Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG ngày

14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm.

Đối tượng nghiên cứu: 1228 bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm

tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia - Bệnh viện Phụ Sản Trung

ương trong năm 2014 - 2015, có xét nghiệm βhCG ngày thứ 14 sau

chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL. Thai lâm sàng: Siêu âm đầu dò âm đạo sau 4

tuần chuyển phôi có hình ảnh túi thai, bao gồm cả các trường hợp thai

ngoài tử cung. Thai sinh hóa: Định lượng βhCG ngày thứ 14 sau chuyển

phôi ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi mà

không có hình ảnh túi thai (không phát triển thành thai lâm sàng).

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả.

Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 tuổi. Nồng độ

βhCG trung bình ở nhóm thai lâm sàng là 761,5 ± 706,33 mIU/mL, nhóm

thai sinh hóa là 161,02 ± 82,35 mIU/mL, với p < 0,001.="" điểm="" cut-off="">

nồng độ βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5mIU/mL, với độ nhạy

là 81% và độ đặc hiệu là 98%. Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng

cho thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu là 95%.

Kết luận: Điểm cut-off của nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi

có giá trị cao trong việc tiên lượng thai sinh hoá hay thai lâm sàng trong

thụ tinh ống nghiệm.

pdf 5 trang phuongnguyen 500
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm

Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm
TRẦN VĂN TÚ, NGUYỄN XUÂN HỢI
158
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Trần Văn Tú(1), Nguyễn Xuân Hợi(2) 
(1) Bệnh viện Phụ Sản Hải Dương , (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA βhCG
SAU 14 NGÀY CHUYỂN PHÔI ĐỐI VỚI KẾT QUẢ
CÓ THAI TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Xuân Hợi, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: Thụ tinh trong ống 
nghiệm, βhCG, kết quả mang 
thai.
Keywords: IVF- In Vitro 
Fertilization, βhCG, pregnancy 
outcome.
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG ngày 
14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm. 
Đối tượng nghiên cứu: 1228 bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm 
tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia - Bệnh viện Phụ Sản Trung 
ương trong năm 2014 - 2015, có xét nghiệm βhCG ngày thứ 14 sau 
chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL. Thai lâm sàng: Siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 
tuần chuyển phôi có hình ảnh túi thai, bao gồm cả các trường hợp thai 
ngoài tử cung. Thai sinh hóa: Định lượng βhCG ngày thứ 14 sau chuyển 
phôi ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi mà 
không có hình ảnh túi thai (không phát triển thành thai lâm sàng). 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả. 
Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 tuổi. Nồng độ 
βhCG trung bình ở nhóm thai lâm sàng là 761,5 ± 706,33 mIU/mL, nhóm 
thai sinh hóa là 161,02 ± 82,35 mIU/mL, với p < 0,001. Điểm cut-off của 
nồng độ βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5mIU/mL, với độ nhạy 
là 81% và độ đặc hiệu là 98%. Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng 
cho thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu là 95%. 
Kết luận: Điểm cut-off của nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi 
có giá trị cao trong việc tiên lượng thai sinh hoá hay thai lâm sàng trong 
thụ tinh ống nghiệm.
Từ khóa: Thụ tinh trong ống nghiệm, βhCG, kết quả mang thai.
Abstract 
PREDICTIVE VALUE OF β-hCG AT 14TH DAYS 
AFFTER EMBRYO TRANSFERATION TO IVF OUTCOME 
Objective: To determine the value of βhCG level at 14th day after 
embryo transferation to in-vitro fertilization outcome. 
Objects: This study conducted in 1228 IVF patients in National Assisted 
Reproductive Techonology Center-National hospital of Obstetrics and 
Gynecology from 2014 to 2015. Patients have βhCG blood test over 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 158 - 162, 2017
159
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
5 mIU/mL at 14th day after embryo transferation. Clinical pregnancy embryonic sac detected by 
transvaginal ultrasound after 4 weeks including ectopic pregnancy. Biochemical pregnancy: Level of 
βhCG is over 5 mIU/mL on day 14th after embryo transferation and no embryonic sac detected by 
vaginal ultrasound after 4 weeks (no clinical pregnancy). 
Methods: This was retrospective, cross-sectional method. 
Results: Mean of gestational age was 31,4 ± 4,6. Mean of βhCG level among clinical pregnancy 
was 761,5 ± 706,33 mIU/mL; Mean of βhCG level among biochemical pregnancy was 161,02 ± 
82,35 mIU/mL (p < 0,001). The βhCG cut-off value in clinical pregnancy was 299,5mIU/mL with 
sensitivity of 81%, specificity of 98% and that of biochemical pregnancy was 115,5 mIU/mL with 76% 
sensitivity, 95% specificity. 
Conclusion: The βhCG cut-off value at 14th day after embryo transferation was valuable in predicting 
clincal pregnancy or biochemical pregnancy in IVF.
Key words: IVF- In Vitro Fertilization, βhCG, pregnancy outcome.
1. Đặt vấn đề
