Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm
Mục tiêu nghiên cứu: (1) Xác định nồng độ βhCG huyết thanh ngày
thứ 14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ trong buồng tử
cung; (2) Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ
tinh ống nghiệm.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên
189 bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm – chuyển phôi tại
Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng từ 03/2016 – 8/2017 có nồng độ
βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 25 mIU/mL và siêu âm thấy có túi
thai trong buồng tử cung sau thử βhCG 3 tuần.
Kết quả nghiên cứu: Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày
thứ 14 của nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL; song thai là
779,25 ± 414,99 mIU/mL và tam thai là 1261 ± 654,03 mIU/mL, p
0,005. Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày thứ 14 của
nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL và đa thai là 895,39 ± 521,85
mIU/mL, p< 0,001.="" nồng="" độ="" βhcg="" ngày="" thứ="" 14="" sau="" chuyển="" phôi="" có="">
tương quan thuận chặt với số phôi làm tổ trong buồng tử cung (r=0,576).
Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 617 mIU/mL
với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Tỉ lệ chửa đa thai tăng
lên theo số lượng phôi tốt được chuyển vào buồng tử cung.
Kết luận: Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là
617 mIU/mL với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Và để hạn
chế chửa đa thai cần phải hạn chế số lượng phôi tốt chuyển vào buồng
tử cung.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm
TRẦN ĐÌNH VINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, PHẠM THỊ MINH HƯƠNG 108 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Trần Đình Vinh, Nguyễn Thị Phương Lê, Phạm Thị Minh Hương Bệnh viện Phụ Sản – Nhi Đà Nẵng GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA βHCG SAU 14 NGÀY CHUYỂN PHÔI TRONG CHỬA ĐA THAI Ở BỆNH NHÂN THỤ TINH ỐNG NGHIỆM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Chí Kông, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Tóm tắt Mục tiêu nghiên cứu: (1) Xác định nồng độ βhCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ trong buồng tử cung; (2) Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ tinh ống nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 189 bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm – chuyển phôi tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng từ 03/2016 – 8/2017 có nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 25 mIU/mL và siêu âm thấy có túi thai trong buồng tử cung sau thử βhCG 3 tuần. Kết quả nghiên cứu: Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày thứ 14 của nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL; song thai là 779,25 ± 414,99 mIU/mL và tam thai là 1261 ± 654,03 mIU/mL, p < 0,005. Nồng độ βhCG trung bình sau chuyển phôi ngày thứ 14 của nhóm đơn thai là 429,19 ± 297,53 mIU/mL và đa thai là 895,39 ± 521,85 mIU/mL, p< 0,001. Nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi có mối tương quan thuận chặt với số phôi làm tổ trong buồng tử cung (r=0,576). Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 617 mIU/mL với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Tỉ lệ chửa đa thai tăng lên theo số lượng phôi tốt được chuyển vào buồng tử cung. Kết luận: Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 617 mIU/mL với độ nhạy là 63,9% và độ đặc hiệu là 87,7%. Và để hạn chế chửa đa thai cần phải hạn chế số lượng phôi tốt chuyển vào buồng tử cung. Abstract PREDICTIVE VALUE OF β HCG 14 DAYS AFTER EMBRYO TRANSFER WITH MULTIPLE PREGNANCY IN IN-VITRO FERTILIZATION Objective: (1) To determine the serum human chorionic gonadotropin concentration 14 days after embryo transfer (ET) in predicting the TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 109 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 1. Đặt vấn đề Sự ra đời và ngày càng phát triển các phương pháp hỗ trợ sinh sản nói chung và thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) nói riêng đã làm cho tỉ lệ có thai tăng lên rõ rệt nhưng cũng làm tăng rõ rệt tỉ lệ đa thai. Đa thai là tình trạng thai nghén có nguy cơ cao. Các thai kỳ chửa đa thai thường liên quan đến việc tăng bệnh suất, tử suất chu sinh, các biến chứng thai kỳ và những thay đổi tâm lý ở mẹ (mệt mỏi, stress...). Ngoài việc chủ động điều chỉnh số phôi chuyển phù hợp, trong các trường hợp không thể tránh được, giảm thai được xem là một phương thức có hiệu quả, có thể chấp nhận được. Định lượng nồng độ βhCG (β human Chorionic Gonadotropin) trong máu ngày thứ 14 sau chuyển phôi để xác định bệnh nhân có thai hay không. Trong những thai kỳ bình thường trong 3 tháng đầu, trung bình lượng βhCG tăng gấp đôi sau 48h. Phụ nữ chửa đa thai, nồng độ βhCG thường tăng cao hơn phụ nữ chửa đơn thai [1]. Do đó, xác định nồng độ βhCG sau chuyển phôi 14 ngày có thể tiên lượng được khả năng số phôi làm tổ trong buồng tử cung, qua đó có thể chẩn đoán sớm chửa đa thai và tư vấn dặn dò bệnh nhân kỹ hơn, đặc biệt là những bệnh nhân ở xa, không đến bệnh viện quá muộn để thực hiện việc giảm thai. Ngoài ra, việc tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ tinh trong ống nghiệm giúp bác sĩ điều trị có thể chủ động trong việc giảm nguy cơ đa thai. Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giá trị tiên lượng của β hCG huyết thanh sau 14 ngày chuyển phôi trong chửa đa thai ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm” với hai mục tiêu sau: (1) Xác định nồng độ βhCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ trong buồng tử cung; (2) Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chửa đa thai trong thụ tinh ống nghiệm. 2. Phương pháp nghiên cứu Chúng tôi tiến hành hồi cứu những trường hợp bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm – chuyển phôi tại Khoa Hiếm muộn – TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 108 - 113, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 number of embryos implanting intrauterine; (2) Factors related to multiple pregnancy in patients underwent IVF treatment. Material and methodology: This is a retrospective study in 189 IVF - ET cycles in Danang Hospital for Women and Children from 3/ 2016 to 8/2017, with βhCG blood test 14 days after ET ≥ 25 mIU/ mL and had gestational sac in uterus by transvaginal ultrasound after βhCG test 3 weeks. Exclusion criteria: hCG injection after embryo transfer and ectopic pregnancy. Results: Mean of βhCG level at 14 days after ET in single embryonic sac is 429,19 ± 297,53 mIU/ mL, 779,25 ± 414,99 mIU/mL in 2 embryonic sacs, 1261 ± 654,03 mUI/mL in 3 embryonic sacs (p< 0,005). Mean of βhCG level at 14 days after ET in single