Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG ngày
14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm.
Đối tượng nghiên cứu: 1228 bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm
tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia - Bệnh viện Phụ Sản Trung
ương trong năm 2014 - 2015, có xét nghiệm βhCG ngày thứ 14 sau
chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL. Thai lâm sàng: Siêu âm đầu dò âm đạo sau 4
tuần chuyển phôi có hình ảnh túi thai, bao gồm cả các trường hợp thai
ngoài tử cung. Thai sinh hóa: Định lượng βhCG ngày thứ 14 sau chuyển
phôi ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi mà
không có hình ảnh túi thai (không phát triển thành thai lâm sàng).
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả.
Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 tuổi. Nồng độ
βhCG trung bình ở nhóm thai lâm sàng là 761,5 ± 706,33 mIU/mL, nhóm
thai sinh hóa là 161,02 ± 82,35 mIU/mL, với p < 0,001.="" điểm="" cut-off="">
nồng độ βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5mIU/mL, với độ nhạy
là 81% và độ đặc hiệu là 98%. Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng
cho thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu là 95%.
Kết luận: Điểm cut-off của nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi
có giá trị cao trong việc tiên lượng thai sinh hoá hay thai lâm sàng trong
thụ tinh ống nghiệm.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Giá trị tiên lượng của βhCG sau 14 ngày chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm
TRẦN VĂN TÚ, NGUYỄN XUÂN HỢI 158 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Trần Văn Tú(1), Nguyễn Xuân Hợi(2) (1) Bệnh viện Phụ Sản Hải Dương , (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương GIÁ TRỊ TIÊN LƯỢNG CỦA βhCG SAU 14 NGÀY CHUYỂN PHÔI ĐỐI VỚI KẾT QUẢ CÓ THAI TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Xuân Hợi, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 01/03/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/03/2017 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 28/04/2017 Từ khóa: Thụ tinh trong ống nghiệm, βhCG, kết quả mang thai. Keywords: IVF- In Vitro Fertilization, βhCG, pregnancy outcome. Tóm tắt Mục tiêu nghiên cứu: Xác định giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm. Đối tượng nghiên cứu: 1228 bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia - Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong năm 2014 - 2015, có xét nghiệm βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL. Thai lâm sàng: Siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi có hình ảnh túi thai, bao gồm cả các trường hợp thai ngoài tử cung. Thai sinh hóa: Định lượng βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi mà không có hình ảnh túi thai (không phát triển thành thai lâm sàng). Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả. Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 tuổi. Nồng độ βhCG trung bình ở nhóm thai lâm sàng là 761,5 ± 706,33 mIU/mL, nhóm thai sinh hóa là 161,02 ± 82,35 mIU/mL, với p < 0,001. Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5mIU/mL, với độ nhạy là 81% và độ đặc hiệu là 98%. Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng cho thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu là 95%. Kết luận: Điểm cut-off của nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi có giá trị cao trong việc tiên lượng thai sinh hoá hay thai lâm sàng trong thụ tinh ống nghiệm. Từ khóa: Thụ tinh trong ống nghiệm, βhCG, kết quả mang thai. Abstract PREDICTIVE VALUE OF β-hCG AT 14TH DAYS AFFTER EMBRYO TRANSFERATION TO IVF OUTCOME Objective: To determine the value of βhCG level at 14th day after embryo transferation to in-vitro fertilization outcome. Objects: This study conducted in 1228 IVF patients in National Assisted Reproductive Techonology Center-National