Thụ tinh ống nghiệm (IVF - In Vitro Fertilization) 
là chọc hút một hay nhiều noãn đã trưởng thành từ 
buồng trứng cho thụ tinh với tinh trùng (đã lọc rửa) 
trong ống nghiệm. Sau khi noãn thụ tinh phát triển 
thành phôi, chuyển phôi tốt vào buồng tử cung để 
phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi. Ngay sau 
chuyển phôi 14 ngày, bệnh nhân được định lượng 
nồng độ βhCG huyết thanh sau đó siêu âm đầu dò 
âm đạo vào ngày 28 sau chuyển phôi. Dựa trên 
kết quả của 2 xét nghiệm này có: Thai sinh hóa: 
nồng độ βhCG ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm 
đạo không có túi ối trong buồng tử cung. Thai lâm 
sàng: kết quả siêu âm bằng đầu dò âm đạo có sự 
xuất hiện của túi ối, phôi, tim thai [1]. Thực tế lâm 
sàng cho thấy nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển 
phôi rất thấp, do đó bác sỹ và bệnh nhân đều lo 
lắng liệu có phải là thai sinh hóa. Đồng thời siêu 
âm thai tại thời điểm này (14 ngày sau chuyển 
phôi) chưa có giá trị chẩn đoán. Xuất phát từ thực 
tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục 
tiêu: Xác định giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG 
ngày 14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai 
trong thụ tinh ống nghiệm.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả bệnh nhân được thụ tinh trong ống 
nghiệm tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản Quốc gia 
– Bệnh viện Phụ Sản Trung ương có xét nghiệm 
βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL.
- Có đầy đủ thông tin và yếu tố nghiên cứu.
2.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Sau chuyển phôi có tiêm βhCG.
- Bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm tại 
nơi khác.
- Không đủ thông tin nghiên cứu.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ 2014 – 2015.
- Địa điểm: Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia 
– Bệnh viện Phụ Sản Trung ương.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu:
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 
4,6 bệnh nhân tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 
25 – 30 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 20 và lớn nhất là 52.
Nguyên nhân gây vô sinh ở đối tượng nghiên 
cứu chủ yếu do vòi tử cung (chiếm 36,6%); không 
rõ nguyên nhân chiếm 31,1%; các nguyên nhân 
do lạc nội mạc tử cung, rối loạn phóng noãn và tử 
cung bất thường chiếm tỷ lệ rất thấp.
3.2. Giá trị của nồng độ βhCG ngày 14 
sau chuyển phôi đối với kết quả có thai 
lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm.
Nghiên cứu 1.228 trường hợp có thai (xét 
nghiệm βhCG ≥ 5 mIU/mL) sau thụ tinh trong ống 
nghiệm trong đó có 1.080 trường hợp là thai lâm 
sàng (chiếm 87,9%), và 148 trường hợp là thai 
sinh hóa (chiếm 12,1%).
Nồng độ βhCG trung bình ở thai lâm sàng 
(761,5 ± 706,33 mIU/mL) cao hơn nồng độ βhCG 
trung bình ở thai sinh hóa (161,02 ± 82,35 mIU/
mL) có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Điểm cut-off của βhCG tiên lượng cho thai lâm 
sàng là 299,5 mIU/mL với độ nhạy 81% và độ đặc 
hiệu 98%, J lớn nhất bằng 0,79.
Biểu đồ 2. Diện tích đường cong ROC (AUC 
= 0,919) có giá trị trong chẩn đoán tình trạng 
có thai lâm sàng, mối liên quan này có ý nghĩa 
TRẦN VĂN TÚ, NGUYỄN XUÂN HỢI
160
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
Thiết kế nghiên cứu hồi cứu, mô tả. 
2.4.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu thuận tiện, tất cả đối tượng thõa mãn 
tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đều được 
chọn vào nghiên cứu. 
2.4.3.Tiêu chuẩn xác định tình trạng thai [2]
- Thai lâm sàng: Siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 
tuần chuyển phôi có hình ảnh túi thai, bao gồm cả 
các trường hợp thai ngoài tử cung.