embryonic sac is 429,19 ± 297,53 mIU/mL, 895,39 ± 521,85 mIU/mL in multiple embryonic sacs, p < 0,001. The relationship between the βhCG 14 days after embryo transfer and the number of embryos implanting intrauterine has a strong positive correlation (r=0,576). By analysing the ROC curve, the cut-off point giving optimal sensitivity 63,9% and specificity 87,7% was found to be 617 mIU/mL for prognosis of multiple pregnancy. The rate of multiple pregnancy is directly proportional to the number of good embryos transferred into the uterus. Conclusion: βhCG cut-off after 14 days ET for prognosis of multiple pregnancy is 617 mIU/mL, with sensitivity 63,9% and specificity 87,7%. In order to limit the multiple pregnancies, it is necessary to limit the number of good embryos transferred into the uterus. TRẦN ĐÌNH VINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, PHẠM THỊ MINH HƯƠNG 110 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Bệnh viện Phụ Sản Nhi – Đà Nẵng từ 03/2016 -8/2017 thỏa mãn tiêu chuẩn sau: (1) Sau 14 ngày chuyển phôi, xét nghiệm βhCG > 25 mIU/ mL; (2) Sau xét nghiệm βhCG 3 tuần, siêu âm đầu dò âm đạo có hình ảnh túi thai trong buồng Đặc điểm Số trường hợp Tỉ lệ % Tuổi < 30 30-34 35-39 ≥ 40 31 101 50 7 16,4 53,4 26,5 3,7 Tuổi trung bình: 32,76 ± 4,12 Lớn nhất: 45 Nhỏ nhất: 23 Thời gian vô sinh < 5 năm 5-10 năm >10 năm 99 79 11 52 42 6 Thời gian trung bình: 4,76 ± 2,9 Lâu nhất: 15 năm Ít nhất: 1 năm Nguyên nhân vô sinh Do vòi tử cung Rối loạn phóng noãn Lạc NMTC ở buồng trứng Do chồng Do cả hai vợ chồng Không rõ nguyên nhân Các nguyên nhân khác 14 20 2 105 17 20 11 7,4 10,6 1 55,6 8,9 10,6 5,9 Phân loại vô sinh Nguyên phát Thứ phát 131 58 69,3 30,7 Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu tử cung; (3) Đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ : (1) Pha hỗ trợ hoàng thể có dùng hCG; (2) Thai ngoài tử cung. Với các chỉ tiêu nghiên cứu sau: (1) Nồng độ βhCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm một thai, nhóm song thai và tam thai; (2) Tương quan giữa nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ trong buồng tử cung; (3) Liên quan giữa tuổi mẹ, nguyên nhân vô sinh, số phôi chuyển, chất lượng phôi chuyển, độ dày niêm mạc tử cung với chửa đa thai. Chúng tôi đánh giá chất lượng phôi ngày 2,3 theo đồng thuận của chi hội Y học sinh sản của Việt Nam (VSRM) dựa vào tốc độ phân chia của phôi, độ đồng đều của các tế bào, tỉ lệ các mảnh vỡ bào tương (fragments) và hiện tượng đa nhân. Dựa trên các thông số này phôi ngày 2,3 được chia thành 3 cấp độ: (1) Phôi loại 1 (tốt): Phôi ngày 2 có từ 4 - 5 tế bào, phôi ngày 3 có từ 6 - 8 tế bào, các phôi bào đồng đều hoặc tương đối đồng đều (lệch nhau < 25%), mảnh vỡ bào tương < 10%, đơn nhân; (2) Phôi loại 2 (trung bình): Phôi ngày 2 có 3 - 4 tế bào, hoặc ngày 3 có 6 - 8 tế bào, các phôi bào không đồng đều, hoặc tỉ lệ 10% < mảnh vỡ bào tương < 25%, đơn nhân; (3) Phôi loại 3 (xấu): Phôi ngày 2 có 2 tế bào hoặc phôi ngày 3 có 3 - 4 tế bào, phôi bào không đồng đều nhau, mảnh vỡ bào tương > 25%, đa nhân. Chấm điểm chất lượng phôi chuyển như sau: (1) 2 điểm : Có > 2 phôi loại 1; (2)1 điểm: Có 1 phôi loại 1; (3) 0 điểm: Không có phôi loại 1. 