửa đa thai với độ nhạy 63,9% và độ đặc hiệu 
87,7% cao nhất.
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tuổi vợ là đặc điểm quan trọng khi bệnh nhân 
thực hiện TTON. Nghiên cứu trong dân số phụ nữ 
thụ thai tự nhiên ghi nhận tuổi vợ càng lớn thì khả 
năng có thai càng giảm. Tỉ lệ có thai giảm đi 26-
Số phôi chuyển Tần số Tỉ lệ% Trung bình
1 2 1
3,37 ± 0,69 phôi
2 14 7,4
3 88 46,6
4 82 43,4
5 3 1,6
Tổng cộng 189 100
Bảng 2: Số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung
Điểm chất lượng phôi Tần số Tỉ lệ %
0 11 6
1 27 14
2 151 80
Tổng cộng 189 100
Bảng 3: Chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung
Nhóm thai phụ Tần số Nồng độ β hCG trung bình p
Chửa 01 thai 106
Trung bình: 429,19 ± 279,53 mIU/mL
Thấp nhất: 39 mIU/mL
Cao nhất: 2066 mIU/mL
P
1-2
< 0,001
P
2-3 
< 0,001
P
1-3 
< 0,001
P
1 -4
 < 0,001
Chửa 02 thai 63
Trung bình: 779,25 ± 414,99 mIU/mL
Thấp nhất: 203 mIU/mL
Cao nhất: 1869 mIU/mL
Chửa 03 thai 
trở lên 20
Trung bình: 1261,20 ± 654,03 mIU/mL
Thấp nhất: 303 mIU/mL
Cao nhất: 2712 mIU/mL
Chửa đa thai ( ≥ 
2 thai) 83
Trung bình: 895,39 ± 521,85 mIU/mL
Thấp nhất: 203 mIU/mL
Cao nhất: 2712 mIU/mL
Bảng 4: Nồng độ β hCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm chửa 1 thai, 2 thai và 3 thai
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
111
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 108 - 113, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Biểu đồ 2: Phân bố của độ nhạy và độ đặc hiệu tiên lượng số lượng phôi thai theo nồng độ 
βhCG ngày 14 sau chuyển phôi
Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ trong 
tử cung 
Biểu đồ 2: Phân bố của độ nhạy và độ đặc hiệu tiên lượng số lượng phôi thai theo nồng độ βhCG 
ngày 14 sau chuyển phôi 
Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển 
phôi tại giá trị 617 mIU/mL có giá trị trong việc chẩn đoán chửa đa thai với độ nhạy 63,9% và 
độ đặc hiệu 87,7% cao nhất. 
hcg
0 20 40 60 80 100
0
20
40
60
80
100
100-Specificity
Se
ns
itiv
ity Sensitivity: 63.9 Specificity: 87.7
 Criterion : >616
Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ 
trong tử cung
Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ trong 
tử cung 
iể : â c a ạ à ặc iệ tiê l s l i t ai t e 
à sa c ể i 
Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển 
phôi tại giá trị 617 mIU/mL có giá trị trong việc chẩn đoán chửa đa thai với độ nhạy 63,9% và 
độ đặc hiệu 87,7% cao nhất. 
hcg
0 20 40 60 80 100
0
20
40
60
80
100
100-Specificity
Se
ns
itiv
ity Sensitivity: 63.9 Specif city 87.7
 Criterion : >616
Nhóm thai phụ
Số phôi chuyển Đơn thai Đa thai p
1 phôi
n 2 0
P = 0,739
% 1,1 0
2 phôi
n 7 7
% 3,7 3,7
3 phôi
n 50 38
% 26,5 20,1
4 phôi
n 45 37
% 23,8 19,6
5 phôi
n 2 1
% 1,1 0,5
Tổng
n 106 83
% 56,1 43,9
Bảng 5: Liên quan giữa số phôi chuyển và chửa đa thai
Nhóm thai phụ
Chất lượng phôi Đơn thai Đa thai p
2 điểm
n 77 74
p = 0,012
% 40,7 39,2
1 điểm
n 22 5
% 11,6% 2,6%
0 điểm
n 7 4
% 3,7 2,1
Tổng
n 106 83
% 56,1% 43,9%
Bảng 6: Liên quan giữa chất lượng phôi chuyển và chửa đa thai
46% khi phụ nữ ở độ tuổi 35-39 và giảm đến 95% 
ở tuổi 40 -45. Nghiên cứu trên các phụ nữ TTON 
cũng cho thấy khả năng sinh sản giảm dần khi tuổi 
tăng lên, tỉ lệ trẻ sinh sống sau TTON giảm dần 
theo tuổi, còn khoảng 20% khi bệnh nhân trên 35 
tuổi và còn 40 tuổi [2]. Trong 
nghiên cứu này, tuổi trung bình của vợ là 32,76 ± 
4,12. Có khoảng 70% số bệnh nhân nằm trong 
lứa tuổi 23 đến 35, đây là nhóm trong độ tuổi sinh 
đẻ, là nhóm có điều kiện thuận lợi nhất cho khám 
và điều trị vô sinh vì ở lứa tuổi này nội tiết còn 
tương đối ổn định nên khả năng mang thai sau 
điều trị cao.