- Thai sinh hóa: Định lượng βhCG ngày thứ 14 
sau chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò 
âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi mà không có hình 
ảnh túi thai (không phát triển thành thai lâm sàng).
2.5. Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm SPSS 
20.0 với các test: T-test, sử dụng đường cong ROC 
(Receiver Operating Characteristic Curve) tìm điểm 
cut-off của giá trị βhCG trong tiên lượng kết quả 
có thai. Dùng chỉ số Youden (Youden index) J để 
xác định nồng độ βhCG nào có độ nhạy và độ đặc 
hiệu cao nhất. Chỉ số J là trị số cao nhất của tổng 
độ nhạy và độ đặc hiệu trừ đi 1. J = max (Se+Sp 
-1) với Se (Sensitivity) là độ nhạy và Sp (specificity) 
là độ đặc hiệu.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thông tin chung về đối tượng 
nghiên cứu 
Biểu đồ 1. Nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu
Nguyên nhân vô sinh Tần số Tỷ lệ %
Do vòi tử cung 450 36,6
Rối loạn phóng noãn 16 1,3
Tinh trùng bất thường 267 21,7
Lạc nội mạc tử cung 9 0,7
Tử cung bất thường 22 1,8
Do cả 2 vợ chồng 53 4,3
Nguyên nhân khác 22 1,8
Không rõ nguyên nhân 389 31,7
Tổng 1.228 100
Bảng 1. Nguyên nhân gây vô sinh ở đối tượng nghiên cứu
Tình trạng Thai Nồng độ βhCG Số lượng X ± SD p
Thai lâm sàng 1080 761,5 ± 706,33
0,001
Thai sinh hóa 148 161,02 ± 82,35
Bảng 2. So sánh nồng độ βhCG trung bình giữa thai lâm sàng và thai sinh hóa
βhCG (mIU/mL) Giá trị chẩn đoán Độ nhạy % Độ đặc hiệu % Giá trị J
284,5 81,8 91,9 0,737
285,5 81,7 91,9 0,736
286,5 81,7 92,6 0,743
287,5 81,7 93,9 0,756
288,5 81,5 93,9 0,754
291 81,5 95,3 0,768
293,5 81,4 95,3 0,767
294,5 81,3 95,3 0,766
296 81,2 97,3 0,785
298 81,1 97,3 0,784
299,5 81,0 98,0 0,79
300,5 79,3 98,0 0,773
301,5 79,2 98,0 0,772
303 78,9 98,0 0,769
304,5 78,6 98,0 0,766
307 78,3 98,0 0,763
Bảng 3 .Giá trị tiên lượng của βhCG với thai lâm sàng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 158 - 162, 2017
161
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Biểu đồ 2. Đường cong ROC của βhCG trong tiên lượng thai lâm sàng
thống kê với p < 0,001 và khoảng tin cậy 95% CI 
(0,9-0,94).
Điểm cut-off βhCG tiên lượng cho thai sinh hóa 
là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu 
95%, J lớn nhất bằng 0,71.
Diện tích dưới đường cong ROC (UAC = 0,893) 
trong tiên lượng thai sinh hóa mối liên quan này có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,001 và khoảng tin cậy 
95% CI (0,87-0,92).
4. Bàn luận
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 
tuổi, bệnh nhân tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 
25 – 30 tuổi (chiếm 41,4%). Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu của 
Neeta Singh và cộng sự [3]. Đây cũng là nhóm đang 
βhCG (mIU/mL) Giá trị chẩn đoán Độ nhạy % Độ đặc hiệu % Giá trị J
109,5 76,0 93,1 0,691
111 76,5 93,1 0,696
112 76,2 93,5 0,697
114,5 76,0 94,1 0,701
115,5 76,0 95,0 0,71
116,5 75,7 95,0 0,707
117,5 75,2 95,0 0,702
118,5 74,1 94,5 0,686
120 73,4 94,5 0.679
Bảng 4. Giá trị tiên lượng của βhCG với thai sinh hóa
Biểu đồ 3. Đường cong ROC của βhCG tiên lượng thai sinh hóa
trong độ tuổi sinh đẻ, đồng thời là độ tuổi có nhu cầu 
và nguyện vọng sinh con cao nhất. Đối tượng có tuổi 
nhỏ nhất là 20 tuổi và lớn nhất là 52 tuổi. Độ tuổi có 
khá nhiều ảnh hưởng đến kết quả có thai ở đối tượng 
thụ tinh trong ống nghiệm, do có liên quan đến dự trữ 
buồng trứng, người ta nhận thấy tuổi càng cao thì 
dự trự buồng trứng càng giảm, đặc biệt sau tuổi 35. 
Trong xã hội hiện nay nhiều cặp vợ chồng kết hôn 
nhưng chưa sinh con ngay, do đó tuổi của đối tượng 
vô sinh có xu hướng tăng lên. Bên cạnh đó, nguyên 
nhân gây vô sinh cũng là yếu tố ảnh hưởng đến thành 