3. Kết quả nghiên cứu Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi tại giá trị 617 mIU/mL có giá trị trong việc chẩn đoán chửa đa thai với độ nhạy 63,9% và độ đặc hiệu 87,7% cao nhất. 4. Bàn luận 4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Tuổi vợ là đặc điểm quan trọng khi bệnh nhân thực hiện TTON. Nghiên cứu trong dân số phụ nữ thụ thai tự nhiên ghi nhận tuổi vợ càng lớn thì khả năng có thai càng giảm. Tỉ lệ có thai giảm đi 26- Số phôi chuyển Tần số Tỉ lệ% Trung bình 1 2 1 3,37 ± 0,69 phôi 2 14 7,4 3 88 46,6 4 82 43,4 5 3 1,6 Tổng cộng 189 100 Bảng 2: Số lượng phôi chuyển vào buồng tử cung Điểm chất lượng phôi Tần số Tỉ lệ % 0 11 6 1 27 14 2 151 80 Tổng cộng 189 100 Bảng 3: Chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung Nhóm thai phụ Tần số Nồng độ β hCG trung bình p Chửa 01 thai 106 Trung bình: 429,19 ± 279,53 mIU/mL Thấp nhất: 39 mIU/mL Cao nhất: 2066 mIU/mL P 1-2 < 0,001 P 2-3 < 0,001 P 1-3 < 0,001 P 1 -4 < 0,001 Chửa 02 thai 63 Trung bình: 779,25 ± 414,99 mIU/mL Thấp nhất: 203 mIU/mL Cao nhất: 1869 mIU/mL Chửa 03 thai trở lên 20 Trung bình: 1261,20 ± 654,03 mIU/mL Thấp nhất: 303 mIU/mL Cao nhất: 2712 mIU/mL Chửa đa thai ( ≥ 2 thai) 83 Trung bình: 895,39 ± 521,85 mIU/mL Thấp nhất: 203 mIU/mL Cao nhất: 2712 mIU/mL Bảng 4: Nồng độ β hCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm chửa 1 thai, 2 thai và 3 thai TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 111 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 108 - 113, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Biểu đồ 2: Phân bố của độ nhạy và độ đặc hiệu tiên lượng số lượng phôi thai theo nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ trong tử cung Biểu đồ 2: Phân bố của độ nhạy và độ đặc hiệu tiên lượng số lượng phôi thai theo nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi tại giá trị 617 mIU/mL có giá trị trong việc chẩn đoán chửa đa thai với độ nhạy 63,9% và độ đặc hiệu 87,7% cao nhất. hcg 0 20 40 60 80 100 0 20 40 60 80 100 100-Specificity Se ns itiv ity Sensitivity: 63.9 Specificity: 87.7 Criterion : >616 Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ trong tử cung Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ β hCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi với số phôi làm tổ trong tử cung iể : â c a ạ à ặc iệ tiê l s l i t ai t e à sa c ể i Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi tại giá trị 617 mIU/mL có giá trị trong việc chẩn đoán chửa đa thai với độ nhạy 63,9% và độ đặc hiệu 87,7% cao nhất. hcg 0 20 40 60 80 100 0 20 40 60 80 100 100-Specificity Se ns itiv ity Sensitivity: 63.9 Specif city 87.7 Criterion : >616 Nhóm thai phụ Số phôi chuyển Đơn thai Đa thai p 1 phôi n 2 0 P = 0,739 % 1,1 0 2 phôi n 7 7 % 3,7 3,7 3 phôi n 50 38 % 26,5 20,1 4 phôi n 45 37 % 23,8 19,6 5 phôi n 2 1 % 1,1 0,5 Tổng n 106 83 % 56,1 43,9 Bảng 5: Liên quan giữa số phôi chuyển và chửa đa thai Nhóm thai phụ Chất lượng phôi Đơn thai Đa thai p 2 điểm n 77 74 p = 0,012 % 40,7 39,2 1 điểm n 22 5 % 11,6% 2,6% 0 điểm n 7 4 % 3,7 2,1 Tổng n 106 83 % 56,1% 43,9% Bảng 6: Liên quan giữa chất lượng phôi chuyển và chửa đa thai 46% khi phụ nữ ở độ tuổi 35-39 và giảm đến 95% ở tuổi 40 -45. Nghiên cứu trên các phụ nữ TTON cũng cho thấy khả năng sinh sản giảm dần khi tuổi tăng lên, tỉ lệ trẻ sinh sống sau TTON giảm dần theo tuổi, còn khoảng 20% khi bệnh nhân trên 35 tuổi và còn 40 tuổi [2]. Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của vợ là 32,76 ± 4,12. Có khoảng 70% số bệnh nhân nằm trong lứa tuổi 23 đến 35, đây là nhóm trong độ tuổi sinh đẻ, là nhóm có điều kiện thuận lợi nhất cho khám và điều trị vô sinh vì ở lứa tuổi này nội tiết còn tương đối ổn định nên khả năng mang thai sau điều trị cao. Số phôi chuyển trung bình trong nghiên cứu này là 3,37 ± 00,69. Tương tự nghiên cứu của Vũ Minh Ngọc (2006) [3]; Nguyễn Xuân Huy [4]. Số phôi chuyển trung bình trong nghiên cứu này cao hơn nhiều so với các nghiên cứu ở Châu Âu và Trung Đông: số phôi chuyển trung bình từ 1,9 – 2,8[5], [6],[7] . Sở dĩ có sự khác biệt này là do quan niệm về tôn giáo, bảo hiểm y tế, luật pháp của các nước và các khu vực khác nhau. Các trường hợp chửa từ 3 thai trở lên sẽ được giảm thiểu thai vào tuần thứ 7–8. Ở một số nước trên thế giới, tôn giáo hoặc luật pháp nghiêm cấm việc phá thai do đó việc giảm thiểu thai cũng bị cấm vì vậy để giảm tỉ lệ chửa đa thai, các trung tâm TTTON của các nước này chỉ chuyển trung bình khoảng 2 phôi cho mỗi một lần làm IVF [8]. 4.2. Nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi trong tiên lượng số phôi làm tổ trong buồng tử cung hCG (human Chorionic Gonadotropin) là hormone hướng sinh dục nhau thai, được đơn bào nuôi và hợp bào nuôi chế tiết và có mặt trong máu hoặc trong nước tiểu ở thời kỳ thai nghén. hCG bắt đầu chế tiết từ rất sớm, vào cuối giai đoạn phôi dâu khi các nguyên bào nuôi được biệt hóa và được phát hiện trong huyết thanh mẹ từ ngày thứ 8-9 sau thụ tinh. Nồng độ hCG tăng nhanh sau thụ thai khiến nó trở thành chất chỉ điểm quan trọng trong việc xác định sớm và theo dõi thai. Thông thường ở những thai phụ chửa đa thai thì nồng độ hCG tăng cao hơn so với thai nghén bình thường [1]. Trong nghiên cứu này, nồng độ βhCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm chửa 1 thai là 429,19 ± 279,53 mIU/mL TRẦN ĐÌNH VINH, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LÊ, PHẠM THỊ MINH HƯƠNG 112 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H thấp hơn ở nhóm chửa 2 thai là 779,25 ± 414,99 mIU/mL và ở nhóm chửa 3 thai là 1261 ± 654,03 mIU/mL, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm với p< 0,001. Và nồng độ βhCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi ở nhóm chửa đa thai là 895,39 ± 521,85 mIU/mL; có sự khác biệt so với nhóm chửa 1 thai 429,19 ± 279,53, p < 0,001. Tương tự nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hợi và cộng sự (2017), nồng độ βhCG trung bình ở nhóm chửa 3 thai là 1211,21 ± 779,69 mUI/ mL cao hơn nhóm chửa 2 thai 934,01 ± 663,99 mIU/mL và cao hơn nhóm chửa 1 thai là 581,86 ± 670,22 mIU/mL với p= 0,001 [9]. Tương tự với Guth B[10] Maysa [11]. Trong nghiên cứu này, nồng độ βhCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi có tương quan thuận chặt với số phôi thai làm tổ trong buồng tử cung (r = 0,576) (biểu đồ 1). Như vậy, nồng độ βhCG huyết thanh có thể được coi là chỉ số cận lâm sàng tiên lượng tình trạng chửa 1 thai hoặc đa thai. Với diện tích dưới đường cong ROC là 81,1%%, nồng độ βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi tại giá trị 617 mIU/ml có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất (63,9% & 87,7%) trong tiên lượng chửa đa thai (Biểu đồ 2). Tương tự theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hợi và cộng sự (2017) khi nghiên cứu trên 1228 trường hợp xét nghiệm β hCG dương tính sau 14 ngày chuyển phôi thì điểm cut- off nồng độ β hCG tiên lượng trong chửa đa thai là 600,5 mIU/ml với độ nhạy là 71,4% và độ đặc hiệu là 69,1% [9]. 