hospital of Obstetrics and Gynecology from 2014 to 2015. Patients have βhCG blood test over TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 158 - 162, 2017 159 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 5 mIU/mL at 14th day after embryo transferation. Clinical pregnancy embryonic sac detected by transvaginal ultrasound after 4 weeks including ectopic pregnancy. Biochemical pregnancy: Level of βhCG is over 5 mIU/mL on day 14th after embryo transferation and no embryonic sac detected by vaginal ultrasound after 4 weeks (no clinical pregnancy). Methods: This was retrospective, cross-sectional method. Results: Mean of gestational age was 31,4 ± 4,6. Mean of βhCG level among clinical pregnancy was 761,5 ± 706,33 mIU/mL; Mean of βhCG level among biochemical pregnancy was 161,02 ± 82,35 mIU/mL (p < 0,001). The βhCG cut-off value in clinical pregnancy was 299,5mIU/mL with sensitivity of 81%, specificity of 98% and that of biochemical pregnancy was 115,5 mIU/mL with 76% sensitivity, 95% specificity. Conclusion: The βhCG cut-off value at 14th day after embryo transferation was valuable in predicting clincal pregnancy or biochemical pregnancy in IVF. Key words: IVF- In Vitro Fertilization, βhCG, pregnancy outcome. 1. Đặt vấn đề Thụ tinh ống nghiệm (IVF - In Vitro Fertilization) là chọc hút một hay nhiều noãn đã trưởng thành từ buồng trứng cho thụ tinh với tinh trùng (đã lọc rửa) trong ống nghiệm. Sau khi noãn thụ tinh phát triển thành phôi, chuyển phôi tốt vào buồng tử cung để phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi. Ngay sau chuyển phôi 14 ngày, bệnh nhân được định lượng nồng độ βhCG huyết thanh sau đó siêu âm đầu dò âm đạo vào ngày 28 sau chuyển phôi. Dựa trên kết quả của 2 xét nghiệm này có: Thai sinh hóa: nồng độ βhCG ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm đạo không có túi ối trong buồng tử cung. Thai lâm sàng: kết quả siêu âm bằng đầu dò âm đạo có sự xuất hiện của túi ối, phôi, tim thai [1]. Thực tế lâm sàng cho thấy nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi rất thấp, do đó bác sỹ và bệnh nhân đều lo lắng liệu có phải là thai sinh hóa. Đồng thời siêu âm thai tại thời điểm này (14 ngày sau chuyển phôi) chưa có giá trị chẩn đoán. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: Xác định giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai trong thụ tinh ống nghiệm. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn - Tất cả bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản Quốc gia – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương có xét nghiệm βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL. - Có đầy đủ thông tin và yếu tố nghiên cứu. 2.2. Tiêu chuẩn loại trừ - Sau chuyển phôi có tiêm βhCG. - Bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm tại nơi khác. - Không đủ thông tin nghiên cứu. 2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu - Thời gian: từ 2014 – 2015. - Địa điểm: Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. 2.4. Phương pháp nghiên cứu 2.4.1. Thiết kế nghiên cứu: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 bệnh nhân tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 25 – 30 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 20 và lớn nhất là 52. Nguyên nhân gây vô sinh ở đối tượng nghiên cứu chủ yếu do vòi tử cung (chiếm 36,6%); không rõ nguyên nhân chiếm 31,1%; các nguyên nhân do lạc nội mạc tử cung, rối loạn phóng noãn và tử cung bất thường chiếm tỷ lệ rất thấp. 3.2. Giá trị của nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm. Nghiên cứu 1.228 trường hợp có thai (xét nghiệm βhCG ≥ 5 mIU/mL) sau thụ tinh trong ống nghiệm trong đó có 1.080 trường hợp là thai lâm sàng (chiếm 87,9%), và 148 trường hợp là thai sinh hóa (chiếm 12,1%). Nồng độ βhCG trung bình ở thai lâm sàng (761,5 ± 706,33 mIU/mL) cao hơn nồng độ βhCG trung bình ở thai sinh