Số phôi chuyển trung bình trong nghiên cứu 
này là 3,37 ± 00,69. Tương tự nghiên cứu của 
Vũ Minh Ngọc (2006) [3]; Nguyễn Xuân Huy 
[4]. Số phôi chuyển trung bình trong nghiên cứu 
này cao hơn nhiều so với các nghiên cứu ở Châu 
Âu và Trung Đông: số phôi chuyển trung bình từ 
1,9 – 2,8[5], [6],[7] . Sở dĩ có sự khác biệt này 
là do quan niệm về tôn giáo, bảo hiểm y tế, luật 
pháp của các nước và các khu vực khác nhau. Các 
trường hợp chửa từ 3 thai trở lên sẽ được giảm thiểu 
thai vào tuần thứ 7–8. Ở một số nước trên thế giới, 
tôn giáo hoặc luật pháp nghiêm cấm việc phá thai 
do đó việc giảm thiểu thai cũng bị cấm vì vậy để 
giảm tỉ lệ chửa đa thai, các trung tâm TTTON của 
các nước này chỉ chuyển trung bình khoảng 2 phôi 
cho mỗi một lần làm IVF [8].
4.2. Nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau 
chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm 
tổ trong buồng tử cung
hCG (human Chorionic Gonadotropin) là 
hormone hướng sinh dục nhau thai, được đơn bào 
nuôi và hợp bào nuôi chế tiết và có mặt trong máu 
hoặc trong nước tiểu ở thời kỳ thai nghén. hCG 
bắt đầu chế tiết từ rất sớm, vào cuối giai đoạn 
phôi dâu khi các nguyên bào nuôi được biệt hóa 
và được phát hiện trong huyết thanh mẹ từ ngày 
thứ 8-9 sau thụ tinh. Nồng độ hCG tăng nhanh 
sau thụ thai khiến nó trở thành chất chỉ điểm quan 
trọng trong việc xác định sớm và theo dõi thai. 
Thông thường ở những thai phụ chửa đa thai thì 
nồng độ hCG tăng cao hơn so với thai nghén 
bình thường [1]. Trong nghiên cứu này, nồng độ 
βhCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở 
nhóm chửa 1 thai là 429,19 ± 279,53 mIU/mL 
TRẦN ĐÌNH VINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, PHẠM THỊ MINH HƯƠNG
112
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
thấp hơn ở nhóm chửa 2 thai là 779,25 ± 414,99 
mIU/mL và ở nhóm chửa 3 thai là 1261 ± 654,03 
mIU/mL, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
3 nhóm với p< 0,001. Và nồng độ βhCG trung 
bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm chửa 
đa thai là 895,39 ± 521,85 mIU/mL; có sự khác 
biệt so với nhóm chửa 1 thai 429,19 ± 279,53, p 
< 0,001. Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Xuân 
Hợi và cộng sự (2017), nồng độ βhCG trung bình 
ở nhóm chửa 3 thai là 1211,21 ± 779,69 mUI/
mL cao hơn nhóm chửa 2 thai 934,01 ± 663,99 
mIU/mL và cao hơn nhóm chửa 1 thai là 581,86 
± 670,22 mIU/mL với p= 0,001 [9]. Tương tự với 
Guth B[10] Maysa [11].
Trong nghiên cứu này, nồng độ βhCG huyết 
thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi có tương quan 
thuận chặt với số phôi thai làm tổ trong buồng tử 
cung (r = 0,576) (biểu đồ 1). Như vậy, nồng độ 
βhCG huyết thanh có thể được coi là chỉ số cận lâm 
sàng tiên lượng tình trạng chửa 1 thai hoặc đa thai.
Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, 
nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi tại 
giá trị 617 mIU/ml có độ nhạy và độ đặc hiệu 
cao nhất (63,9% & 87,7%) trong tiên lượng chửa 
đa thai (Biểu đồ 2). Tương tự theo nghiên cứu của 
Nguyễn Xuân Hợi và cộng sự (2017) khi nghiên 
cứu trên 1228 trường hợp xét nghiệm β hCG 
dương tính sau 14 ngày chuyển phôi thì điểm cut-
off nồng độ β hCG tiên lượng trong chửa đa thai 
là 600,5 mIU/ml với độ nhạy là 71,4% và độ đặc 
hiệu là 69,1% [9].
4.3. Các yếu tố liên quan đến chửa 
đa thai
Chuyển bao nhiêu phôi trong một chu kỳ để 
giảm tỉ lệ chửa đa thai nhưng giữ được tỉ lệ có thai 
lâm sàng cao vẫn là một vấn đề chưa có sự thống 
nhất giữa các trung tâm TTTON bởi nó phụ thuộc 
vào nhiều yếu tố như đối tượng điều trị, số phôi 
thu được, chất lượng phôi, trình độ kỹ thuật, tôn 
giáo, pháp luật cho phép của từng quốc gia. Ở 
Việt Nam, chưa có quy định về hạn chế số lượng 
phôi chuyển trong mỗi chu kỳ. Tại Khoa Hiếm 
muộn Bệnh viện Phụ sản- Nhi Đà Nẵng, số lượng 
phôi chuyển trong một chu kỳ điều trị thường là 
3-4 phôi. Những bệnh nhân lớn tuổi, đã từng thất 
bại với những lần làm TTTON trước đó thường 
được chuyển nhiều phôi hơn [4], [3], [12]. Theo 
Nguyễn Xuân Hợi (2017) có sự liên quan giữa số 
phôi chuyển vào buồng tử cung và tỉ lệ chửa đa 
thai: tỉ lệ chửa đa thai tăng tỉ lệ thuận với số phôi 
chuyển vào buồng tử cung.Tỉ lệ chửa đa thai ở 
nhóm chuyển 3 phôi (75,9%) cao hơn nhiều lần 
so với nhóm chuyển 2 phôi (4,1%) với p< 0,001. 
Tỉ lệ chửa đa thai cao hơn chửa đơn thai trong 
cùng một nhóm có cùng số phôi chuyển, tỉ lệ này 
lần lượt là 75,9% so với 69,8% ở nhóm chuyển 3 
phôi và 20% so với 18,2% ở nhóm chuyển 4 phôi 
[9].Tương tự với Nguyễn Xuân Huy [4], Hassan N 
Sallam [13], Templeton A, Morris JKP [14]. Trong 
nghiên cứu này, không có sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê giữa tỉ lệ đa thai và đơn thai với số lượng 
phôi chuyển khác nhau, p= 0,739. Sở dĩ là do cỡ 
mẫu trong nghiên cứu chưa đủ lớn, có nhiều nhóm 
xuất hiện với tần suất thấp. 
Một trong các yếu tố quan trọng tiên lượng cho 
sự làm tổ thành công cũng như nguy cơ chửa đa 
thai đó là chất lượng phôi chuyển. Các nghiên cứu 
đều khẳng định tỉ lệ có thai cao hơn ở những nhóm 
có phôi chuyển chất lượng tốt hơn như Vũ Thị Bích 
Loan [15], Jonh F Payne [16]. Trong nghiên cứu 
này, tỉ lệ chửa đa thai ở nhóm chuyển ít nhất 2 
phôi tốt (39,2%) cao hơn nhiều so với nhóm phôi 
trung bình và xấu (chuyển ít nhất một hoặc không 
có phôi tốt) lần lượt là 2,6% và 2,1% (p=0,012). 
Tương tự, theo Catherine Staessen và cộng sự 
(1992) tỉ lệ chửa đa thai gia tăng tỉ lệ thuận với 
số phôi tốt chuyển vào buồng tử cung, tỉ lệ làm 
tổ/ số phôi chuyển là 21,3% đối với nhóm phôi 
tốt so với 12,3% so với nhóm phôi trung bình – 
xấu, p < 0,001 [17]. Nhằm giảm tỉ lệ đa thai sau 
điều trị TTTON, hiện nay một số nước Châu Âu chỉ 
chuyển 2 phôi, thậm chí 1 phôi trong một chu kì 
điều trị [13] hoặc chuyển phôi ở giai đoạn phôi 
nang (blastocyst) [18].