4.3. Các yếu tố liên quan đến chửa đa thai Chuyển bao nhiêu phôi trong một chu kỳ để giảm tỉ lệ chửa đa thai nhưng giữ được tỉ lệ có thai lâm sàng cao vẫn là một vấn đề chưa có sự thống nhất giữa các trung tâm TTTON bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đối tượng điều trị, số phôi thu được, chất lượng phôi, trình độ kỹ thuật, tôn giáo, pháp luật cho phép của từng quốc gia. Ở Việt Nam, chưa có quy định về hạn chế số lượng phôi chuyển trong mỗi chu kỳ. Tại Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Phụ sản- Nhi Đà Nẵng, số lượng phôi chuyển trong một chu kỳ điều trị thường là 3-4 phôi. Những bệnh nhân lớn tuổi, đã từng thất bại với những lần làm TTTON trước đó thường được chuyển nhiều phôi hơn [4], [3], [12]. Theo Nguyễn Xuân Hợi (2017) có sự liên quan giữa số phôi chuyển vào buồng tử cung và tỉ lệ chửa đa thai: tỉ lệ chửa đa thai tăng tỉ lệ thuận với số phôi chuyển vào buồng tử cung.Tỉ lệ chửa đa thai ở nhóm chuyển 3 phôi (75,9%) cao hơn nhiều lần so với nhóm chuyển 2 phôi (4,1%) với p< 0,001. Tỉ lệ chửa đa thai cao hơn chửa đơn thai trong cùng một nhóm có cùng số phôi chuyển, tỉ lệ này lần lượt là 75,9% so với 69,8% ở nhóm chuyển 3 phôi và 20% so với 18,2% ở nhóm chuyển 4 phôi [9].Tương tự với Nguyễn Xuân Huy [4], Hassan N Sallam [13], Templeton A, Morris JKP [14]. Trong nghiên cứu này, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ đa thai và đơn thai với số lượng phôi chuyển khác nhau, p= 0,739. Sở dĩ là do cỡ mẫu trong nghiên cứu chưa đủ lớn, có nhiều nhóm xuất hiện với tần suất thấp. Một trong các yếu tố quan trọng tiên lượng cho sự làm tổ thành công cũng như nguy cơ chửa đa thai đó là chất lượng phôi chuyển. Các nghiên cứu đều khẳng định tỉ lệ có thai cao hơn ở những nhóm có phôi chuyển chất lượng tốt hơn như Vũ Thị Bích Loan [15], Jonh F Payne [16]. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ chửa đa thai ở nhóm chuyển ít nhất 2 phôi tốt (39,2%) cao hơn nhiều so với nhóm phôi trung bình và xấu (chuyển ít nhất một hoặc không có phôi tốt) lần lượt là 2,6% và 2,1% (p=0,012). Tương tự, theo Catherine Staessen và cộng sự (1992) tỉ lệ chửa đa thai gia tăng tỉ lệ thuận với số phôi tốt chuyển vào buồng tử cung, tỉ lệ làm tổ/ số phôi chuyển là 21,3% đối với nhóm phôi tốt so với 12,3% so với nhóm phôi trung bình – xấu, p < 0,001 [17]. Nhằm giảm tỉ lệ đa thai sau điều trị TTTON, hiện nay một số nước Châu Âu chỉ chuyển 2 phôi, thậm chí 1 phôi trong một chu kì điều trị [13] hoặc chuyển phôi ở giai đoạn phôi nang (blastocyst) [18]. 5. Kết luận Nồng độ βhCG huyết thanh ngày thứ 14 sau chuyển phôi được coi là chỉ số cận lâm sàng tiên lượng tình trạng chửa 1 thai hoặc đa thai . Điểm cut-off nồng độ βhCG tiên lượng cho chửa đa thai là 617 mIU/ml với độ nhạy 63,9%, độ đặc hiệu 87,7%. Và để hạn chế chửa đa thai cần hạn chế số lượng phôi tốt chuyển vào buồng tử cung. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 113 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 108 - 113, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Tài liệu tham khảo 1. Laurence A Cole (2009), “New discoveries on the biology and detection of human chorionic gonadotropin”, Reprod Biol Endocrinol, 7 - 8. 2. EHSRE Capri Workshop Group (2005), “Fertility and ageing”, Hum Reprod Update 11, pp.261-276. 3. Vũ Minh Ngọc (2006), “Đánh giá kết quả của phác đồ dài kích thích buồng trứng trong thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 33 – 62. 