hóa (161,02 ± 82,35 mIU/ mL) có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Điểm cut-off của βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5 mIU/mL với độ nhạy 81% và độ đặc hiệu 98%, J lớn nhất bằng 0,79. Biểu đồ 2. Diện tích đường cong ROC (AUC = 0,919) có giá trị trong chẩn đoán tình trạng có thai lâm sàng, mối liên quan này có ý nghĩa TRẦN VĂN TÚ, NGUYỄN XUÂN HỢI 160 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H Thiết kế nghiên cứu hồi cứu, mô tả. 2.4.2. Cỡ mẫu Cỡ mẫu thuận tiện, tất cả đối tượng thõa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đều được chọn vào nghiên cứu. 2.4.3.Tiêu chuẩn xác định tình trạng thai [2] - Thai lâm sàng: Siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi có hình ảnh túi thai, bao gồm cả các trường hợp thai ngoài tử cung. - Thai sinh hóa: Định lượng βhCG ngày thứ 14 sau chuyển phôi ≥ 5 mIU/mL và siêu âm đầu dò âm đạo sau 4 tuần chuyển phôi mà không có hình ảnh túi thai (không phát triển thành thai lâm sàng). 2.5. Phân tích và xử lý số liệu Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm SPSS 20.0 với các test: T-test, sử dụng đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic Curve) tìm điểm cut-off của giá trị βhCG trong tiên lượng kết quả có thai. Dùng chỉ số Youden (Youden index) J để xác định nồng độ βhCG nào có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất. Chỉ số J là trị số cao nhất của tổng độ nhạy và độ đặc hiệu trừ đi 1. J = max (Se+Sp -1) với Se (Sensitivity) là độ nhạy và Sp (specificity) là độ đặc hiệu. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Biểu đồ 1. Nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu Nguyên nhân vô sinh Tần số Tỷ lệ % Do vòi tử cung 450 36,6 Rối loạn phóng noãn 16 1,3 Tinh trùng bất thường 267 21,7 Lạc nội mạc tử cung 9 0,7 Tử cung bất thường 22 1,8 Do cả 2 vợ chồng 53 4,3 Nguyên nhân khác 22 1,8 Không rõ nguyên nhân 389 31,7 Tổng 1.228 100 Bảng 1. Nguyên nhân gây vô sinh ở đối tượng nghiên cứu Tình trạng Thai Nồng độ βhCG Số lượng X ± SD p Thai lâm sàng 1080 761,5 ± 706,33 0,001 Thai sinh hóa 148 161,02 ± 82,35 Bảng 2. So sánh nồng độ βhCG trung bình giữa thai lâm sàng và thai sinh hóa βhCG (mIU/mL) Giá trị chẩn đoán Độ nhạy % Độ đặc hiệu % Giá trị J 284,5 81,8 91,9 0,737 285,5 81,7 91,9 0,736 286,5 81,7 92,6 0,743 287,5 81,7 93,9 0,756 288,5 81,5 93,9 0,754 291 81,5 95,3 0,768 293,5 81,4 95,3 0,767 294,5 81,3 95,3 0,766 296 81,2 97,3 0,785 298 81,1 97,3 0,784 299,5 81,0 98,0 0,79 300,5 79,3 98,0 0,773 301,5 79,2 98,0 0,772 303 78,9 98,0 0,769 304,5 78,6 98,0 0,766 307 78,3 98,0 0,763 Bảng 3 .Giá trị tiên lượng của βhCG với thai lâm sàng TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 15(02), 158 - 162, 2017 161 Tập 15, số 02 Tháng 05-2017 Biểu đồ 2. Đường cong ROC của βhCG trong tiên lượng thai lâm sàng thống kê với p < 0,001 và khoảng tin cậy 95% CI (0,9-0,94). Điểm cut-off βhCG tiên lượng cho thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu 95%, J lớn nhất bằng 0,71. Diện tích dưới đường cong ROC (UAC = 0,893) trong tiên lượng thai sinh hóa mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 và khoảng tin cậy 95% CI (0,87-0,92). 4. Bàn luận Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu: 31,4 ± 4,6 tuổi, bệnh nhân tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 25 – 30 tuổi (chiếm 41,4%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu của Neeta Singh và cộng sự [3]. Đây cũng là nhóm đang βhCG (mIU/mL) Giá trị chẩn đoán Độ nhạy % Độ đặc hiệu % Giá trị J 109,5 76,0 93,1 0,691 111 76,5 93,1 0,696 112 76,2 93,5 0,697 114,5 76,0 94,1 0,701 115,5 76,0 95,0 0,71 116,5 75,7 95,0 0,707 117,5 75,2 95,0 0,702 118,5 74,1 94,5 0,686 120 73,4 94,5 0.679 Bảng 4. Giá trị tiên lượng của βhCG với thai sinh hóa Biểu đồ 3. Đường cong ROC của βhCG tiên lượng thai sinh hóa trong độ tuổi sinh đẻ, đồng thời là độ tuổi có nhu cầu và nguyện vọng sinh con cao nhất. Đối tượng có tuổi nhỏ nhất là 20 tuổi và lớn nhất là 52 tuổi. Độ tuổi có khá nhiều ảnh hưởng đến kết quả có thai ở đối tượng thụ tinh trong ống nghiệm, do có liên quan đến dự trữ buồng trứng, người ta nhận thấy tuổi càng cao thì dự trự buồng trứng càng giảm, đặc biệt sau tuổi 35. Trong xã hội hiện nay nhiều cặp vợ chồng kết hôn nhưng chưa sinh con ngay, do đó tuổi của đối tượng vô sinh có xu hướng tăng lên. Bên cạnh đó, nguyên nhân gây vô sinh cũng là yếu tố ảnh hưởng đến thành công hay thất bại của thụ tinh trong ống nghiệm. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy, nguyên nhân gây vô sinh ở đối tượng chủ yếu do vòi tử cung chiếm 36,6%, đây cũng là nguyên nhân vô sinh có tiên lượng tốt nhất trong thụ tinh ống nghiệm, kết quả này phù hợp với kết quả của Neeta Singh [3]. Tiếp theo là không rõ nguyên nhân chiếm 31,7%, bất thường về tinh trùng chiếm 21,7%. Các nguyên nhân gây vô sinh khác như: lạc nội mạc tử cung, rối loạn phóng noãn và tử cung bất thường chiếm tỷ lệ rất thấp. Giá trị của nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi đối với kết quả có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm. So sánh nồng độ βhCG trung bình giữa thai lâm sàng và thai sinh hóa: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ βhCG trung bình ở thai lâm sàng (761,5 mIU/mL) cao hơn thai sinh hóa (161,02 mIU/mL) có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Nghiên cứu của Neeta Singh và cộng sự (2013) hồi cứu trên 181 trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm từ 5/2009 – 11/2012, cho kết quả nồng độ βhCG trung bình (xét nghiệm ngày thứ 14 sau chuyển phôi) trong thai khả thi là 625 mIU/mL, trong thai không khả thi (bao gồm thai sinh hóa, sảy thai, thai ngoài tử cung, thai ngừng phát triển) là 174 mIU/mL [3]. Theo nghiên cứu của Maysa M. Khadra trong năm 2009 – 2011, hồi cứu 248 chu kì chuyển phôi dẫn đến có thai, cho kết quả nồng độ βhCG trung bình ngày 14 sau chuyển phôi ở thai khả thi là 264 mIU/mL, trong thai không khả thi là 120 mIU/mL [2]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả của Neeta Singh và cộng sự [3] và một số tác giả khác [2]. Nồng độ βhCG đại diện cho số lượng và chức năng của tế bào nuôi. Kết quả của chúng tôi chỉ ra rằng có sự khác biệt đáng kể về giá trị βhCG trung bình ngày thứ 14 sau chuyển phôi giữa thai lâm sàng và thai sinh TRẦN VĂN TÚ, NGUYỄN XUÂN HỢI 162 Tậ p 15 , s ố 02 Th án g 05 -2 01 7 P H Ụ K H O A – N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H hóa, giá trị βhCG trung bình cao hơn khi mang thai lâm sàng so với các trường hợp mang thai sinh hóa. Giá trị tiên lượng của nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tìm được điểm cut- off của nồng độ βhCG tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5 mIU/mL, với độ nhạy là 81% và độ đặc hiệu là 98%, AUC là 0,919, mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 và khoảng tin cậy 95% CI (0,9-0,94). Nghiên cứu của Neeta Singh và cộng sự (2013) trên 171 trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm cho kết quả: điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng cho thai trên 12 tuần là 347 mIU/mL với độ nhạy 72,2% và độ đặc hiệu 73,6%, diện tích dưới đường cong ROC là 0,79 [3]. Điểm cut-off nồng độ βhCG của chúng tôi cao hơn những kết quả được báo cáo bởi Bjercke và cộng sự (55 mIU/mL) [4]; và Poikkeus và cộng sự (76 mIU/ mL) [5], nhưng thấp hơn Singh và cộng sự (347 mIU/ mL) [3]; Eskandar và cộng sự (315 mIU/mL) [6]. Sự khác biệt của điểm cut-off giữa các nghiên cứu khác nhau có thể do 1 số lý do: số chu kì chuyển phôi trong mỗi nghiên cứu, tuổi phôi (phôi ngày 2, ngày 3 hay ngày 5), kỹ thuật và phương pháp định lượng βhCG, thời điểm định lượng βCG sau chuyển phôi (định lượng ngày 11, ngày 12, ngày 14 hay ngày 16)...Như vậy, rõ ràng điểm cut-off nồng độ βhCG có giá trị tốt trong tiên lượng