5. Kết luận
Nồng độ βhCG huyết thanh ngày thứ 14 sau 
chuyển phôi được coi là chỉ số cận lâm sàng tiên 
lượng tình trạng chửa 1 thai hoặc đa thai . Điểm 
cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai 
là 617 mIU/ml với độ nhạy 63,9%, độ đặc hiệu 
87,7%. Và để hạn chế chửa đa thai cần hạn chế số 
lượng phôi tốt chuyển vào buồng tử cung. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
113
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 108 - 113, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Tài liệu tham khảo
1. Laurence A Cole (2009), “New discoveries on the biology and detection 
of human chorionic gonadotropin”, Reprod Biol Endocrinol, 7 - 8.
2. EHSRE Capri Workshop Group (2005), “Fertility and ageing”, Hum 
Reprod Update 11, pp.261-276.
3. Vũ Minh Ngọc (2006), “Đánh giá kết quả của phác đồ dài kích 
thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ 
sản Trung ương”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà 
Nội, 33 – 62.
4. Nguyễn Xuân Huy (2004), “Nghiên cứu kết quả của thụ tinh trong 
ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2003”, Luận văn 
tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa 2, Trường Đại học Y Hà Nội, 3 – 52.
5. B. Popovic – Todorovic, A. Loft, A. Lindhard, S. Bangsboll, A. M. 
Andersson and A. Nyboe Andersen (2003), “A prospective study of 
predictive factors of ovarian respone in ‘standard’ IVF/ICSI patients 
treated with recombinant FSH. A suggestion for a recombinant FSH 
dosage normogram”, Human Reproduction, 18, 781 - 787.
6. European and Middle East Orgalutran study Group (2001), 
“Comparable clinical outcome using the GnRH antagonist ganirelix 
or a long protocol of the GnRH agonist triptorelin for the pevention of 
premature LH surges in women undergoing ovarian stimulation”, Hum 
Reprod, 16, 644 - 695.
7. Pridjian G. (1992), “Diagnosis of pregnancy”, Clinical Obstetrics and 
Gynecology 7th edition, Edited by John J. Sciarra. Lippincott Raven 
Publishers, Philadenphia, 2, 1 – 7.
8. Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2003), Vô sinh – một số vấn đề mới, 
Nhà xuất bản Y học, 97 - 102.
9. Nguyễn Xuân Hợi (2017), “Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày 
chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm”, Tạp chí 
Phụ sản,14 (2), 28-32
10. Guth B, J Hudelson, J Higbie, B Solomon, S Polley, Thomas S, 
Gentry WL (1995), “Predictive value of hCG level 14 days after embryo 
transfer”, Assist Reprod Genet, 12 (1), 13 – 4.
11. Maysa M. Khadra, Mazen A. Freij, Muataz Q. Al-Ramahi (2016), 
“ Human chorionic gonadotropin cutoff value determined by receiver 
operating characteristic curve analysis is useful but not absolute for 
determining pregnancy outcomes”, Middle East Fertility Society Journal, 
21, 120-124
12. Nguyễn Thị Thu Phương (2006), “Mối liên quan giữa độ dày nội 
mạc tử cung với kết quả có thai bằng thụ tinh trong ống nghiệm tại bệnh 
viện phụ sản trung ương năm 2005”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường 
Đại học Y Hà Nội.
13. Hassan N Sallam (2004), “Embryo transfer – a critique of the 
factor invovel in optimizing pregnancy success”, Advance in fertility and 
reproductive medicine, IFFS, 111 – 117.
14. Templeton A, Morris JKP (1999), “Reducing the risk of multiple births 
by transfer of two embryos aftrer in vitro fertilization”, N Engl J Med (341), 
1313 - 1314.
15. Vũ Thị Bích Loan (2008), “Đánh giá kết quả chuyển phôi ngày 3 
tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản của Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 
2008”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 33 – 55.
16. Jonh F. Payne et al (2005), “Relationship between pre-embryo 
pronuclear morphology (Zygote score) and standard day 2 or 3 embryo 
morphology with regard to assisted reproductive technique outcomes”, 
Fertility and Sterility, 84(4), 900 - 909.
17. Catherine Staessen M. Sc, Michel Camus M.D, (1992), “ The 
relationship between embryo quality and the occurrence of multiple 
pregnancies”, Fertility and Sterility, 57 (3), 626-630
18. Evangelos G. Papanicolaou (2005), “Live birth rate is significantly 
higher after blastocyst transfer than after cleavage - stage embryo 
transfer when at least four embryos are available on day 3 of embryo 
culture. A randomized prospective study”, Human Reproduction, 20 (11), 
3198 - 3203.

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_tien_luong_cua_hcg_sau_14_ngay_chuyen_phoi_trong_chu.pdf