công hay thất bại của thụ tinh trong ống nghiệm. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi thấy, nguyên nhân gây 
vô sinh ở đối tượng chủ yếu do vòi tử cung chiếm 
36,6%, đây cũng là nguyên nhân vô sinh có tiên 
lượng tốt nhất trong thụ tinh ống nghiệm, kết quả này 
phù hợp với kết quả của Neeta Singh [3]. Tiếp theo là 
không rõ nguyên nhân chiếm 31,7%, bất thường về 
tinh trùng chiếm 21,7%. Các nguyên nhân gây vô sinh 
khác như: lạc nội mạc tử cung, rối loạn phóng noãn 
và tử cung bất thường chiếm tỷ lệ rất thấp.
Giá trị của nồng độ βhCG ngày 14 sau 
chuyển phôi đối với kết quả có thai sau 
thụ tinh trong ống nghiệm.
So sánh nồng độ βhCG trung bình giữa thai 
lâm sàng và thai sinh hóa: 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng 
độ βhCG trung bình ở thai lâm sàng (761,5 mIU/mL) 
cao hơn thai sinh hóa (161,02 mIU/mL) có ý nghĩa 
thống kê với p < 0,001. Nghiên cứu của Neeta Singh 
và cộng sự (2013) hồi cứu trên 181 trường hợp thụ tinh 
trong ống nghiệm từ 5/2009 – 11/2012, cho kết quả 
nồng độ βhCG trung bình (xét nghiệm ngày thứ 14 sau 
chuyển phôi) trong thai khả thi là 625 mIU/mL, trong 
thai không khả thi (bao gồm thai sinh hóa, sảy thai, thai 
ngoài tử cung, thai ngừng phát triển) là 174 mIU/mL 
[3]. Theo nghiên cứu của Maysa M. Khadra trong năm 
2009 – 2011, hồi cứu 248 chu kì chuyển phôi dẫn đến 
có thai, cho kết quả nồng độ βhCG trung bình ngày 14 
sau chuyển phôi ở thai khả thi là 264 mIU/mL, trong 
thai không khả thi là 120 mIU/mL [2]. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả của Neeta 
Singh và cộng sự [3] và một số tác giả khác [2].
Nồng độ βhCG đại diện cho số lượng và chức năng 
của tế bào nuôi. Kết quả của chúng tôi chỉ ra rằng có 
sự khác biệt đáng kể về giá trị βhCG trung bình ngày 
thứ 14 sau chuyển phôi giữa thai lâm sàng và thai sinh 
TRẦN VĂN TÚ, NGUYỄN XUÂN HỢI
162
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
hóa, giá trị βhCG trung bình cao hơn khi mang thai lâm 
sàng so với các trường hợp mang thai sinh hóa.
Giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG sau 14 
ngày chuyển phôi: 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tìm được điểm cut-
off của nồng độ βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 
299,5 mIU/mL, với độ nhạy là 81% và độ đặc hiệu là 
98%, AUC là 0,919, mối liên quan này có ý nghĩa thống 
kê với p < 0,001 và khoảng tin cậy 95% CI (0,9-0,94). 
Nghiên cứu của Neeta Singh và cộng sự (2013) trên 
171 trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm cho kết quả: 
điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng cho thai trên 
12 tuần là 347 mIU/mL với độ nhạy 72,2% và độ đặc 
hiệu 73,6%, diện tích dưới đường cong ROC là 0,79 [3]. 
Điểm cut-off nồng độ βhCG của chúng tôi cao hơn 
những kết quả được báo cáo bởi Bjercke và cộng sự 
(55 mIU/mL) [4]; và Poikkeus và cộng sự (76 mIU/
mL) [5], nhưng thấp hơn Singh và cộng sự (347 mIU/
mL) [3]; Eskandar và cộng sự (315 mIU/mL) [6]. Sự 
khác biệt của điểm cut-off giữa các nghiên cứu khác 
nhau có thể do 1 số lý do: số chu kì chuyển phôi trong 
mỗi nghiên cứu, tuổi phôi (phôi ngày 2, ngày 3 hay 
ngày 5), kỹ thuật và phương pháp định lượng βhCG, 
thời điểm định lượng βCG sau chuyển phôi (định lượng 
ngày 11, ngày 12, ngày 14 hay ngày 16)...Như vậy, 
rõ ràng điểm cut-off nồng độ βhCG có giá trị tốt trong 
tiên lượng kết cục thai nghén. Tuy nhiên, không có điểm 
cut-off nào có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 100%, 
do đó điểm cut-off của βhCG được xác định bởi đường 
cong ROC rất hữu ích nhưng không phải là chính xác 
tuyệt đối 100% trong tiên lượng kết cục thai kỳ.
Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng thai sinh 