kết cục thai nghén. Tuy nhiên, không có điểm cut-off nào có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 100%, do đó điểm cut-off của βhCG được xác định bởi đường cong ROC rất hữu ích nhưng không phải là chính xác tuyệt đối 100% trong tiên lượng kết cục thai kỳ. Điểm cut-off của nồng độ βhCG tiên lượng thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL, với độ nhạy 76% và độ 95%. Nghiên cứu của tác giả Mamdoh A. Eskandar (2011): theo dõi 261 chu kỳ ICSI/IVF có dương tính với test βhCG sau chuyển phôi tìm được điểm cut-off tiên lượng cho thai sinh hóa là 76,15 mIU/mL, với độ nhạy 93,33%, độ đặc hiệu 89,84% và diện tích dưới đường cong ROC là 0,919 [6]. Nghiên cứu của Xiao-yan Huang và cộng sự (2007) trên 384 trường hợp có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm được định lượng βhCG ngày thứ 11 sau chuyển phôi cho kết quả: nếu nồng độ βhCG từ 10 – 50 mIU/mL giá trị tiên đoán dương tính thai sinh hóa hoặc thai ngoài tử cung là 81,8%, giá trị tiên đoán âm tính là 94,4% [7]. Trong các chu kỳ thụ tinh ống nghiệm, các cặp vợ chồng thường rất căng thẳng, lo lắng về kết quả có thành công hay không. Khoảng thời gian từ lần thử thai đầu tiên đến khi siêu âm là khoảng 2 tuần, do vậy, xét nghiệm βhCG nhằm dự đoán kết cục thai kỳ rất có ý nghĩa trong việc tư vấn nhằm làm giảm lo lắng cho bệnh nhân và cả bác sỹ. Mỗi điểm cut-off βhCG trong các nghiên cứu là không hoàn toàn bằng nhau, nên mỗi trung tâm hỗ trợ sinh sản cần phân tích điểm cut-off 1 cách hợp lý, và tư vấn 1 cách linh động dựa trên kinh nghiệm của mình. Đồng thời cần phải theo dõi thường xuyên thai nghén bằng các xét nghiệm khác nữa. 5. Kết luận Qua nghiên cứu 1228 trường hợp có thai sau thụ tinh trong ống nghiệm tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia – Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, chúng tôi rút ra kết luận sau: - Nồng độ β-hCG trung bình của thai lâm sàng là 761,5 ± 706,33 mIU/mL và thai sinh hóa là 161,02 ± 82,35 mIU/mL. - Điểm cut-off nồng độ βhCG sau 14 ngày chuyển phôi tiên lượng cho thai lâm sàng là 299,5 mIU/mL, với độ nhạy là 81% và độ đặc hiệu là 98%; tiên lượng cho thai sinh hóa là 115,5 mIU/mL với độ nhạy 76% và độ đặc hiệu là 95%. - Nồng độ βhCG ngày 14 sau chuyển phôi rất có ý nghĩa trong việc tiên lượng, cũng như theo dõi kết cục thai nghén. Tài liệu tham khảo 1. B.Hédon, H.Déchoud, T.Anahogy, F.Arnal and C.Humeau. Assisted procreation. Infertility and contraception. A textbook for clinical practice. 1998. 2. Maysa M. Khadra, Mazen A. Freij, et al. Human chorionic gonadotropin cutoff value determined by receiver operating characteristic curve analysis is useful but not absolute for determining pregnancy outcomes. Middle East Fertility Society Journal. 2016; 21(2), 120-124. 3. Neeta Singh, Manu Goyal, et al. Predictive value of early serum beta-human chorionic gonadotrophin for the successful outcome in women undergoing in vitro fertilization. Journal of Human Reproductive Sciences. 2013; 6 (4), 245-247. 4. S. Bjercke, T. Tanbo, P.O. Dale, L. Morkrid, T. Abyholm. Human chorionic gonadotrophin concentrations in early pregnancy after in-vitro fertilization. Hum Reprod. 14 (1999), 1642–1646. 5. P. Poikkeus, V. Hiilesmaa, A. Tiitinen. Serum HCG 12 days after embryo transfer in predicting pregnancy outcome. Hum Reprod. 17 (2002), pp. 1901–1905. 6. Eskandar MA, Al-Shahrani M, Shaamash A, El-Emain M, Al-Ahmad M, Payodon B. Early Maternal Serum β-human Chorionic Gonadotropin Measurements After ICSI inthe Prediction of Long-term Pregnancy Outcomes. A Retrospective Cohort Analysis. J Clin Med Res. 2001; 3(1):30-5. 7. Xiao-yan Huang, Yuna Zang, Hai-qin YU. Serum beta hCG of 11 day after embryo transfer to predict pregnancy outcome. Journal of Reproduction and Contraception. 2007; 18(3):213-219
File đính kèm:
gia_tri_tien_luong_cua_hcg_sau_14_ngay_chuyen_phoi_doi_voi_k.pdf