4. Nguyễn Xuân Huy (2004), “Nghiên cứu kết quả của thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2003”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa 2, Trường Đại học Y Hà Nội, 3 – 52. 5. B. Popovic – Todorovic, A. Loft, A. Lindhard, S. Bangsboll, A. M. Andersson and A. Nyboe Andersen (2003), “A prospective study of predictive factors of ovarian respone in ‘standard’ IVF/ICSI patients treated with recombinant FSH. A suggestion for a recombinant FSH dosage normogram”, Human Reproduction, 18, 781 - 787. 6. European and Middle East Orgalutran study Group (2001), “Comparable clinical outcome using the GnRH antagonist ganirelix or a long protocol of the GnRH agonist triptorelin for the pevention of premature LH surges in women undergoing ovarian stimulation”, Hum Reprod, 16, 644 - 695. 7. Pridjian G. (1992), “Diagnosis of pregnancy”, Clinical Obstetrics and Gynecology 7th edition, Edited by John J. Sciarra. Lippincott Raven Publishers, Philadenphia, 2, 1 – 7. 8. Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2003), Vô sinh – một số vấn đề mới, Nhà xuất bản Y học, 97 - 102. 9. Nguyễn Xuân Hợi (2017), “Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm”, Tạp chí Phụ sản,14 (2), 28-32 10. Guth B, J Hudelson, J Higbie, B Solomon, S Polley, Thomas S, Gentry WL (1995), “Predictive value of hCG level 14 days after embryo transfer”, Assist Reprod Genet, 12 (1), 13 – 4. 11. Maysa M. Khadra, Mazen A. Freij, Muataz Q. Al-Ramahi (2016), “ Human chorionic gonadotropin cutoff value determined by receiver operating characteristic curve analysis is useful but not absolute for determining pregnancy outcomes”, Middle East Fertility Society Journal, 21, 120-124 12. Nguyễn Thị Thu Phương (2006), “Mối liên quan giữa độ dày nội mạc tử cung với kết quả có thai bằng thụ tinh trong ống nghiệm tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2005”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội. 13. Hassan N Sallam (2004), “Embryo transfer – a critique of the factor invovel in optimizing pregnancy success”, Advance in fertility and reproductive medicine, IFFS, 111 – 117. 14. Templeton A, Morris JKP (1999), “Reducing the risk of multiple births by transfer of two embryos aftrer in vitro fertilization”, N Engl J Med (341), 1313 - 1314. 15. Vũ Thị Bích Loan (2008), “Đánh giá kết quả chuyển phôi ngày 3 tại Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản của Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2008”, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 33 – 55. 16. Jonh F. Payne et al (2005), “Relationship between pre-embryo pronuclear morphology (Zygote score) and standard day 2 or 3 embryo morphology with regard to assisted reproductive technique outcomes”, Fertility and Sterility, 84(4), 900 - 909. 17. Catherine Staessen M. Sc, Michel Camus M.D, (1992), “ The relationship between embryo quality and the occurrence of multiple pregnancies”, Fertility and Sterility, 57 (3), 626-630 18. Evangelos G. Papanicolaou (2005), “Live birth rate is significantly higher after blastocyst transfer than after cleavage - stage embryo transfer when at least four embryos are available on day 3 of embryo culture. A randomized prospective study”, Human Reproduction, 20 (11), 3198 - 3203.
File đính kèm:
gia_tri_tien_luong_cua_hcg_sau_14_ngay_chuyen_phoi_trong_chu.pdf