hóa là 115,5 mIU/mL, với độ nhạy 76% và độ 95%. 
Nghiên cứu của tác giả Mamdoh A. Eskandar (2011): 
theo dõi 261 chu kỳ ICSI/IVF có dương tính với test βhCG 
sau chuyển phôi tìm được điểm cut-off tiên lượng cho 
thai sinh hóa là 76,15 mIU/mL, với độ nhạy 93,33%, 
độ đặc hiệu 89,84% và diện tích dưới đường cong ROC 
là 0,919 [6]. Nghiên cứu của Xiao-yan Huang và cộng 
sự (2007) trên 384 trường hợp có thai sau thụ tinh trong 
ống nghiệm được định lượng βhCG ngày thứ 11 sau 
chuyển phôi cho kết quả: nếu nồng độ βhCG từ 10 – 50 
mIU/mL giá trị tiên đoán dương tính thai sinh hóa hoặc 
thai ngoài tử cung là 81,8%, giá trị tiên đoán âm tính 
là 94,4% [7].
Trong các chu kỳ thụ tinh ống nghiệm, các cặp vợ 
chồng thường rất căng thẳng, lo lắng về kết quả có 
thành công hay không. Khoảng thời gian từ lần thử thai 
đầu tiên đến khi siêu âm là khoảng 2 tuần, do vậy, 
xét nghiệm βhCG nhằm dự đoán kết cục thai kỳ rất có 
ý nghĩa trong việc tư vấn nhằm làm giảm lo lắng cho 
bệnh nhân và cả bác sỹ. Mỗi điểm cut-off βhCG trong 
các nghiên cứu là không hoàn toàn bằng nhau, nên 
mỗi trung tâm hỗ trợ sinh sản cần phân tích điểm cut-off 
1 cách hợp lý, và tư vấn 1 cách linh động dựa trên kinh 
nghiệm của mình. Đồng thời cần phải theo dõi thường 
xuyên thai nghén bằng các xét nghiệm khác nữa.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu 1228 trường hợp có thai sau thụ 
tinh trong ống nghiệm tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản 
Quốc gia – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, chúng tôi 
rút ra kết luận sau:
- Nồng độ β-hCG trung bình của thai lâm sàng là 
761,5 ± 706,33 mIU/mL và thai sinh hóa là 161,02 ± 
82,35 mIU/mL.
- Điểm cut-off nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển 
phôi tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5 mIU/mL, với 
độ nhạy là 81% và độ đặc hiệu là 98%; tiên lượng cho 
thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ 
đặc hiệu là 95%.
- Nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi rất có ý 
nghĩa trong việc tiên lượng, cũng như theo dõi kết cục 
thai nghén.
Tài liệu tham khảo
1. B.Hédon, H.Déchoud, T.Anahogy, F.Arnal and C.Humeau. Assisted 
procreation. Infertility and contraception. A textbook for clinical practice. 1998.
2. Maysa M. Khadra, Mazen A. Freij, et al. Human chorionic gonadotropin 
cutoff value determined by receiver operating characteristic curve analysis 
is useful but not absolute for determining pregnancy outcomes. Middle East 
Fertility Society Journal. 2016; 21(2), 120-124.
3. Neeta Singh, Manu Goyal, et al. Predictive value of early serum beta-human 
chorionic gonadotrophin for the successful outcome in women undergoing in vitro 
fertilization. Journal of Human Reproductive Sciences. 2013; 6 (4), 245-247.
4. S. Bjercke, T. Tanbo, P.O. Dale, L. Morkrid, T. Abyholm. Human chorionic 
gonadotrophin concentrations in early pregnancy after in-vitro fertilization. Hum 
Reprod. 14 (1999), 1642–1646.
5. P. Poikkeus, V. Hiilesmaa, A. Tiitinen. Serum HCG 12 days after embryo transfer 
in predicting pregnancy outcome. Hum Reprod. 17 (2002), pp. 1901–1905.
6. Eskandar MA, Al-Shahrani M, Shaamash A, El-Emain M, Al-Ahmad 
M, Payodon B. Early Maternal Serum β-human Chorionic Gonadotropin 
Measurements After ICSI inthe Prediction of Long-term Pregnancy Outcomes. 
A Retrospective Cohort Analysis. J Clin Med Res. 2001; 3(1):30-5. 
7. Xiao-yan Huang, Yuna Zang, Hai-qin YU. Serum beta hCG of 11 day after 
embryo transfer to predict pregnancy outcome. Journal of Reproduction 
and Contraception. 2007; 18(3):213-219

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_tien_luong_cua_hcg_sau_14_ngay_chuyen_phoi_doi_voi_k.pdf